Dự án Quy hoạch khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016-2025, định hướng đến năm 2030

16/06/2017 10:46

Phần I

MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết xây dựng Quy hoạch

Hải Phòng là thành phố cảng biển, có vị trí địa lý kinh tế quan trọng, nằm trong cực tăng trưởng vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, thuận lợi về giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường biển.

Hiện nay, tỷ trọng ngành nông-lâm-thủy sản đóng góp vào GDP của thành phố không lớn (7,52%), nhưng sự phát triển của ngành vẫn giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, bảo đảm sự ổn định khu vực nông thôn với khoảng 53% dân số, sử dụng quỹ đất lớn nhất trên 84 nghìn ha, chiếm 54% diện tích tự nhiên.

Những năm qua, nông nghiệp Hải Phòng có bước phát triển khá, có sự chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá, bảo đảm an ninh lương thực, từng bước đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao giá trị gia tăng; tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất toàn ngành trong 5 năm (2010-2015) là 3,23%/năm. Cơ cấu giá trị sản xuất chuyển dịch đúng hướng theo mục tiêu đặt ra là: tăng thủy sản, giảm nông nghiệp và lâm nghiệp (năm 2000 cơ cấu nhóm ngành nông-lâm-thủy sản là 84,73% - 1,34% - 13,93%, đến năm 2015 cơ cấu tương ứng 64,57% - 0,26% - 35,15%).

Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp của thành phố vẫn là nền sản xuất nhỏ, quy mô ruộng đất manh mún, kỹ thuật chưa đồng bộ; quy hoạch thiếu ổn định; chưa thu hút được nhiều nguồn lực đầu tư vào nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (NNƯDCNC); chưa tạo ra được chuỗi giá trị hàng hóa, xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu cho sản phẩm nông sản sạch; ở nông thôn thiếu nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật để thuận tiện trong việc thực hành, vận dụng, đưa công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp; biến đổi khí hậu tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp truyền thống; tình trạng ô nhiễm tại các vùng sản xuất nông nghiệp ngày càng diễn biến phức tạp…

Ứng dụng công nghệ cao (CNC) là giải pháp chủ yếu, quan trọng mang tính đột phá, cùng với tổ chức lại sản xuất theo hướng tích tụ ruộng đất quy mô lớn là nội dung cốt lõi cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Vì vậy việc quy hoạch khu, vùng NNƯDCNC có tính cấp thiết, quan trọng.

Nội dung của phát triển NNƯDCNC rất rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực như: nghiên cứu và phát triển công nghệ sản xuất, ứng dụng vật liệu mới, công nghệ thông tin và công nghệ quản lý sản xuất vào các lĩnh vực sản xuất nông sản hàng hóa; đào tạo nguồn nhân lực CNC; ươm tạo công nghệ và doanh nghiệp CNC; xúc tiến thương mại CNC; phát triển dịch vụ NNƯDCNC, kể cả dịch vụ du lịch, tham quan, nghỉ dưỡng, vui chơi, giải trí trong các khu, vùng NNƯDCNC.

Việc xây dựng Quy hoạch khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016-2025, định hướng đến năm 2030 là cần thiết và cấp bách, nhằm thực hiện các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, triển khai hiệu quả cơ cấu lại ngành nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu thực tiễn hiện nay.

2. Mục tiêu

Xây dựng quy hoạch khu, vùng NNƯDCNC trên địa bàn thành phố giai đoạn 2016-2025, định hướng đến 2030 nhằm thực hiện định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững của thành phố; nâng cao sức cạnh tranh, giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp và hình thành mô hình sản xuất hiệu quả; từ nâng cao thu nhập của nông dân. Xây dựng khung cơ chế, chính sách, tổ chức quản lý sản xuất khu, vùng NNƯDCNC.

3. Phạm vi, thời kỳ quy hoạch

- Phạm vi quy hoạch: tại các huyện Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, An Lão, An Dương, Kiến Thụy, Thủy Nguyên và quận Dương Kinh.

- Thời kỳ lập quy hoạch: giai đoạn 2016-2025, định hướng đến năm 2030.

4. Nhiệm vụ của dự án quy hoạch

- Điều tra, thu thập các thông tin, số liệu có liên quan.

- Phân tích, đánh giá tình hình thực trạng sản xuất nông nghiệp có ứng dụng công nghệ cao theo mô hình tập trung, dự án đang triển khai trên địa bàn thành phố, bao gồm kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân.

- Phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng và nguồn lực để phát triển vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

- Xây dựng quan điểm, mục tiêu phát triển quy hoạch vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn thành phố giai đoạn 2016-2025, định hướng đến 2030. Đánh giá tác động của dự án quy hoạch và xác định nhu cầu vốn đầu tư cho quy hoạch.

- Xây dựng các chính sách và giải pháp thực hiện quy hoạch.

Phần II

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG QUY HOẠCH NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO

1. Căn cứ khoa học, lý luận

1.1. Một số khái niệm liên quan đến NNƯDCNC

a) Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

- Khái niệm: Là nền nông nghiệp được áp dụng những công nghệ mới vào sản xuất, bao gồm: công nghiệp hóa nông nghiệp (cơ giới hóa các khâu của quá trình sản xuất), tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học và các giống cây trồng, giống vật nuôi có năng suất và chất lượng cao, đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích và phát triển bền vững trên cơ sở canh tác hữu cơ (theo Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường - Bộ Nông nghiệp và PTNT).

- Nội dung phát triển NNƯDCNC: (i) Lựa chọn ứng dụng vào từng lĩnh vực sản xuất nông nghiệp hàng hoá những công nghệ tiến bộ nhất về giống cây, con; công nghệ canh tác; chăn nuôi tiên tiến; công nghệ tưới; công nghệ sau thu hoạch - bảo quản - chế biến. Từng bước ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, xây dựng thương hiệu và xúc tiến thị trường. (ii) Sản phẩm NNƯDCNC là sản phẩm hàng hoá mang tính đặc trưng của từng vùng sinh thái, đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao trên đơn vị diện tích, có khả năng cạnh tranh cao về chất lượng với các sản phẩm cùng loại trên thị trường trong nước và thế giới, có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất và sản lượng hàng hoá khi có yêu cầu của thị trường. (iii) Sản xuất NNƯDCNC tạo ra sản phẩm phải theo một chu trình khép kín, trong sản xuất khắc phục được những yếu tố rủi ro của tự nhiên và hạn chế rủi ro của thị trường.

b) Khu NNƯDCNC

Là khu công nghệ cao tập trung thực hiện hoạt động ứng dụng thành tựu nghiên cứu và phát triển công nghệ cao vào lĩnh vực nông nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ: chọn tạo, nhân giống cây trồng, giống vật nuôi cho năng suất, chất lượng cao; phòng, trừ dịch bệnh; trồng trọt, chăn nuôi đạt hiệu quả cao; tạo ra các loại vật tư, máy móc, thiết bị sử dụng trong nông nghiệp; bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp; phát triển doanh nghiệp NNƯDCNC và phát triển dịch vụ công nghệ cao phục vụ nông nghiệp.

Khu NNƯDCNC có 5 chức năng cơ bản là: (i) nghiên cứu ứng dụng; (ii) thử nghiệm; (iii) trình diễn công nghệ cao; (iv) đào tạo nguồn nhân lực; (v) sản xuất sản phẩm NNƯDCNC. Trong đó 3 chức năng: sản xuất, thử nghiệm, trình diễn mang tính phổ biến; 2 chức năng còn lại tùy đặc điểm của từng khu. Đặc trưng của sản xuất tại các khu NNƯDCNC: đạt năng suất cao kỷ lục và hiệu quả kinh tế rất cao.

c) Vùng NNƯDCNC: Là vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, ứng dụng thành tựu của nghiên cứu và phát triển CNC vào lĩnh vực nông nghiệp để thực hiện nhiệm vụ sản xuất một hoặc một vài nông sản hàng hóa và hàng hóa xuất khẩu chiến lược dựa trên các kết quả chọn tạo, nhân giống cây trồng, giống vật nuôi cho năng suất, chất lượng cao; phòng, trừ dịch bệnh; trồng trọt, chăn nuôi đạt hiệu quả cao; sử dụng các loại vật tư, máy móc, thiết bị hiện đại trong nông nghiệp; bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ CNC trong sản xuất nông nghiệp.

d) Doanh nghiệp NNƯDCNC: Là doanh nghiệp ứng dụng CNC trong sản xuất sản phẩm nông nghiệp, có chất lượng, năng suất, giá trị gia tăng cao.

1.2. Nội dung, tiêu chí xác định khu, vùng NNƯDCNC

a) Khu NNƯDCNC (quy định tại Điều 32 Luật Công nghệ cao)

- Các phân khu chức năng chủ yếu: khu trung tâm hành chính; khu nghiên cứu ứng dụng, thử nghiệm và trình diễn mô hình sản xuất NNƯDCNC; khu đào tạo, chuyển giao công nghệ, trình diễn và giới thiệu sản phẩm NNƯDCNC; khu đầu tư sản xuất sản phẩm NNƯDCNC; khu xử lý chất thải.

- Hoạt động của khu NNƯDCNC:

+ Hoạt động khoa học và công nghệ: tham gia nghiên cứu và phát triển CNC trong lĩnh vực nông nghiệp thuộc Danh mục CNC được ưu tiên đầu tư phát triển, thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điểm a, b, c, d, đ Khoản 1, Điều 16, Luật Công nghệ cao; nghiên cứu ứng dụng, thử nghiệm, trình diễn mô hình sản xuất sản phẩm NNƯDCNC; chuyển giao CNC trong lĩnh vực nông nghiệp.

+ Hoạt động đào tạo nhân lực CNC: đào tạo và huấn luyện công nhân, kỹ thuật viên, cán bộ quản lý về ứng dụng CNC trong nông nghiệp; phối hợp đào tạo cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ trong một số chuyên ngành về sinh học, nông nghiệp thuộc Danh mục CNC được ưu tiên đầu tư phát triển.

+ Hoạt động sản xuất, dịch vụ: Sản xuất sản phẩm NNƯDCNC; tổ chức hội chợ, triển lãm, trình diễn sản phẩm NNƯDCNC; thực hiện dịch vụ tư vấn CNC trong nông nghiệp; dịch vụ cung ứng vật tư, thiết bị và tiêu thụ sản phẩm; thực hiện dịch vụ dân sinh.

- Tham gia các hoạt động ươm tạo CNC lĩnh vực nông nghiệp, ươm tạo doanh nghiệp NNƯDCNC.

b) Vùng NNƯDCNC (theo Quyết định số 66/2015/QĐ-TTg)

- Tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm liên kết theo chuỗi giá trị; có tổ chức đầu mối của vùng là doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động trong vùng ký hợp đồng thực hiện liên kết theo chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp của vùng.

