Cổ tích mẹ kể
Thế kỷ giáp ranh
![]() |
| Minh họa: Đặng Tiến |
Hồi xửa… Hồi xưa…
Đã lâu lắm rồi… khi mẹ còn là cái bong bóng trong cơn mưa rào. Là hương hoa nhài ngan ngát. Là giọt sương long lanh đậu trên dậu cúc tần…
Đó là vào những năm một ngàn tám trăm bao nhiêu ấy… Tại làng Vẻn thuộc tổng An Dương, có gia đình nọ, gồm một mẹ và ba cô con gái. Họ hay lam hay làm, sống bằng nghề trồng dâu nuôi tằm. Cái nghề đến là vất vả, chả thế mà đã có câu “Nuôi lợn ăn nằm, nuôi tằm ăn đứng”. Nghề này có từ thời bà Lê Chân lập ấp An Biên.
Cô Mai, cô Trúc, cô Cúc là ba cô con gái cụ tổng Cả bên Tiên Lãng với bà Tổng hai. Bà Tổng hai giận mình không sinh được con trai, nhưng cũng giận ông không minh bạch trong chuyện phòng the, để bà phần nào thua chị kém em. Bà giận đến mức dắt ba con gái ra Hải Phòng sinh sống, ngụ cư tại làng Vẻn này.
Ba cô mặt hoa da phấn, thắt đáy lưng ong. Với váy áo lụa sồi, nhuộm nâu, nhấn bùn, đổi vạt, nào có nhung the gì. Vậy mà, với nếp nhà gia giáo, thanh bạch, tất nhiên chuyện chồng con của các cô đắt như tôm tươi. Làng trên xóm dưới ối nhà đánh tiếng dạm hỏi. Bà Tổng ngẫm phận mình mà thương con, bà cho các cô toàn quyền lựa chọn.
Thế là cô Mai bằng lòng lấy một anh thợ mộc. Anh này người Nam Định, ra Hải Phòng nhập phường mộc, trọ sát ngay nhà bà Tổng. Anh là người cần cù chăm chỉ, chí thú làm ăn, từ việc đóng bàn ghế giường tủ cho đến đóng dăm cối anh cũng chẳng nề hà. Cô Mai được chồng hết mực yêu thương, cô đẻ liền ba năm đôi một trai, một gái… Đó là mẹ và cậu Định.
Cô Cúc được cụ Bá hộ trong làng đón về làm cháu dâu trưởng. Tam đại đồng đường này tọa lạc ngay giữa làng, có vườn dâu bát ngát. Khi trước những lúc tằm chín rộ, cụ Bá phải cho đắp thêm hai ba bếp, mướn thêm thợ. Những lúc như thế cô Cúc được mẹ cho sang giúp bên cụ Bá dăm bảy ngày. Ai cũng khen cô Cúc khéo tay, tơ cô kéo đều tăm tắp, đẹp nõn nà. Nhất là cụ Bá ưng cái nết ăn nết làm của cô, đến nỗi cụ, phải đánh tiếng, quyết xin cô về làm vợ cậu ấm Sự đích tôn nhà cụ bằng được. Cơ ngơi nhà cụ vào loại nhất nhì làng, mà cậu ấm Sự cũng có sứt mẻ gì – đẹp giai, con nhà giàu, ăn nói nho nhã có duyên, phải tội tông giống nhà cậu hơi kém đinh, cậu mồ côi bố sớm, không anh trên chị dưới. Nên cô Cúc đẻ một mạch bốn con, trai đầu ba gái sau, cố mãi… cố mãi mà không thêm được nữa. Ba gái giống mẹ đẹp như hoa. Đó là cậu Đại và ba dì: dì Chi, dì Phụ, dì Yểng, được cả nhà rất đỗi yêu thương.