- Sản phẩm sản xuất trong vùng là sản phẩm hàng hóa có lợi thế của vùng, tập trung vào các nhóm sản phẩm sau:

+ Giống cây trồng, vật nuôi, giống thủy sản có năng suất, chất lượng cao và khả năng chống chịu vượt trội;

+ Sản phẩm nông lâm thủy sản có giá trị gia tăng và hiệu quả kinh tế cao; chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, khu vực hoặc quốc gia (Viet GAP).

- Công nghệ ứng dụng là các công nghệ tiên tiến, công nghệ sinh học trong chọn tạo, nhân giống và phòng trừ dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi; công nghệ thâm canh, siêu thâm canh, chế biến sâu nâng cao giá trị gia tăng; công nghệ tự động hóa, bán tự động; công nghệ thông tin, viễn thám, thân thiện môi trường. Công nghệ ứng dụng trên quy mô công nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất, gia tăng giá trị của sản phẩm và tăng năng suất lao động.

- Vùng NNƯDCNC là vùng chuyên canh, diện tích liền vùng, liền thửa trong địa giới hành chính một tỉnh, có điều kiện tự nhiên thích hợp, có cơ sở hạ tầng kỹ thuật tương đối hoàn chỉnh về giao thông, thủy lợi, điện, thuận lợi cho sản xuất hàng hóa, phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất nông nghiệp của ngành và địa phương.

- Đối tượng sản xuất và quy mô của vùng: Sản xuất hoa diện tích tối thiểu là 50 ha; sản xuất rau an toàn diện tích tối thiểu là 100 ha; sản xuất giống lúa diện tích tối thiểu là 100 ha; nhân giống và sản xuất nấm ăn, nấm dược liệu diện tích tối thiểu là 5 ha; cây ăn quả lâu năm diện tích tối thiểu là 300 ha; cây công nghiệp lâu năm (chè, cà phê, hồ tiêu) diện tích tối thiểu là 300 ha; sản xuất giống thủy sản diện tích tối thiểu là 20 ha; nuôi thủy sản thương phẩm diện tích tối thiểu là 200 ha; chăn nuôi bò sữa số lượng tối thiểu là 10.000 con/năm; bò thịt tối thiểu 20.000 con/năm; chăn nuôi lợn thịt số lượng tối thiểu là 40.000 con/năm; lợn giống (lợn nái) tối thiểu 2.000 con/năm; chăn nuôi gia cầm số lượng tối thiểu là 50.000 con/lứa.

1.3 Cơ sở thực tiễn

a) Tình hình phát triển NNƯDCNC trên thế giới

Khu CNC xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào năm 1939, đến đầu những năm 1980 có đến hơn 100 khu, phân bố trên các bang của Mỹ. Ở Anh, năm 1961 xây dựng khu khoa học công nghệ (vườn khoa học Jian Qiao) và đến năm 1988 có 38 vườn khoa học với sự tham gia của hơn 800 doanh nghiệp. Phần Lan năm 1996 có 9 khu khoa học nông nghiệp CNC. Từ những năm 1950, Israel tạo ra những sản phẩm nông nghiệp có giá trị trên 7 tỷ USD/năm ở vùng đất sa mạc hoá; Israel nâng năng suất cà chua đạt 400 tấn/ha/năm.

Tại khu vực châu Á, nông nghiệp CNC đã được các nước thuộc khu vực Đông Á và Đông Nam Á như: Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Thái Lan thực hiện… Tiêu biểu là tại Trung Quốc có 405 khu NNƯDCNC, các NNƯDCNC đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển nền nông nghiệp hiện đại. Năm 1978, Đài Loan đã sử dụng công nghệ nhà lưới chống côn trùng và biện pháp thuỷ canh trên giá đỡ là xốp, năng suất trên 300 tấn/ha/năm.

Trong nuôi trồng thủy sản, tại Israel, bằng kỹ thuật nuôi thâm canh, năng suất cá rô phi trong ao đạt 100 tấn/ha; nuôi trong hệ thống mương nổi đạt 500 - 1.000 tấn/ha; tại Nhật Bản năng suất cá nheo Mỹ nuôi thâm canh trong hệ thống mương nổi đạt 300 - 800 tấn/ha.

b) Tình hình phát triển NNƯDCNC ở Việt Nam

* Khu NNƯDCNC:

- Trên địa bàn cả nước, hiện tại có 6 khu NNƯDCNC đi vào hoạt động là: thành phố Hồ Chí Minh (nghiên cứu, sản xuất, đào tạo, chuyển giao, du lịch, sản xuất giống rau, hoa, cá kiểng); thành phố Hà Nội (nghiên cứu, sản xuất giống rau, hoa, đào tạo chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về giống, quy trình sản xuất); tỉnh Sơn La (nghiên cứu giống, sản xuất rau, hoa, quả); tỉnh Khánh Hòa (nghiên cứu, sản xuất, chuyển giao giống lúa, ngô, rau, hoa, mía, điều, xoài, heo, cá); tỉnh Phú Yên (nghiên cứu, sản xuất, đào tạo, chuyển giao giống mía, bông, cây ăn quả, gia súc, gia cầm); tỉnh Bình Dương (nghiên cứu, sản xuất, đào tạo, chuyển giao rau, quả, cây dược liệu).

- Đặc điểm của mô hình này là các địa phương quy hoạch thành khu tập trung với quy mô từ 60 - 400 ha tùy điều kiện quỹ đất của từng địa phương. Tiến hành thiết kế quy hoạch phân khu chức năng theo hướng liên hoàn từ nghiên cứu, sản xuất, chế biến, giới thiệu sản phẩm. Nhà nước đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng một cách đồng bộ: giao thông, điện nước, thông tin liên lạc, xử lý môi trường… đến từng phân khu chức năng, quy định các tiêu chuẩn công nghệ và loại sản phẩm được ưu tiên phát triển trong khu NNƯDCNC. Các tổ chức cá nhân thuộc các thành phần kinh tế được quyền đăng ký và đầu tư vào khu để phát triển sản phẩm. Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đầu tiên xây dựng khu NNƯDCNC theo mô hình đa chức năng, gắn nghiên cứu, trình diễn, chuyển giao công nghệ với việc tổ chức dịch vụ du lịch sinh thái đồng thời thu hút đầu tư của các doanh nghiệp.

- Thực hiện Quyết định số 176/QĐ-TTg ngày 29-1-2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án phát triển NNƯDCNC đến năm 2020, nhiều địa phương đã triển khai dự án quy hoạch chi tiết các khu NNƯDCNC như: Thái Nguyên, Quảng Ninh, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Ngãi, Ninh Thuận, Lâm Đồng. Các sản phẩm được lựa chọn để phát triển trong khu quy hoạch này là nhân giống các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao bằng công nghệ cấy mô thực vật, sản xuất giống cây trồng vật nuôi sạch bệnh, sản xuất rau hoa cao cấp, nấm dược liệu, vắcxin, quy trình công nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệp, chế biến nông sản…

- So với tiêu chí khu NNƯDCNC, các khu NNƯDCNC của Việt Nam (trừ khu NNƯDCNC ở thành phố Hồ Chí Minh) chưa đáp ứng được yêu cầu cả về nghiên cứu, ứng dụng và hiệu quả; nguyên nhân chủ yếu, do:

+ Chưa lựa chọn được mô hình khu NNƯDCNC phù hợp.

+ Việc triển khai xây dựng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là giải phóng mặt bằng và sự phối hợp thực hiện giữa các cơ quan liên quan.

+ Cơ chế, chính sách chưa thực sự thu hút đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

- Mới chỉ tập trung phát triển các mô hình trình diễn, chuyển giao, quảng bá thương hiệu cho doanh nghiệp, nên rất khó kêu gọi đầu tư, vì hạn chế về diện tích.

- Thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, công nghệ nhập khẩu không phù hợp hoặc lạc hậu.

* Vùng NNƯDCNC:

- Thành phố Hồ Chí Minh có trên l.000 ha, sản lượng đạt khoảng 30.000 tấn/năm, giá trị kinh tế đạt 120 - 150 triệu đồng/ha/vụ; hơn 700 ha trồng hoa - cây cảnh áp dụng CNC cho thu nhập 600 triệu đến 1.000 triệu đồng/ha/năm. Tại Lâm Đồng: diện tích NNƯDCNC có khoảng 50.000 ha, chiếm 17,7% diện tích đất nông nghiệp, giá trị sản xuất NNƯDCNC chiếm 30% giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh; năm 2016, bình quân giá trị sản xuất NNƯDCNC đạt 500 triệu đồng/ha/năm; giá trị sản xuất từ 1 tỷ đến 3 tỷ đồng/ha/năm có 700 ha; 95,9% số hộ trồng hoa sử dụng nhà màng, nhà lưới để canh tác hoa. Tại Bà Rịa-Vũng Tàu đã xây dựng nhiều mô hình sản xuất giống cây lâm nghiệp, chăn nuôi lợn giống, lợn siêu nạc, chăn nuôi gà theo công nghệ Nhật Bản.

- Ưu điểm: Vùng sản xuất NNƯDCNC là nơi áp dụng các kết quả nghiên cứu CNC trong sản xuất nông nghiệp trên một vùng chuyên canh với khối lượng hàng hóa lớn; tận dụng được các lợi thế về điều kiện tự nhiên và lao động tại vùng. Chỉ sử dụng một số công nghệ phù hợp với một số khâu canh tác nên chi phí đầu vào giảm, phù hợp với khả năng đầu tư của nông dân nên dễ triển khai vào thực tiễn sản xuất.

- Hạn chế: Do áp dụng công nghệ cao không đồng bộ nên chất lượng sản phẩm vẫn chưa đồng đều và cao. Khâu tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc vào các hợp đồng với các doanh nghiệp nên chưa ổn định.

Những kết quả sản xuất NNƯDCNC ở các địa phương khẳng định chủ trương phát triển NNƯDCNC là phù hợp với xu thế phát triển, phát huy và sử dụng hiệu quả cao hơn các nguồn lực, tạo nông sản hàng hóa chất lượng cao, an toàn, sạch bệnh, nâng cao sức cạnh tranh và từng bước chiếm lĩnh thị trường một cách bền vững.

c) Bài học kinh nghiệm về phát triển NNƯDCNC:

- Việc đầu tư vào NNƯDCNC đòi hỏi không chỉ về khoa học kỹ thuật, trình độ lao động mà còn yêu cầu về khả năng đầu tư, hiệu quả kinh tế, mô hình quản lý…

- Phát triển NNƯDCNC cần lựa chọn những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, đặc sản của địa phương, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

- Phát triển vùng sản xuất NNƯDCNC yêu cầu đầu tư hạ tầng: giao thông, thủy lợi, điện và giải pháp tiêu thụ sản phẩm.

- Sản phẩm NNƯDCNC đáp ứng được các yêu cầu quy chuẩn về sản xuất an toàn thực phẩm, xuất xứ hàng hóa.

- Quan tâm đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển NNƯDCNC.

- Hoàn thiện các quy trình kỹ thuật trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản theo tiêu chí NNƯDCNC.

- Có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực NNƯDCNC và kết nối với các hộ nông dân để sử dụng hiệu quả đất đai.

2. Căn cứ chính trị, pháp lý

- Các luật: Công nghệ cao năm 2008; Đất đai năm 2013;

- Các Nghị định của Chính phủ: số 92/2006/NĐ-CP ngày 7-9-2006 về việc lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội; số 04/2008/NĐ-CP ngày 11-1-2008 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 7-9-2006; số 210/2013/NĐ-CP ngày 19-12-2013 về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn;

- Các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: số 271/2006/QĐ-TTg ngày 27-11-2006 phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng đến năm 2020; số 1448/QĐ-TTg ngày 16-9-2009 phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Hải Phòng đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050; số 1895/QĐ-TTg ngày 17-12-2012 phê duyệt Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thuộc Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020; số 575/QĐ-TTg ngày 4-5-2015 phê duyệt Quy hoạch tổng thể khu và vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; số 66/2015/QĐ-TTg ngày 25-12-2015 quy định tiêu chí, thẩm quyền, trình tự, thủ tục công nhận vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao;

- Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 29-3-2013 của Chính phủ về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất năm 5 kỳ đầu 2011- 2015 thành phố Hải Phòng;

- Công văn 1927/TTg-KTN ngày 2-11-2016 của Thủ tướng Chính phủ về phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất cấp quốc gia;

- Công văn số 5181/VPCP-KTN ngày 27-6-2016 của Văn phòng Chính phủ về việc điều chỉnh quy hoạch và thành lập khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao;

- Công văn số 2930/BNN-KHCN ngày 10-4-2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc cho ý kiến dự thảo Báo cáo quy hoạch khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thành phố Hải Phòng;

- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ 15 và các Nghị quyết chuyên đề của Thành ủy;

- Kế hoạch số 72-KH/TU ngày 17/3/2014 của Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng triển khai thực hiện Kết luận số 72-KL/TW của Bộ Chính trị khóa 11 về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 32-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;

- Các nghị quyết của HĐND thành phố: số 04/2016/NQ-HĐND ngày 29-3-2016 về nhiệm vụ, giải pháp tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; số 10/2013/NQ-HĐND ngày 25-7-2013 và số 13/2016/NQ-HĐND ngày 22-8-2016 về một số cơ chế, chính sách hỗ trợ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020; số 151/2016/NQ-HĐND ngày 13-12-2016 về Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2017-2020;

Phần III

PHÂN TÍCH CÁC ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội

a) Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý: Hải Phòng là thành phố cảng, cửa chính ra biển của nước ta, là đầu mối giao thông quan trọng Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trên hai hành lang - một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam – Trung Quốc; là trung tâm kinh tế - khoa học - kỹ thuật tổng hợp của vùng Duyên hải Bắc Bộ và là một trong những trung tâm phát triển của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước. Tổng tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố là 152.742,74 ha, dân số 1,963 triệu người phân bổ trên 15 đơn vị hành chính (8 huyện và 7 quận).

Hải Phòng hội tụ đủ các loại hình giao thông: Đường biển, đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa, đường hàng không và có vị trí giao lưu thuận lợi với các tỉnh trong nước và quốc tế thông qua hệ thống giao thông quan trọng như: quốc lộ 5, quốc lộ 10, đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, Sân bay quốc tế Cát Bi, Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng,...

Với vị trí địa lý như trên, Hải Phòng có điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế - xã hội và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

- Khí hậu: Khí hậu Hải Phòng vừa mang đặc điểm chung khí hậu vùng đồng bằng miền Bắc, vừa có những đặc điểm riêng của vùng ven biển. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 230C; lượng mưa trung bình hàng năm 1.747 mm; độ ẩm tương đối trung bình hàng năm 82%. Điều kiện khí hậu có các yếu tố liên quan chặt chẽ đến phát triển NNƯDCNC.

- Tài nguyên đất: tổng diện tích đất tự nhiên của toàn thành phố là 152.742,74 ha, trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp trên 51.000 ha; đất phi nông nghiệp là 63.400 ha. Đất đai của Hải Phòng gồm một số loại chủ yếu như: đất mặn (bao gồm các loại: đất mặn sú vẹt đước; đất mặn nhiều; đất mặn trung bình và mặn ít), chiếm hơn 16%; đất phù sa các loại, chiếm khoảng 18%; đất phèn và phèn mặn, chiếm khoảng 20%; các loại đất khác: chiếm khoảng 46%. Tính chất đất và địa hình bằng phẳng thuận lợi để phát triển nhiều loại cấy trồng, vật nuôi và thủy sản.

Đánh giá chung: Về thuận lợi, Hải Phòng là thành phố lớn, ven biển, hội tụ đủ các điều kiện có lợi về vị trí địa lý, tài nguyên đất đai, nguồn nước,... cho việc phát triển các vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Thành phố có 125km bờ biển, hải đảo; có các ngư trường lớn: Nam Long Châu, Bạch Long Vỹ rất thuận lợi trong việc nuôi trồng, khai thác nhiều loại thủy sản, hải sản nước mặn, nước lợ có giá trị kinh tế cao.

Khó khăn: Đối với các vùng đồi núi địa hình bị chia cắt mạnh, đất đai nghèo dinh dưỡng nên khó khăn trong việc phát triển nông nghiệp.

b) Điều kiện kinh tế

Về quy mô nền kinh tế: Quy mô kinh tế của thành phố từng bước được mở rộng, tổng GDP theo giá hiện hành của Hải Phòng năm 2015 đạt 126.776,9 tỷ đồng, gấp 2,2 lần so với năm 2010. GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt 2.946 USD/người, tăng 1,86 lần.

Về tăng trưởng kinh tế: Tốc độ tăng trưởng chung của thành phố theo giá cố định 1994 đạt 9,0%/năm.

c) Điều kiện xã hội

- Năm 2015, tổng dân số của thành phố là 1,963 triệu người, trong đó dân số ở khu vực đô thị chiếm 46,73%. Tốc độ tăng dân số trung bình giai đoạn 2011-2015 là 1,11%/năm. Mật độ dân số bình quân toàn thành phố năm 2015 là 1.257 người/km2. Tuy nhiên, dân cư phân bố không đều, tập trung cao nhất là tại các quận. Chất lượng dân số của thành phố đang ngày càng được cải thiện. Chỉ số về thể lực như chiều cao, cân nặng, tuổi thọ trung bình có nhiều tiến bộ, tuổi thọ trung bình đạt 74,3 tuổi vào năm 2015. Chỉ số phát triển con người của Hải Phòng năm 2015 là 0,817.

- Giai đoạn 2011-2015, lao động được đào tạo ước đạt 255.235 lượt người, bình quân 51.047 lượt người/năm. Tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản giảm từ 41,8% năm 2005 xuống còn 30,6% năm 2010 và 26,0% vào năm 2015.

Đánh giá chung: Kinh tế phát triển ổn định và duy trì tốc độ tăng trưởng khá so với vùng và toàn quốc, quy mô kinh tế được mở rộng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại. Đô thị ngày càng được mở rộng, phát triển và có những chuyển biến rõ nét. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là kết cấu hạ tầng giao thông và đô thị được đầu tư, cải thiện, có đột phá.

Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố luôn cao hơn mức tăng trưởng bình quân chung của cả nước, nhưng chưa nhanh, bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng, vị trí, vai trò là “cực tăng trưởng” quan trọng của toàn vùng; sự lan tỏa và sức thu hút đối với sự phát triển trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ còn hạn chế. Nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp còn hạn chế, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Nguồn nhân lực có trình độ phục vụ cho phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao còn hạn chế; thị trường tiêu thụ nông sản thiếu ổn định.

2. Điều kiện phát triển của phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

a) Hệ thống tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm

Hiện nay, hệ thống tổ chức sản xuất nông nghiệp của thành phố gồm những thành phần sau:

- Kinh tế hộ:

Kinh tế hộ vẫn chiếm chủ đạo trong sản xuất nông nghiệp Hải Phòng. Năm 2015, thành phố có 307.500 hộ tham gia sản xuất nông nghiệp, trong đó, hộ thuần nông chiếm 55%; diện tích đất nông nghiệp bình quân hộ khoảng 1.600 m2. Bình quân thu nhập đầu người khu vực nông thôn tăng dần qua các năm, năm 2011 là 19,4 triệu đồng, năm 2015 là 30,8 triệu đồng.

Những khó khăn, hạn chế: Ruộng đất manh mún, sản xuất nhỏ lẻ, canh tác còn mang tính truyền thống, việc tiếp cận, ứng dụng khoa học kỹ thuật hạn chế. Chi phí đầu vào lớn trong khi việc tiếp cận các nguồn vốn vay, vốn hỗ trợ gặp nhiều khó khăn, thiếu vốn phục vụ sản xuất; lực lượng lao động trẻ còn thiếu.

- Kinh tế trang trại:

Hiện thành phố có 792 trang trại, trong đó trồng trọt có 3 trang trại, chăn nuôi có 568 trang trại; lâm nghiệp có 2 trang trại; thủy sản có 138 trang trại; tổng hợp có 81 trang trại. Tổng diện tích đất nông nghiệp của trang trại 2.603 ha (chiếm 3,2% tổng diện tích đất nông nghiệp thành phố). Số lao động thường xuyên làm việc ở các trang trại là 2.629 người, tổng vốn đầu tư bình quân của 1 trang trại là 307 triệu đồng. Phần lớn các trang trại đã thiết kế và xây dựng đáp ứng được nhu cầu sản xuất đặt ra, bảo đảm quy trình kỹ thuật sản xuất theo VietGap.

Những khó khăn: Công tác quy hoạch, quản lý đất đai, tích tụ ruộng đất chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa tập trung; thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa ổn định; sản xuất chưa gắn với chế biến, bảo quản; thuê đất để mở rộng sản xuất và tiếp cận vốn vay còn khó khăn; tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp.

- Kinh tế hợp tác:

Tổng diện tích đất sản xuất của các HTX là 26.593 ha, trong đó: đất giao khoán theo Nghị định số 64 là 25.643 ha; đất thuê thầu 949 ha. Tổng vốn điều lệ 41.071 triệu đồng; vốn góp 5.568 triệu đồng; tài sản cố định 134.833 triệu đồng. Tổng số lao động làm việc tại HTX là 6.060 người.

Tồn tại và hạn chế: hoạt động sản xuất-kinh doanh HTX kém hiệu quả, làm ăn thua lỗ. Vai trò cung ứng dịch vụ vào đầu ra của HTX còn hạn chế, nhất là khâu tiêu thụ sản phẩm cho nông dân.

- Doanh nghiệp:

Thành phố hiện có 166 doanh nghiệp nông nghiệp với tổng vốn sản xuất kinh doanh hàng năm khoảng 1.000 tỷ đồng, với 3.800 lao động, trung bình có 23 lao động/doanh nghiệp; doanh thu thuần trung bình đạt 2,1 tỷ đồng/doanh nghiệp/năm.