Còn lại út ít là cô Trúc bé bỏng, được mẹ yêu, các chị cũng yêu, nên tính tình cô hơi nhõng nhẽo. May mà cô gặp được một thương lái tơ trên Từ Liêm, Tứ Tổng đất Hà thành. Anh thường mang cái cân tàu cán gỗ, bị cói xuống chợ Hàng ở Hải Phòng năm ngày một phiên, mua tơ, mua kén; anh cũng là khách quen của nhà cô. Bà Tổng không muốn con gái lấy chồng xa. “Dưng mà…” Cô đã một lòng khăn gói theo anh thương lái Hà thành. Cô thề rằng “kiếp này không lấy được nhau thì cô nhất định xuống tóc đi tu”, nhưng phải tu ở chùa Ngọc Sơn cho chóng thành chính quả… Cuối cùng thì đâu cũng vào đấy, cô thành bà lái tơ trên Tứ Tổng. Mà cô cũng đâu có chợ búa được là mấy. Cô bận đẻ, lít nhít năm con thơ dại, bận chăm sóc tối ngày. Cô cũng ít có dịp về thăm mẹ, thăm chị.
Cái ngày ấy nghề tằm tơ đang phát triển. Người buôn người bán dập dìu, bãi dâu xanh ngút mắt rộn tiếng người hái lá, chăm bón. Làng Vẻn của mẹ cũng như các làng ven đô khác, cần cù, chăm chỉ. Đất thì ít, người mỗi ngày một đông, họ tìm về nơi đô hội kiếm kế sinh nhai. Cảng Hải Phòng phát triển mở rộng, bến bãi rộn ràng, tàu to, tàu nhỏ hú còi cập bến ăn hàng. Sáu cái kho to ơi là to, dân bốc vác làm không hết việc.
Rồi phố xá rải nhựa, lát vỉa, làm đường, lấp sông, làm cầu làm cống thay dần cầu Rào, cầu Tre. Con sông Tam Bạc trong xanh cắt ngang thành phố. Hai bờ mượt cỏ, trên bến dưới thuyền, neo đậu san sát ghếch mũi hướng vào cửa hàng cửa hiệu của người Hoa, người Ấn, người Pháp. Rồi lấp sông phá cầu lập phố Cầu Đất, thẳng tới Nhà hát lớn, nhà băng, nhà giây thép. To nhất vẫn là nhà máy đèn, khu nhà hàng tám mái bến Bính, rồi chợ vật liệu sắt, thép, neo, nỉn… (xuất xứ chợ Sắt bây giờ). Góp cho bộ mặt đô thị thuộc địa trẻ là những biệt thự của người nước ngoài. Đủ màu đủ kiểu nở rộ như những bông lay-ơn, păng-xê rực rỡ trên thảm cỏ nội, hoa đồng.
Cô Tấm làng Vẻn
Làng Vẻn của mẹ như những làng ven đô khác, ruộng ít mà người một nhiều. Đầu tắt mặt tối nhưng đâu có mấy hạt thóc. Cụ Tổng hai mất, bà Cúc, bà Trúc đã yên bề gia thất, bà Mai bỏ hẳn nghề tằm tơ, đòn gánh vắt vai, ra chợ tảo tần sớm tối. Chợ mới lập, họp từ nửa đêm dưới ngọn đèn đường. Có lẽ vì thế mới có tên là chợ Cột Đèn.
Lên sáu tuổi, mẹ đã phải sang chú dì Sự ngồi quay sa kéo kén. Những người một bếp mà bỏ được hai mối tơ như dì Cúc cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Nòi ươm ở giữa gá guồng quay, mẹ một bên, tay dì gắp đều kén chắp vào hai mối tơ. Tơ dì bỏ mối đều tăm tắp, mỗi mối chỉ năm sáu kén. Đôi đũa trong tay dì như múa trong nồi ươm, kén nhấp nhô con lên con xuống phụ họa. Khi ấy mẹ mới lên sáu, mẹ lớn lên trong tiếng sa quay đều đều như ru ngủ. Mẹ gà gật lơ mơ và bừng tỉnh khi nhận một cái cốc vào đầu đau chí chết, mỗi khi trễ nhịp tay quay.
Lớn hơn một chút, khoảng mười hai mười ba, cơ thể chưa phát triển, mẹ gầy cao ngổng như cây sậy. Mẹ theo người làng đi phụ phu hồ. Cái váy sồi nhuốm bùn ngắn cũn cỡn, cũng khăn đen trùm kín mặt đội vữa đội cát. Công chỉ bằng một phần ba công người lớn. Nhưng cái thúng cạp song đựng đất cát đâu có bằng một phần ba người lớn, mẹ vẫn phải cứng cổ ra mà đội lưng lửng thúng. Có ai thương tình xúc vơi đi một chút, thì khi qua mặt ông đội ông cai, thế nào cũng bị quất một roi vào mông rơm rớm máu, kèm theo câu mắng “Đồ lười nhác – muốn đuổi hả … hả!”.