- Thị trường và liên kết trong tiêu thụ sản phẩm:

Sản phẩm nông nghiệp của thành phố cơ bản đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân thành phố, bước đầu một số sản phẩm thế mạnh như cải xanh các loại, bắp cải, bí đỏ, lợn sữa, gia cầm...được tiêu thụ tại tỉnh, thành phố lân cận. Năm 2014 giá trị xuất khẩu thủy sản 46 triệu USD, lâm sản 13,8 triệu USD, nông sản 8,3 triệu USD. Các mặt hàng chủ yếu là hải sản, thịt đông lạnh, gỗ… Giá trị xuất khẩu chiếm khoảng 5,65% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp. Thị trường xuất khẩu chủ yếu: Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, châu Âu… Việc khai thông mở rộng thị trường mới ở nước ngoài còn hạn chế, do ít có các hoạt động xúc tiến thương mại, hàng hóa xuất khẩu thô, năng lực cạnh tranh thấp.

Sự liên kết giữa doanh nghiệp và người dân trong xây dựng chuỗi sản xuất khép kín từ sản xuất, chế biến bảo quản, phân phối, tiêu thụ chưa chặt chẽ. Vai trò của doanh nghiệp chưa rõ nét. Đa phần người dân liên kết gián tiếp với các doanh nghiệp trong cung ứng vật tư thông qua 2 kênh chính: các đại lý, cửa hàng vật tư và các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp. Tuy vậy tỷ lệ nông sản tiêu thụ thông qua hợp đồng, liên kết thành chuỗi giá trị còn thấp, tình trạng tiêu thụ theo hợp đồng vẫn bấp bênh, tình trạng người sản sản xuất vẫn phải tự lo thị trường là chính.

b) Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong sản xuất, chế biến

Hải phòng có hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong sản xuất, chế biến khá phát triển, rất thuận lợi cho việc đầu tư các dự án nông nghiệp ứng dụng CNC.

- Hệ thống thủy lợi:

Toàn thành phố hiện có 6 hệ thống thủy lợi độc lập, trong đó 5 hệ thống trên đất liền và 1 hệ thống thủy lợi trên huyện đảo. Công trình thủy lợi gồm: 383 cống dưới đê; 709 trạm bơm điện tưới tiêu nước; 3.823 tuyến kênh chìm từ cấp 1 đến cấp 3, dài 4.044 km; 702 tuyến kênh nổi cấp 1 sau trạm bơm dài 1.296 km và hàng nghìn tuyến kênh nội đồng. Hệ thống thuỷ lợi thành phố cơ bản chủ động trong phòng, chống ngập úng; cấp nước cho sản xuất và đời sống; tiêu thoát nước và cải thiện môi trường sinh thái; phát triển giao thông thuỷ, du lịch và dịch vụ trên địa bàn thành phố.

- Hệ thống đường giao thông nông thôn, giao thông nội đồng:

Hiện 100% các tuyến đường huyện được rải nhựa, đạt tiêu chuẩn đường cấp 5 đồng bằng; có 570 km (92%) đường liên xã được rải nhựa, bê tông, tiêu chuẩn đường loại A. Đường giao thông nội đồng có 8.680 km, trong đó: đường trục chính nội đồng khoảng 2.600 km, đường nhánh nội đồng và đường bờ thửa 6.080 km. Hệ thống đường nội đồng có một phần đường trục chính đã được kiên cố hóa, các tuyến đường nhánh hầu hết đều là đường đất.

- Hệ thống đê điều:

Hải Phòng có 24 tuyến đê với tổng chiều dài 416,9 km; trong đó: đê biển dài 104 km, đê sông dài 312,9 km. Toàn hệ thống có 97 công trình kè dài 87,3 km và 383 cống dưới đê. Đối với đê biển: đến năm 2015, có 30 km đê biển được nâng cấp bảo đảm mức phòng, chống bão cấp 10, triều tần suất 5%. Các đoạn đê còn lại chưa được nâng cấp chỉ bảo đảm chống bão cấp 9, triều cường. Đối với đê sông: Hầu hết các tuyến đê sông đã bảo đảm cao trình chống lũ, bão ở mức nước thiết kế. Hiện còn 70,9km đê kém ổn định và xung yếu, chưa được nâng cấp có nguy cơ mất an toàn trong trường hợp có lũ.

Kè bảo vệ đê: Có 54,5 km kè ổn định bảo đảm an toàn (62%); 28,3 km kè kém ổn định chưa bảo đảm an toàn (32%); 4,5 km kè xung yếu có nguy cơ mất an toàn cao (6%). Cống: Có 176 cống bảo đảm an toàn (46%); 149 cống kém an toàn (40%); 58 cống xung yếu (14%).

- Mạng lưới điện nông thôn, thông tin truyền thông:

Hệ thống điện nông thôn bảo đảm cung cấp điện đến xã và các hộ. Đến nay, có 100% số xã dùng điện lưới quốc gia, đã có 133 xã (96,38%) đạt chuẩn tiêu chí nông thôn mới về điện. Mạng lưới bưu chính, viễn thông được phát triển đến các huyện, xã, thôn; hệ thống Internet được mở rộng về quy mô, tốc độ, chất lượng tốt, phủ khắp đến 100% số xã, thôn của thành phố. Các dịch vụ bưu chính, viễn thông từng bước góp phần phát triển sản xuất, nâng cao dân trí khu vực nông thôn.

- Mạng lưới chợ nông thôn:

Toàn thành phố có 140 chợ nông thôn, trong đó 52% số xã đã có chợ đạt chuẩn tiêu chí nông thôn mới.

- Hệ thống các cơ sở chế biến:

Chế biến rau, rau an toàn: Toàn thành phố có 4 cơ sở đầu tư xây dựng nhà sơ chế rau đủ tiêu chuẩn an toàn và trang bị máy tính nối mạng để theo dõi các thông tin khoa học kỹ thuật về rau an toàn và tìm kiếm thị trường tiêu thụ; 7 cơ sở chế biến chính như: Trung tâm Giống và Phát triển nông, lâm nghiệp công nghệ cao; Công ty TNHH Nuôi trồng và Chế biến thực phẩm Phú Cường. Các công ty thu mua trực tiếp của người dân sau đó chế biến và xuất khẩu

Giết mổ gia súc, gia cầm: Tổng số các điểm giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn thành phố là 786 điểm, trong đó 9 điểm giết mổ trâu bò; 481 điểm giết mổ lợn; 296 điểm giết mổ gia cầm. Phần lớn các điểm giết mổ này có quy mô nhỏ, thực hiện theo phương thức thủ công và đang trong tình trạng không có sự kiểm soát của cơ quan chức năng và có nguy cơ về mất vệ sinh, an toàn thực phẩm.

Cơ sở chế biến thủy sản: Công ty cổ phần Chế biến thuỷ sản xuất khẩu Hải Phòng, Tổng Công ty thủy sản Hạ Long, Công ty cổ phần Chế biến và Dịch vụ thuỷ sản Cát Hải (chế biến nước mắm các loại), Công ty cổ phần đồ hộp Hạ Long (sản xuất nhiều mặt hàng như đồ hộp cá, thịt; hàng đông lạnh các loại, sản phẩm ăn liền, bột cá gia súc, agar...). Các cơ sở ngoài quốc doanh có 8 cơ sở như: Công ty TNHH Việt Trường, Công ty TNHH Quang Hải (chế biến mắm các loại với công suất khoảng 1,5 triệu lít/năm), Công ty TNHH Nguyễn Hoàng (sản xuất nước mắm, bột cá với công suất 1 triệu lít nước mắm/năm và khoảng 100 tấn bột cá/năm), Công ty TNHH Hải Long (chế biến agar, các mặt hàng ăn liền; pha đấu nước mắm các loại)…

Sản xuất thức ăn chăn nuôi: Trên địa bàn thành phố có 12 doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất thức ăn chăn nuôi như: Công ty TNHH Thương mại VIC; Công ty Dehus, Công ty New Hope, Công ty cổ phần Proconco, Công ty Eath Hope, Công ty cổ phần Chương Dương; ..., với dây chuyền tự động và bán tự động.

c) Hệ thống quản lý nhà nước về kiểm định chất lượng sản phẩm nông nghiệp

Về tổ chức bộ máy

- Cấp thành phố:

+ Cơ quan chuyên môn làm công tác quản lý chất lượng nông, lâm, thủy sản: Chi cục Quản lý chất lượng nông, lâm sản và thủy sản trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

+ Các cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về vật tư nông nghiệp, sản xuất ban đầu nông lâm thủy sản trên địa bàn thành phố: Các Chi cục: Thú y, Bảo vệ thực vật, Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Thủy lợi; các phòng chuyên môn của Sở (Trồng trọt, Chăn nuôi, Nuôi trồng thủy sản và Thanh tra Sở).

- Cấp huyện: Các phòng Kinh tế quận, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện.

- Cấp xã: UBND cấp xã (xã, phường, thị trấn) được giao nhiệm vụ quản lý các cơ sở sản xuất ban đầu nhỏ lẻ trên địa bàn.

Về năng lực kiểm nghiệm, xét nghiệm

- Chi cục Thú y: có phòng kiểm nghiệm vi sinh được công nhận, phân tích các chỉ tiêu: hóa học 2 chỉ tiêu, vi sinh vật 25 chỉ tiêu.

- Chi cục Bảo vệ thực vật: 4 bộ test- kít thử nhanh dư lượng thuốc bảo vệ.

- Chi cục Quản lý chất lượng nông, lâm sản và thủy sản: có phòng kiểm nghiệm với một số thiết bị chuyên dùng, các test thử nhanh một số chỉ tiêu an toàn thực phẩm như hàn the, chloramphenicol, nhóm chất tạo nạc β agonist, axit vô cơ trong dấm ăn, phẩm màu kiềm... phục vụ công tác quản lý.

d) Nguồn lực về khoa học công nghệ

Để tăng cường năng lực và hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN), thành phố ban hành Chương trình KH&CN trọng điểm, trong đó có Chương trình Tăng cường tiềm lực KH&CN Hải Phòng đến năm 2020. Sau 3 năm triển khai chương trình, tiềm lực KH&CN thành phố có những bước phát triển rõ nét về số lượng và chất lượng. Đến nay, nhân lực KH&CN trong các trường đại học, cao đẳng, các tổ chức KH&CN có 4.900 cán bộ có trình độ đại học trở lên, trong đó có 248 người có trình độ tiến sĩ khoa học, tiến sĩ; 1.706 thạc sĩ (34,82%), 2946 đại học (60,12%).

Số lượng nhân lực có trình độ trên đại học tăng nhanh, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao. Nhân lực KH&CN có trình độ trên đại học đạt 1.954 người, chiếm 39,88%, vượt chỉ tiêu “nhân lực KH&CN trong các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu, tổ chức KH&CN trên địa bàn thành phố có trình độ trên đại học vào năm 2015 đạt 35%”. Các tổ chức KH&CN của thành phố bước đầu được củng cố và tăng cường tiềm lực, có bước phát triển cả về mặt số lượng và năng lực hoạt động. Hải Phòng hiện có 62 tổ chức có hoạt động KH&CN (trong đó có 8 đơn vị Trung ương đóng trên địa bàn thành phố) và 20 trường đại học, cao đẳng.

e) Các cơ chế chính sách của thành phố về phát triển NNƯDCNC

Thành phố đã ban hành một số chính sách nhằm thúc đẩy phát triển NNƯDCNC như: Nghị quyết 08-NQ/TU ngày 16-5-2013 của Thành ủy về phát triển KH&CN đến 2020, tầm nhìn 2030; Quyết định số 2242/QĐ-UBND ngày 21-12-2012 của UBND thành phố về việc phê duyệt Đề án đẩy mạnh cơ giới hoá phục vụ sản xuất nông nghiệp Hải Phòng đến năm 2015, định hướng năm 2020 đã tăng nhanh tỷ lệ cơ giới hóa ở các khâu sản xuất. Ngày 29-3-2016, HĐND thành phố ban hành Nghị quyết 04 về “nhiệm vụ, giải pháp tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020, định hướng đến năm 2030” nêu rõ “Thành phố có cơ chế hỗ trợ, cấp vốn để thu hồi đất, giải phóng mặt bằng cho doanh nghiệp thuê lại đất của nông dân thực hiện đầu tư sản xuất và tiêu thụ nông sản hoặc doanh nghiệp cùng nông dân tổ chức sản xuất theo mô hình cánh đồng mẫu lớn và thu mua, tiêu thụ sản phẩm để tạo ra các sản phẩm có chất lượng”. Tại Quyết định số 2587/QĐ-UBND ngày 27-10-2016 của UBND thành phố về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án nhiệm vụ, giải pháp tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, giá trị gia tăng và phát triển bền vững nêu các nội dung và cơ chế phát triển ứng dụng công nghệ mới, áp dụng cơ giới hóa và các quy trình kỹ thuật tiên tiến sản xuất các sản phẩm hàng hoá chủ lực đạt năng suất, chất lượng theo tiêu chuẩn VietGAP (Quy trình sản xuất nông nghiệp tốt), GlobalGAP (Quy trình thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu), HACCP (Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm).

UBND thành phố Hải Phòng phê duyệt các quy hoạch liên quan làm tiền đề phát triển NNƯDCNC như: Quy hoạch phát triển chăn nuôi (QĐ số 720/QĐ-UBND ngày 25-4-2013), Quy hoạch cơ sở giết mổ tập trung (QĐ số 372/QĐ-UBND ngày 9-3-2009), Quy hoạch đất lúa (QĐ số 2914/QĐ-UBND ngày 24-12-2014), Quy hoạch sản xuất rau an toàn (QĐ số 2070/QĐ-UBND ngày 26-11-2012), Quy hoạch phát triển thủy sản (QĐ số 538/QĐ-UBND ngày 1-4-2016); Kế hoạch số 4812/KH-UBND ngày 1-8-2012 của UBND thành phố về triển khai Đề án tăng cường năng lực quản lý chất lượng nông, lâm, thủy sản và muối trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2012 – 2015; Quyết định số 835/QĐ-UBND ngày 6-6-2012 của UBND thành phố về việc ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia An toàn thực phẩm giai đoạn 2011- 2015, tầm nhìn đến năm 2020; Triển khai Dự án (LIFSAP) chăn nuôi an toàn sinh học và Dự án (QSEAP) sản xuất rau an toàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2012-2015.

3. Điều kiện phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong một số lĩnh vực cụ thể

a) Lĩnh vực trồng trọt

- Trình độ cơ giới hóa trong sản xuất lúa: Khâu làm đất đạt 100%; khâu gặt đập liên hợp đạt 46,3%. Áp dụng công nghệ cao từ khâu cơ giới hóa hiệu quả cao hơn 15-20% so với truyền thống.

- Sản xuất rau, lúa an toàn theo hướng VietGAP: Sản xuất rau quy mô 51,5 ha, tập trung sản xuất rau ăn lá, ngô nếp tím, dưa lê thơm theo VietGAP; mô hình sản xuất rau an toàn trái vụ theo VietGAP, theo hướng hữu cơ; mô hình tổ chức sản xuất, giám sát chất lượng cộng đồng (PGS) và liên kết tiêu thụ rau an toàn... Ưu điểm: Giảm 80% ánh sáng trực tiếp đến rau; giảm rửa trôi, sâu bệnh; trồng trái vụ (quanh năm) được: rau cải ăn lá, su hào, cần tây, xà lách… lãi thuần tăng so với chính vụ 44,6 triệu đồng/ha; giảm > 70% chi phí chứng nhận chất lượng rau.

- Sản xuất cây trồng giá trị kinh tế cao trong nhà kính, nhà lưới: Diện tích khoảng 50.000 m2 nhà kính, nhà lưới áp dụng hệ thống tưới tiết kiệm (10.000 m2 nhà lưới đơn giản tại xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy; 6.000 m2 tại thôn Đồng Rồi, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy; 1.000 m2 tại phường Hợp Đức, quận Đồ Sơn; 380 m2 nhà lưới đơn giản tại phường Bắc Sơn, huyện An Dương; 500 m2 nhà lưới tại phường Hòa Nghĩa, quận Dương Kinh; 1.000 m2 nhà lưới hiện đại tại phường Lãm Hà, quận Kiến An, 2.000 m2 mô hình tưới tiết kiệm tại xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo). Kết quả chi phí đầu tư nhà lưới 45.000.000 đ/sào, trong nhà lưới có thể trồng được 4 vụ dưa Kim Hoàng Hậu hoặc dưa lê/năm, mật độ trồng như ngoài ruộng (600 cây/sào), cao gấp 20 lần so với sản xuất lúa. Ngoài ra trong nhà lưới nhà, nhà kính có thể sản xuất hoa cao cấp như hoa lan, hoa lily, hoa đồng tiền... có giá trị cao gấp 30-40 lần so với trồng lúa.

b) Lĩnh vực chăn nuôi

- Thành phố có 185 trang trại nuôi lợn thịt, 385 trang trại gà thịt và 103 trang trại gà đẻ. Có một số doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi như Công ty CP đầu tư vào các huyện như Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Thủy Nguyên; Công ty Jappha ComFeed, Công ty cổ phần DaBaCo, Công ty cổ phần Giống gia cầm Lượng Huệ... áp dụng công nghệ chăn nuôi tiên tiến trên thế giới, góp phần đem lại thu nhập lớn cho người chăn nuôi.

- Trong chăn nuôi các hộ dân và trang trại cơ bản không sử dụng hóa chất, kháng sinh cấm trong chăn nuôi. Người chăn nuôi đã có ý thức trong bảo vệ môi trường chăn nuôi, áp dụng công nghệ hầm Biogas trong xử lý chất thải chăn nuôi. Hiện đã cấp Giấy chứng nhận thực hành chăn nuôi an toàn theo VietGap cho 5 cơ sở chăn nuôi; 3 mô hình áp dụng VietGAP trong trang trại chăn nuôi được hỗ trợ chứng nhận.

- Dự án Lifsap Hải Phòng thiết lập và đưa vào hoạt động 78 nhóm GAHP (Quy trình thực hành chăn nuôi tốt) với 1.600 hộ tham gia trên địa bàn 40 xã tại 4 huyện (Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Kiến Thụy, An Dương); trong đó 1.241 hộ chăn nuôi được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn GAHP, 35 cơ sở giết mổ đạt điều kiện vệ sinh thú y, 29 chợ với 854 quầy đạt điều kiện vệ sinh thú y trong kinh doanh thịt.

Công ty cổ phần Giống gia cầm Lượng Huệ có 1 khu chăn nuôi gồm 4 trang trại (1.400 m2/trang trại) nuôi giữ 50.000 con giống gà ông, bà; trên 25 trang trại (cả trại nuôi vệ tinh) nuôi giữ 200.000 con gà bố mẹ. Hệ thống chuồng nuôi đều khép kín, có hệ thống điều tiết tiểu khí hậu chuồng nuôi. Về thị trường tiêu thụ: trong số 15 triệu con giống hàng năm, tiêu thụ tại Hải Phòng là 3 - 4 triệu con; tiêu thụ tại 44 tỉnh, thành là 10 – 11 triệu con, tiêu thụ sang Lào và Campuchia thông qua các doanh nghiệp là 1 triệu con.

Công ty TNHH Xăng dầu An Hòa dự kiến xây dựng 10 trại nuôi giữ 200 con lợn giống cụ kỵ (giống thuần Landrece, Yorshire, Duroc…), hàng năm sản xuất trên 2.000 con giống ông bà cung cấp cho sản xuất đại trà. Hệ thống chuồng trại sản xuất là hệ thống hiện đại, điều tiết tiểu khí hậu chuồng nuôi, máng ăn, máng uống tự độ.

c) Lĩnh vực thủy sản

- Đã ứng dụng công nghệ lập bản đồ gen, kỹ thuật di truyền trong nuôi thuỷ sản và quản lý nguồn lợi thủy sản (định danh loài, sự giống /khác biệt giữa các quần thể).

- Chú trọng trong việc xử lý nước trong ao nuôi và nước thải trước khi thải ra môi trường tự nhiên.

- Công nghệ nuôi thủy sản tuần hoàn tiết kiệm nước (Đây là công nghệ sử dụng một hệ thống các thiết bị lọc sinh học và vi khuẩn đặc biệt để xử lý nước thải sản sinh trong quá trình nuôi thủy sản, vì thế không ảnh hưởng đến môi trường). Chú trọng các công nghệ nuôi biển, hiện đại phù hợp với điều kiện khí hậu vùng biển Hải Phòng.

Đến nay có 12.000 m2 nuôi tôm công nghiệp trong nhà bạt; 20 mô hình, trong các lĩnh vực: nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy hải sản; các mô hình nuôi trồng theo VietGAP như: mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng theo VietGAP; mô hình nuôi cá rô phi theo hướng VietGAP, tạo sản phẩm sạch an toàn cho người sử dụng và người nuôi, không ngây ô nhiễm môi trường ... hiệu quả kinh tế tăng gấp 1,5 lần so với mô hình không áp dụng VietGAP. Hiện có 5 cơ sở được cấp giấy chứng nhận VietGAP: 2 cơ sở nuôi tôm chân trắng tại quận Dương Kinh và huyện Vĩnh Bảo, 3 cơ sở nuôi cá rô phi tại huyện Tiên Lãng, 34 cơ sở sản xuất giống thủy sản được kiểm tra, xếp loại đủ điều kiện an toàn thực phẩm trong sản xuất giống thủy sản.