Được ba xu một ngày công, ăn sáng ăn trưa hết một xu, còn hai xu đem về. Ngày nào thu thẻ thì trả công ngày ấy. Công trình xây dựng nhà băng đá to nhất Đông Dương thời ấy, nằm tại bến Bính cho thuận tiện việc giao dịch thanh toán. Quanh nó là những biệt thự, công sở xây dựng theo thiết kế của người Pháp. Có cây to, tường sắt hoa, lối đi sân vườn và nơi để ô tô.
Cái công trình nhà băng ấy thu hút bao nhân lực, kéo dài năm năm, bảy năm. Có gia đình cả ông bà bố mẹ và con nít cũng làm ở đó, mỗi người một việc. Dân Thủy Nguyên kéo nhau lập làng lập ấp ven sông để đi làm cho tiện. Công trình chiếm một khoảng đất rộng, lúc nào cũng đông người làm. Phương tiện chuyên chở cơ giới ra vào tấp nập. Từng đoàn xe cam-nhông chở đầy đá Minh Đức nối đuôi nhau lên xuống phà. Thuyền chở cát đậu bến san sát, đội quân bốc vác nhộn nhịp nhất. Móng nhà nằm sâu như lòng ao, được đóng cọc chèn đá chắc chắn. Tường xây đá xanh dầy hai mét làm tầng hầm, tầng trên thu lại còn mét rưỡi rồi thu cao dần còn một mét. Toàn đá xanh chít mạch dựa theo pháo đài cổ của Pháp, công việc do đốc công người Pháp trực tiếp giám sát, cai thợ là người Việt ta. Mẹ làm được vài năm, thấy vất vả quá mà cậu Định đã nhớn nên nhà bắt mẹ nghỉ việc, cho cậu đi làm thay. Mẹ nhập hội chợ quê làm hàng xáo (đong thóc bán gạo) tiện thể buôn thêm buồng cau với vài chục tay trầu.
Hai cụ Bá hộ bên bà Cúc, năm trước năm sau theo nhau về hầu tiên tổ. Cơ ngơi nhất nhì làng Vẻn nay do vợ chồng bà Cúc quản lý. Cũng tại kém đinh nên ông bà có mỗi cậu Đại là con trai sau hai chị gái. Thôi thì cậu được chiều nhất mực, chỉ có cậu là được đi học. Lúc bé, cậu học thầy đồ trong làng, lớn chút thì cậu nghe bạn bè rủ rê nhất định đòi học chữ quốc ngữ cho nó oai. Cái sự học của cậu Đại cũng chỉ đến đọc thông viết thạo và bốn phép tính, cậu bảo thế cũng đủ chơi với đời rồi. Cậu ở nhà quán xuyến công việc tằm tơ, giao lưu với nhiều thương lái Đồ Sơn, Thủy Nguyên, với cả Hải Dương, Hà Nội… Cả chốn ăn chơi, từ làng quê đến thị thành, đâu đâu cậu cũng rành.
Trong nhà bà Cúc còn một người nữa cũng được yêu chiều không kém gì cậu Đại, đó là dì út Yểng. Bà Cúc thấy mình còn dư sức đẻ, lại vẫn khát con trai, bà đi lễ bái, cầu tự chùa xa đình gần. Sau một đêm, bà mơ thấy có người cho bà một con chim yểng biết hót tiếng người, bà thụ thai. Nhưng khi sinh hạ lại là một bé gái. Cái sinh linh bé nhỏ sau tiếng khóc lảnh lót chào đời, có đôi môi nhỏ đỏ như san hô chun lại như cái mỏ chim đòi ăn. Đôi mắt đen láy nhìn bà không rời. Sữa về, bà Cúc mê mẩn đắm đuối ôm lấy con cho bú, tình mẫu tử dạt dào theo dòng sữa. Bà đặt tên con là Mộng Yểng, con chim bé nhỏ bà yêu quý từ trong mơ, ông Bụt ông Tiên cho bà.