Phần IV

QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ GIẢI PHÁP

1. Dự báo các yếu tố tác động đến quy hoạch khu, vùng NNƯDCNC

1.1. Dự báo thị trường tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nhu cầu và khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước

a) Dự báo thị trường trong nước

Hiện nay, thị trường trong nước tiêu thụ khoảng 70% lượng nông sản làm ra. Tuy nhiên, có sự khác biệt lớn về tỷ lệ tiêu thụ nội địa giữa các ngành hàng: những ngành đạt tỷ lệ tiêu dùng trong nước cao là ngô, đậu tương, bông, trứng, sữa 100%, đường gần 100%, sản phẩm chăn nuôi trên 95%, gạo 75 - 80%, rau quả 85%; những ngành có tỷ lệ tiêu thụ thấp ở thị trường nội địa là cà phê, hạt tiêu, hạt điều dưới 5%, cao su 15%, chè 30 - 35%. Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của thành phố chủ yếu phục vụ cho nhân dân thành phố và một số địa phương lân cận như: Hà Nội, Quảng Ninh.

Dự báo nhu cầu của một số nông sản:

- Rau các loại: Nhu cầu về rau ước khoảng 9 - 11 triệu tấn, riêng dân đô thị là 3 triệu tấn. Trong đó, sản phẩm rau quả chế biến, đóng hộp, đóng lọ và các loại rau quả thực phẩm tươi thái sẵn để nấu ăn sẽ được tiêu thụ ngày càng nhiều.

- Quả các loại: Dự báo mức tiêu thụ quả trong nước đến năm 2020 khoảng 10 triệu tấn (bình quân 100 kg/người/năm) và năm 2030 khoảng 14 triệu tấn (120 kg/người/năm). Trong đó, trái cây ngon, an toàn thường bán với giá cao, nhu cầu ngày càng lớn.

- Thịt và trứng gia cầm an toàn sinh học: Theo tính toán của các nhà hoạch định chiến lược quốc tế, tốc độ tăng tiêu thụ hàng năm của các nước đang phát triển từ nay đến năm 2020 về thịt lợn là 2,8%, thịt bò 2,8%, thịt gia cầm 3,1% và sữa 3,3%, trong khi tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người là 6,1%, vì vậy nhu cầu sản phẩm chăn nuôi tiếp tục tăng mạnh ở nước ta.

- Nấm: Được xếp như một loại thực phẩm cao cấp, xu thế tiêu dùng ngày càng tăng. Giá nấm thế giới liên tục tăng qua các năm (giá nấm rơm muối năm 2009 là 1.300 USD/tấn, năm 2010 là 1.800 USD/tấn và hiện đang mức trên 2.000 USD/tấn).

- Hoa: Thị trường hoa nước ta tuy phát triển đáng kể trong những năm qua nhưng vẫn là thị trường “non trẻ”. Hoa cắt cành được sử dụng nhiều cho các mục đích thờ cúng, lễ hội, tiếp tân và giao lưu. Hầu hết hoa sản xuất ra được tiêu dùng chủ yếu trong nước.

b) Thị trường xuất khẩu

- Hoa: Là sản phẩm có thế mạnh, thế nhưng xuất khẩu hoa mới chỉ đạt 50 triệu USD/năm. Nguyên nhân chủ yếu là do không bảo đảm được các điều kiện về nhà kính, cơ sở hạ tầng, quá trình đóng gói, xử lý sản phẩm sau thu hoạch,... Công nghệ nhân giống, canh tác và bảo quản chưa tốt khiến mẫu mã chưa đẹp, hoa không để tươi lâu được để vận chuyển đi thị trường xa.

- Về thịt: Những năm qua, Việt Nam là nguồn cung thịt lợn hơi cho Trung Quốc mỗi khi thị trường này thiếu nguồn cung trong nước. Tuy nhiên, lượng thịt Việt Nam xuất sang Trung Quốc chủ yếu là lợn hơi và đi theo đường tiểu ngạch, số lượng không ổn định. Còn xuất theo chính ngạch, Việt Nam xuất khẩu chủ yếu là lợn sữa, ít khi xuất khẩu lợn thịt, hay thịt gà đông lạnh. Theo Tổng cục Hải quan, năm 2014, kim ngạch xuất khẩu thịt của Việt Nam chưa đến 21 triệu đô la Mỹ.

- Thủy sản: Đến nay, thủy sản của Việt Nam xuất khẩu tới 161 thị trường. Thông qua các hiệp định thương mại đã được ký, thủy sản Việt Nam có lợi thế về thuế quan, nhưng sẽ là đối tượng để các thị trường áp dụng các rào cản phi thuế quan nhằm bảo hộ ngành sản xuất trong nước. Ngoài ra, một trong những thách thức đối với thủy sản Việt Nam là vấn đề thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp hay các quy định kiểm tra hóa chất, kháng sinh hay chương trình thanh tra riêng biệt (như thanh tra cá da trơn của Mỹ đang và sẽ được tăng cường). Các mặt hàng thủy sản, đặc biệt là con tôm sẽ chịu sự cạnh tranh với các nước có cùng mặt hàng xuất khẩu tôm trong khu vực và Nam Mỹ…

1.2. Dự báo thương mại hóa CNC ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp

Công nghệ và chuyển giao công nghệ trên thế giới đã trở thành một ngành dịch vụ quan trọng, thu lợi nhuận cao.

CNC ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam thường tiếp nhận qua một số kênh như hợp tác chuyển giao khoa học công nghệ, kết quả nghiên cứu của các đề tài cấp nhà nước, cấp bộ - cấp địa phương; sau năm 2000 xuất hiện các công ty trong nước, ngoài nước hoặc các nhà khoa học có giải pháp công nghệ mới được Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ cấp giấy chứng nhận bảo hộ độc quyền.

Thực tế ở nước ta hiện nay, công nghệ nhân một số giống lúa lai được thương mại hóa; dây chuyền công nghệ tưới tiết kiệm nước của Israel; CNC nuôi bò sữa của Israel chuyển giao cho Công ty cổ phần sữa TH True Milk; dây chuyền thiết bị CNC nuôi gà bằng chuồng lạnh của Cộng hòa Liên bang Đức; công nghệ và dây chuyền thiết bị công nghệ trồng hoa trong nhà kính của Hà Lan sử dụng ở Công ty Dalat Hasfarm, Bonnic Farm, Apolo; công nghệ nuôi cá nước lạnh do Viện Nuôi trồng thủy sản 1 chuyển giao cho các công ty ở Đà Lạt, Sa Pa,…

1.3. Dự báo các công nghệ trong nước và quốc tế đáp ứng mục tiêu phát triển cho vùng NNƯDCNC tại Hải Phòng

Ứng dụng CNC trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm áp dụng từ nhiều thập niên qua, với lộ trình thực hiện một cách bài bản và thật sự hiệu quả. Sản xuất nông nghiệp theo hướng CNC nhiều nước đã đạt tầm: có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; tích hợp được những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới, và làm hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ.

Kỹ thuật và công nghệ áp dụng là kỹ thuật công nghệ tiên tiến (gọi chung là công nghệ cao) trong sản xuất nông nghiệp, như công nghệ trồng cây trong nhà lưới, nhà kính, công nghệ trồng cây trong dung dịch (thủy canh) đối với các loại rau và hoa, phương pháp trồng cây trên giá thể đối với các loại rau và hoa, công nghệ về nhân giống cây trồng đối với cây ăn quả đặc sản,... tạo ra những sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao.

Một số công nghệ trong nước và quốc tế có thể áp dụng trên địa bàn thành phố:

- Công nghệ sinh học: lai xa, nuôi cấy mô tế bào,… Công nghệ sinh học hiện đại gồm công nghệ di truyền, công nghệ tế bào, công nghệ vi sinh vật/công nghệ lên men, công nghệ enzym và công nghệ sinh học môi trường.

Trải qua hơn 30 năm phát triển, theo đánh giá của các chuyên gia quốc tế, trình độ khoa học vi nhân giống của nước ta có thể theo kịp với trình độ thế giới. Nhiều nghiên cứu về nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào đã đưa ra sản xuất thành công ở nhiều loại cây trồng như: dứa, mía, chuối, cây lâm nghiệp, giống rau.

Ngày nay, việc ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp được coi là giải pháp đột phá xây dựng nền nông nghiệp nước ta phát triển toàn diện theo hướng hiện đại.

Thành phố có thể áp dụng những công nghệ nuôi cấy mô, phương pháp nhân giống cây trồng,.. áp dụng trong các khu nông nghiệp CNC để tự sản xuất ra những giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng tốt phục vụ nhu cầu giống tốt của thành phố.

Sử dụng các biện pháp tiên tiến trong canh tác và các công nghệ nhà lưới, nhà kính; công nghệ làm đất; công nghệ tưới; công nghệ sau thu hoạch; công nghệ chế biến, bảo quản.

2. Quan điểm quy hoạch

- Khai thác lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên, nguồn lực và kinh tế, xã hội của từng vùng sinh thái để phát triển ứng dụng CNC trong nông nghiệp, thủy sản góp phần thực hiện các mục tiêu cơ cấu lại ngành nông nghiệp của từng vùng và sản xuất theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

- Phát triển NNƯDCNC phải gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, phù hợp với chủ trương, chiến lược phát triển nông nghiệp của thành phố; bảo đảm đầu tư đồng bộ.

- Khu NNƯDCNC là hạt nhân công nghệ để nhân rộng ra các vùng sản xuất NNƯDCNC.

- Xã hội hóa tối đa đầu tư xây dựng các khu và vùng NNƯDCNC; huy động sự tham gia của các thành phần kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp và các tổ chức khoa học công nghệ, thu hút các nguồn đầu tư nước ngoài. Tạo mối liên kết sản xuất, gắn với quy hoạch cánh đồng lớn và xây dựng nông thôn mới.

3. Mục tiêu

3.1. Mục tiêu chung

Quy hoạch khu và vùng NNƯDCNC nhằm xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao nhằm thực hiệu quả Đề án tái cơ cấu ngành theo hướng hiện đại, tiếp cận với trình độ trong khu vực và trên thế giới.

Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, HTX, trang trại, hộ nông dân tổ chức sản xuất sản phẩm nông nghiệp hàng hóa ứng dụng CNC, phát triển theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái hiện đại, sản xuất xanh, bảo vệ môi trường gắn với du lịch cộng đồng và thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

3.2. Mục tiêu cụ thể

Từ nay đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, quy hoạch 5.870 ha khu và vùng NNƯDCNC trên địa bàn 6 huyện: Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, An Lão, An Dương, Kiến Thụy, Thủy Nguyên và quận Dương Kinh, trong đó: 3 khu NNƯDCNC 590 ha (1 khu cấp quốc gia 200 ha; 3 khu cấp thành phố 390 ha), 42 vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao 5.280 ha.

Giá trị sản lượng (giá cố định 2010) năm định hình quy hoạch (năm 2025) đạt khoảng 10,45 nghìn tỷ đồng, giá trị gia tăng đạt 3,52 nghìn tỷ đồng.