Bà Cúc tốt sữa nên dì Yểng nhớn nhanh như thổi, có sẵn thiên tư khác thường, mắt tròn sáng ướt long lanh, hàng mi cong rợp mắt, có giọng nói ríu ran như chim. Mẹ và các dì học lỏm, nằn nì cậu Đại dạy cho đủ biết ghép vần đọc được thế cũng quá tốt rồi. Riêng dì Yểng, cậu còn dạy cho viết chữ, chữ của dì còn đẹp ngay ngắn hơn chữ cậu. Dì lại còn làm được cả thơ nữa. Thể chất dì vốn yếu đuối, dì nhẹ như một cơn gió thổi, bao công việc các chị làm tất. Dì như con chim cảnh nhốt lồng son.
Cậu Đại yêu em gái lắm. Cậu cho dì Yểng đi chơi hội chợ, cho đến cả Văn Minh Ca quán nữa để được giao lưu cùng tầng lớp phụ nữ mới. Dì vấn tóc trần, áo dài cài cúc, đi hài nhung thêu hạt cườm. Giọng dì êm mượt, đọc thơ như rót vào lòng người. Không biết từ lúc nào, dì thân quen với một thầy ký làm ở nhà giây thép. Thày ký là đệ tử của trào lưu thơ mới thơ Tây trữ tình lãng mạn. Thầy nói tiếng Pháp như gió. Thầy thường tìm sách cho dì đọc, nào: “Đồi thông hai mộ”, “Cô gái ở lầu hoa”, “Lỡ bước sang ngang” rồi Tiểu thuyết thứ Bẩy không thiếu một số… Trong khi đó mẹ và hai chị của dì thuộc làu làu Phan Trần, Tống Trân Cúc Hoa, Nhị độ mai, nhất là truyện Thúy Kiều…
Nhà ông bà Sự có hàng chục mẫu ruộng vừa trồng dâu vừa cấy lúa. Ngày mùa, mẹ thường nghỉ chợ ở nhà cùng hai dì và mấy người làm thuê ra đồng cấy hái. Hai dì và mẹ là những cô gái giỏi giang, nết na đẹp nhất làng, tuy giỏi nghề tằm tơ nhưng việc đồng áng chẳng thua ai. Mẹ còn hát rất hay, mẹ thường cất tiếng hát vang vang từ thửa ruộng này sang thửa ruộng khác. Mọi người im lặng lắng nghe, đôi khi còn nhắc mẹ:
- Cô Tỉnh ơi! Làm đôi câu cho đỡ mệt nào.
Có lần mẹ cất giọng lẩy Kiều dưới ruộng, trên đường cái có một ông giầy tây khăn đóng che ô, dừng chân nghiêng đầu lắng nghe. Đang hát bỗng mẹ dừng lời, để khách bước đi dăm bước, mẹ lại cao giọng véo von điệu bồng mạc, sa mạc rồi chuyển ngâm sống mấy câu Bần Nữ Thán. Giọng ngâm mượt mà quấn quýt bước chân. Lữ khách không đành kẻ hát người đi, dùng dằng dăm bận cho đến khi các cô thôn nữ cười rộ lên, lữ khách đành dứt áo…
*
Trong những ngày mưa sụt sùi, ngồi bên cửa sổ, mẹ đeo kính khâu vá, khi thì cất giọng lẩy Kiều, khi lại ngân nga điệu bồng mạc, sa mạc du dương. Tôi nhổ tóc sâu cho mẹ, lắng nghe mẹ hát xen lẫn tiếng thở dài là chuyện cổ tích của mẹ tôi:
- Hồi xửa… Hồi xưa… Đã lâu lắm rồi…
Chuyện mẹ kể thì nhiều nhiều lắm. Tôi lựa đôi dòng viết ra đây, phác thảo một góc nhỏ bé của Hải Phòng thời bấy giờ cũng như những con người chân quê mộc mạc. Đó là cái làng Vẻn của cụ bà hai tổng Cả cùng ba cô con gái Mai, Cúc, Trúc thuộc cuối thiên niên kỷ trước Một ngàn tám trăm bao nhiêu ấy…
Tôi tin rằng sẽ có lúc rỗi rãi, hẳn mọi người cũng kể cho con cháu chắt, chút chít nghe những chuyện cổ tích của chính mình để “Tri ân dưỡng dục”.
Xóm Núi Đồ Sơn
Phạm Thùy Linh
Truyện ngắn của Đoàn Thị Tảo