4. Nội dung quy hoạch

4.1.Quy hoạch khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016-2025, định hướng đến năm 2030

a) Tổng diện tích đất quy hoạch: 5.870 ha;

b) Trên địa bàn các huyện: Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, An Lão, An Dương, Kiến Thụy, Thủy Nguyên và quận Dương Kinh;

c) 3 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tổng diện tích 590 ha:

- 1 khu cấp quốc gia, diện tích 200 ha (theo Quyết định số 575/QĐ-TTg ngày 4-5-2015 của Thủ tướng Chính phủ);

- 2 khu cấp thành phố diện tích 390 ha (trên cơ sở Văn bản số 5181/VPCP-KTN ngày 27-6-2016 của Văn phòng Chính phủ).

d) 42 vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tổng diện tích 5.280 ha.

e) Sản phẩm nông nghiệp chủ lực tại khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, gồm:

- Rau: các loại rau ăn lá, rau ăn quả, rau ăn củ (cà chua, khoai tây, dưa chuột, cải bắp, ớt ngọt và các loại rau cao cấp khác).

- Thủy sản: tôm thẻ chân trắng, tôm sú; cá rô phi, cá vược và các loại thủy sản khác có giá trị cao.

- Hoa: Lay ơn, Lily, hồng, cúc vạn thọ, thược dược, hoa lan...

- Chăn nuôi: gà lông màu, lợn thịt, bò thịt, lợn giống, bò giống...

4.2. Phân kỳ quy hoạch

a) Giai đoạn từ năm 2017-2025, tổng diện tích 4.350 ha:

* Thời kỳ 2017 - 2020, tổng diện tích 2.445 ha:

- Quy hoạch 2 khu NNƯDCNC cấp thành phố:

+ Khu sản xuất rau ứng dụng CNC tại 2 xã Tân Liên và Tam Đa, huyện Vĩnh Bảo; diện tích 250 ha.

- Khu nuôi trồng thủy sản ứng dụng CNC tại 2 xã Đông Hưng và Tây Hưng, huyện Tiên Lãng; diện tích 140 ha.

- Quy hoạch 17 vùng NNƯDCNC, tổng diện tích 2.055 ha:

+ 4 vùng sản xuất rau ứng dụng CNC, diện tích 800 ha tại các huyện: Vĩnh Bảo 250 ha, Tiên Lãng 150 ha, An Dương 150 ha, Kiến Thụy 190 ha, Thủy Nguyên 100 ha.

+ 4 vùng nuôi trồng thủy sản ứng dụng CNC, diện tích 760 ha, tại các huyện: Vĩnh Bảo 200 ha, Kiến Thụy 100 ha, Thủy Nguyên 40 ha và quận Dương Kinh 520 ha.

+ 5 vùng chăn nuôi ứng dụng CNC, diện tích 195 ha, tại các huyện: Vĩnh Bảo 25 ha, An Dương 20 ha, Kiến Thụy 100 ha, Thủy Nguyên 50 ha (2 vùng chăn nuôi lợn thịt gắn với giết mổ tại các huyện Kiến Thụy và Thủy Nguyên; 2 vùng chăn nuôi gia cầm gắn với giết mổ tại các huyện An Dương và Thủy Nguyên; 1 vùng chăn nuôi bò thịt gắn với giết mổ tại huyện Vĩnh Bảo).

+ 3 vùng sản xuất hoa ứng dụng CNC tại 3 huyện: Vĩnh Bảo 70 ha, An Dương 80 ha, Thủy Nguyên 50 ha.

* Thời kỳ từ năm 2021-2025, tổng diện tích 1.905 ha, đầu tư 16 vùng NNƯDCNC:

- 6 vùng sản xuất rau ứng dụng CNC, diện tích 920 ha, tại các huyện: Vĩnh Bảo 320 ha, Tiên Lãng 100 ha, An Dương 100 ha, Kiến Thụy 300 ha (2 vùng), Thủy Nguyên 100 ha.

- 4 vùng nuôi trồng thủy sản ứng dụng CNC, diện tích 610 ha, tại các huyện: Vĩnh Bảo 200 ha, An Lão 100 ha, Kiến Thụy 150 ha. Tiên Lãng 160 ha.

- 3 vùng chăn nuôi lợn thịt gắn với giết mổ, diện tích 165 ha, tại các huyện: Vĩnh Bảo 35 ha, Tiên Lãng 30 ha, Kiến Thụy 100 ha.

- 3 vùng sản xuất hoa ứng dụng CNC, diện tích 210 ha, tại các huyện Vĩnh Bảo 50 ha, An Dương 160 ha (2 vùng).

b) Giai đoạn từ năm 2026-2030, tổng diện tích 1.520 ha:

- Quy hoạch 1 khu NNƯDCNC cấp quốc gia tại 2 xã Chiến Thắng và Mỹ Đức, huyện An Lão; diện tích 200 ha.

- Quy hoạch 9 vùng NNƯDCNC, diện tích 1.320 ha:

+ 3 vùng sản xuất rau ứng dụng CNC, diện tích 480 ha, tại các huyện: Vĩnh Bảo 180 ha, Tiên Lãng 300 ha (2 vùng).

+ 3 vùng nuôi trồng thủy sản ứng dụng CNC, diện tích 750 ha, tại các huyện: Vĩnh Bảo 200 ha, Tiên Lãng 550 ha (2 vùng).

+ 3 vùng chăn nuôi gắn với giết mổ ứng dụng CNC, diện tích 90 ha, tại các huyện: Thủy Nguyên 70 ha (2 vùng), Vĩnh Bảo 20 ha.

5. Danh mục các dự án ưu tiên đầu tư

5.1. Giai đoạn 2017-2025

- Đầu tư 2 dự án khu NNƯDCNC cấp thành phố:

+ Khu sản xuất rau ứng dụng CNC 210 ha tại 2 xã Tân Liên, Tam Đa huyện Vĩnh Bảo (tổng diện tích quy hoạch 250 ha, đã có 40 ha được đầu tư).

+ Khu nuôi trồng thủy sản ứng dụng CNC 140 ha tại 2 xã Đông Hưng, Tây Hưng, huyện Tiên Lãng.

- Đầu tư 8 dự án vùng NNƯDCNC:

+ 2 vùng sản xuất rau ứng dụng CNC 290 ha tại các huyện: Tiên Lãng 100 ha, Kiến Thụy 190 ha.

- 3 vùng nuôi trồng thủy sản ứng dụng CNC 360 ha tại các huyện: Vĩnh Bảo 100 ha, Thủy Nguyên 40 ha, quận Dương Kinh 220 ha.

- 3 vùng sản xuất hoa ứng dụng CNC 200 ha tại các huyện: Vĩnh Bảo 70 ha, An Dương 80 ha, Thủy Nguyên 50 ha.

5.2. Giai đoạn 2026-2030

- Khu sản xuất rau ứng dụng CNC cấp quốc gia 200 ha tại 2 xã Chiến Thắng và Mỹ Đức, huyện An Lão.

- 2 vùng sản xuất rau ứng dụng công nghệ cao 380 ha tại các huyện: Vĩnh Bảo 180 ha, Tiên Lãng 200 ha.

- 3 vùng nuôi trồng thủy sản ứng dụng công nghệ cao 750 ha tại các huyện: Vĩnh Bảo 200 ha, Tiên Lãng 550 ha (2 vùng).

6. Các giải pháp

6.1. Giải pháp về quy hoạch, sử dụng đất đai

- Các địa phương có trong quy hoạch: Bố trí và dành quỹ đất cho xây dựng khu NNƯDCNC theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 5 Điều 33 Luật Công nghệ cao và đưa vào kế hoạch sử dụng đất theo quy định.

- Xây dựng quy hoạch chi tiết khu và vùng NNƯDCNC, phát huy lợi thế sản phẩm truyền thống đặc trưng địa phương, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất.

- Tổ chức dồn điền đổi thửa, kết hợp với thu hồi đất nông nghiệp theo nguyên tắc tự nguyện trả lại ruộng đất của người dân trong phạm vi quy hoạch; rà soát, chuyển đổi mục đích sử dụng diện tích đất lúa kém hiệu quả để triển khai xây dựng các khu và vùng NNƯDCNC theo quy định, đặc biệt là các vùng ven các khu đô thị, nơi có điều kiện thuận lợi về giao thông, đất đai và thổ nhưỡng.

6.2. Giải pháp huy động và sử dụng nguồn lực đầu tư xây dựng khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

- Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư thực hiện quy hoạch, xây dựng khu và vùng NNƯDCNC.

- Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khu NNƯDCNC theo quy định tại Khoản 3 Điều 33 Luật Công nghệ cao; hỗ trợ xây dựng hạ tầng vùng NNƯDCNC theo quy định tại Quyết định số 1895/QĐ-TTg ngày 17-12-2012 của Thủ tướng Chính phủ; khuyến khích xã hội hóa và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ sở nghiên cứu ứng dụng, đào tạo, sản xuất, dịch vụ trong khu NNƯDCNC và đầu tư sản xuất, hoạt động dịch vụ trong vùng NNƯDCNC.

- Các nguồn vốn khác theo quy định.

6.3. Giải pháp nhân lực và sử dụng nguồn nhân lực

- Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và vùng NNƯDCNC; đào tạo, bồi dưỡng cho người dân tiếp cận và sử dụng các loại máy móc, thiết bị trong sản xuất, bảo quản, sơ chế sản phẩm và chế biến nông sản. Tăng cường phát triển hệ thống công nghệ thông tin, giúp người dân nắm bắt được các chính sách của Đảng và nhà nước, những tiến bộ khoa học và công nghệ mới có khả năng ứng dụng cao.

- Thực hiện chính sách thu hút và sử dụng nguồn nhân lực CNC theo quy định tại Điều 29 Luật Công nghệ cao.

6.4. Áp dụng cơ chế, chính sách của Nhà nước

- Thực hiện ưu đãi về đất đai theo quy định tại Khoản 2 Điều 33 Luật Công nghệ cao và các văn bản quy định của pháp luật về đất đai.

- Doanh nghiệp hoạt động trong NNƯDCNC được hưởng mức ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các ưu đãi khác đối với doanh nghiệp NNƯDCNC theo quy định tại Khoản 2 Điều 19 Luật Công nghệ cao.

- Các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển NNƯDCNC được vay vốn ưu đãi theo chính sách tín dụng của Nhà nước theo quy định.

- Hỗ trợ kinh phí dồn điền, đổi thửa tạo quỹ đất phát triển NNƯDCNC.

- Giải phóng mặt bằng, thu hồi đất nông nghiệp cho doanh nghiệp thuê đất đầu tư dự án NNƯDCNC.

- Hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng khu, vùng NNƯDCNC thuộc Quy hoạch:

+ Đối với khu NNƯDCNC theo quy hoạch được duyệt: ngân sách thành phố hỗ trợ tối đa không quá 70% để đầu tư xây dựng hạ tầng trong khu (hạ tầng thông tin, giao thông, điện, nước, trụ sở điều hành, hệ thống xử lý chất thải).

+ Đối với vùng NNƯDCNC theo quy hoạch được duyệt: ngân sách thành phố đầu tư xây dựng hạ tầng trong vùng (hệ thống giao thông, hệ thống thủy lợi tưới tiêu và xử lý chất thải) theo các dự án được duyệt.

- Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, phát triển thị trường và ứng dụng khoa học công nghệ:

+ Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, phát triển thị trường, ứng dụng khoa học công nghệ đối với tổ chức, cá nhân có dự án đầu tư xây dựng khu và vùng NNƯDCNC theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 của Chính phủ và các văn bản quy định hiện hành.

+ Ưu tiên triển khai các nhiệm vụ đào tạo và phát triển CNC, ứng dụng CNC trong nông nghiệp tại khu và vùng NNƯDCNC.

- Hỗ trợ các hoạt động chuyển giao khoa học công nghệ phục vụ phát triển NNƯDCNC.

- Hỗ trợ các hình thức hợp tác, liên kết tổ chức sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm giữa người sản xuất, các trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã với doanh nghiệp để tăng cường năng lực sản xuất, khả năng cạnh tranh của sản phẩm NNƯDCNC theo các quy định hiện hành.

- Hỗ trợ xây dựng, quảng bá thương hiệu sản phẩm của khu và vùng NNƯDCNC.

6.5. Giải pháp về khoa học và công nghệ

- Xây dựng giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân ứng dụng các công nghệ tiên tiến trên thế giới trong phát triển nông nghiệp hiện đại như: công nghệ nhà kính, nhà lưới, công nghệ sinh học, công nghệ thủy canh, tự động hóa, công nghệ robot và nano; ứng dụng di động trong cung cấp thông tin về thời tiết, nông học, phát triển thị trường, kiểm soát giá cả, thanh toán.

- Triển khai hiệu quả các hoạt động phát triển CNC trong nông nghiệp, ứng dụng CNC trong nông nghiệp phục vụ phát triển các khu và vùng NNƯDCNC.

- Triển khai áp dụng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong quản lý chất lượng sản phẩm nông nghiệp, bền vững môi trường tại khu và vùng NNƯDCNC.

- Xây dựng thương hiệu với các sản phẩm nông nghiệp NNƯDCNC của thành phố.

6.6. Giải pháp về bảo vệ môi trường

- Áp dụng đúng quy trình VietGAP, GMP (tiêu chuẩn thực hành sản xuất tốt) trong sản xuất ở các khu, vùng NNƯDCNC ở tất cả các khâu.

- Ở mỗi khu, vùng NNƯDCNC, xây dựng các khu tập trung xử lý rác thải và các bao bì đựng thuốc bảo vệ thực vật, các phế thải trong sản xuất và xử lý theo quy trình.

- Hướng dẫn người sản xuất sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định, tăng cường sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học, thảo mộc (thuốc trừ sâu sinh học, thuốc trừ sâu vi sinh...).

6.7. Giải pháp về hợp tác quốc tế

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, ứng dụng, phát triển, nhập CNC trong nông nghiệp; thu hút vốn đầu tư, đào tạo cán bộ, trao đổi chuyển giao, tổ chức hội thảo, hội chợ giao lưu CNC sản xuất và sản phẩm NNƯDCNC.

6.8. Giải pháp về vận động, tuyên truyền phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

Tổ chức quán triệt, tuyên truyền, nâng cao nhận thức đến các cấp, các ngành, xác định phát triển NNƯDCNC là một trong những nhiệm vụ chiến lược, trọng tâm để thực hiện thành công tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao sức cạnh tranh, giá trị gia tăng, phát triển bền vững và xây dựng nông thôn mới, do vậy rất cần có sự phối hợp của các ngành, địa phương, các tổ chức đoàn thể trong triển khai thực hiện.

7. Nguồn lực thực hiện

7.1. Vốn đầu tư

Tổng vốn thực hiện quy hoạch đến năm 2030 dự kiến là 11.884 tỷ đồng, bao gồm:

- Vốn ngân sách nhà nước: 3.079 tỷ đồng (bằng 25,9%);

- Vốn tín dụng: 3.082 tỷ đồng (bằng 25,9%);

- Vốn hợp pháp khác (từ doanh nghiệp và hộ gia đình): 5.723 tỷ đồng (bằng 48,2%).

7.2. Nguồn vốn đầu tư và phân kỳ đầu tư

a) Giai đoạn 2017-2025 dự kiến 8.814 tỷ đồng, trong đó:

- Vốn ngân sách nhà nước: 2.289 tỷ đồng (bằng 26,0%);

- Vốn vay tín dụng: 2.284 tỷ đồng (bằng 25,9%);

- Vốn hợp pháp khác: 4.241 tỷ đồng (bằng 48,1%).

Thời kỳ 2017-2020:

- Vốn ngân sách nhà nước: 1.301 tỷ đồng (bằng 26,2%);

- Vốn vay tín dụng: 1.284 tỷ đồng (bằng 25,8%);

- Vốn hợp pháp khác: 2.384 tỷ đồng (bằng 48,0%).

Năm 2017:

- Vốn ngân sách nhà nước: 639 tỷ đồng (bằng 26,2%);

- Vốn vay tín dụng: 630 tỷ đồng (bằng 25,8%);

- Vốn hợp pháp khác: 1.170 tỷ đồng (bằng 48,0%).

Thời kỳ 2021-2025:

- Vốn ngân sách nhà nước: 988 tỷ đồng (bằng 25,7%);

- Vốn vay tín dụng 1.000 tỷ đồng (bằng 26,0%);

- Vốn hợp pháp khác: 1.857 tỷ đồng (bằng 48,3%).

b)Giai đoạn 2025-2030 là 3.071 tỷ đồng, trong đó:

- Vốn ngân sách nhà nước: 791 tỷ đồng (bằng 25,8%);

- Vốn vay tín dụng: 798 tỷ đồng (bằng 26,0%);

- Vốn hợp pháp khác: 1.482 tỷ đồng (bằng 48,3%).

8. Hiệu quả của dự án quy hoạch

8.1. Hiệu quả kinh tế

- Giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác cao gấp 12 - 15 lần so với sản xuất truyền thống, dự kiến giá trị sản lượng đạt bình quân 2.400 - 2.500 triệu đồng/ha (giá cố định năm 2010); sản phẩm có chất lượng cao, an toàn, đáp ứng cho tiêu dùng, chế biến và xuất khẩu.

- Giá trị sản lượng (giá cố định năm 2010) năm định hình quy hoạch (năm 2025) đạt khoảng 10,45 nghìn tỷ đồng, giá trị gia tăng đạt 3,52 nghìn tỷ đồng.

8.2. Hiệu quả về xã hội

- Dự án quy hoạch sẽ thu hút được nhiều lao động có trình độ, đặc biệt là số lao động trẻ ở nông thôn có trình độ văn hóa tham gia ngày càng nhiều hơn vào sản xuất nông nghiệp. Các vùng sản xuất NNƯDCNC theo chuỗi giá trị sẽ góp phần cơ cấu lại lao động nông thôn theo hướng giảm lao động nông nghiệp, tăng việc làm ở các khâu trước và sau sản xuất nông nghiệp (chuyển sang lao động công nghiệp và dịch vụ như chế biến, bảo quản, bao bì, thu gom, bán buôn, bán lẻ, vận chuyển, kho bãi, bảo hiểm, tín dụng nông thôn, giáo dục hướng nghiệp, quảng cáo, thông tin truyền thông…).

- Dự kiến đến năm 2025, tỷ lệ lao động nông, lâm nghiệp, thủy sản còn khoảng 25%; lực lượng lao động trẻ được đào tạo nghề chiếm tỷ lệ trên 50%. Thu nhập của người lao động trong khu, vùng NNƯDCNC tăng 8 - 10 lần so với sản xuất đại trà (khoảng 5 - 6 triệu đồng/lao động/tháng); tại vùng liên kết tăng 2,5 - 3 lần (khoảng 3 triệu đồng/lao động/tháng).

8.3. Hiệu quả về môi trường

Khi thực hiện Dự án, các lĩnh vực sản xuất như trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản đều phải tuân thủ những quy trình sản xuất có sự kiểm soát đến tác động môi trường, giảm phát thải nhà kính và thực hiện chu trình khép kín sử dụng năng lượng nên tiết kiệm. Các quy trình sản xuất VietGAP, GlobalGAP, thoả thuận trong WTO, TPP, AFTA… trong việc tham gia sản xuất theo chuỗi giá trị sẽ được tuân thủ khâu bảo vệ môi trường.

9. Tổ chức thực hiện Quy hoạch

9.1 Trách nhiệm tổ chức thực hiện

- Đề nghị các bộ, ngành Trung ương: theo chức năng, hỗ trợ thành phố Hải Phòng các điều kiện về vốn, khoa học, công nghệ, đào tạo… để quy hoạch được triển khai thực hiện đúng kế hoạch tiến độ và đạt mục tiêu đề ra.

- UBND thành phố phê duyệt, tổ chức công bố công khai Quy hoạch và tổ chức quản lý, triển khai Quy hoạch; xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện và báo cáo Thường trực HĐND thành phố theo quy định.

- UBND thành phố chỉ đạo các sở, ngành thành phố, theo chức năng nhiệm vụ, tổ chức thực hiện bằng các chương trình, kế hoạch cụ thể; UBND các huyện, quận: xây dựng kế hoạch hành động cụ thể thực hiện các dự án đầu tư vào các khu và vùng NNƯDCNC trên địa bàn và tổ chức thực hiện.

8.2 Giám sát thực hiện

- Thường trực HĐND thành phố, các Ban, Tổ đại biểu HĐND thành phố và các đại biểu HĐND thành phố đôn đốc, giám sát việc thực hiện Dự án quy hoạch.

- Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố, tổ chức chính trị -xã hội tăng cường phối hợp, giám sát và tham gia thực hiện Dự án quy hoạch.

Phần V

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

Hải Phòng là thành phố cảng biển, có vị trí địa lý kinh tế đặc thù, nằm trong cực tăng trưởng vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Nông nghiệp của thành phố chiểm tỷ trọng nhỏ nên phải xác định phát triển theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái hiện đại, sản xuất xanh, bảo vệ môi trường gắn với du lịch cộng đồng và thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Để đạt mục tiêu đó tất yếu phải áp dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp.

Quy hoạch vùng và khu NNƯDCNC thành phố Hải Phòng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 được xây dựng với mục tiêu khai thác tiềm năng, nguồn lực của thành phố để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao, là giải pháp đột phá thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

Theo phương án quy hoạch, từ nay đến năm 2030, dự kiến quy hoạch 1 khu NNƯDCNC cấp quốc gia, 2 khu NNƯDCNC cấp thành phố, 42 vùng NNƯDCNC tại 6 huyện 1 quận với tổng diện tích 5.870 ha, trong đó:

- Thời kỳ 2017- 2020 (tổng diện tích 2.445 ha): Tập trung đầu tư 2 khu NNƯDCNC cấp thành phố: Khu Tân Liên - Tam Đa, huyện Vĩnh Bảo; khu nuôi trồng thủy sản tại 2 xã Đông Hưng, Tây Hưng, huyện Tiên Lãng và 17 vùng NNƯDCNC với các loại cây trồng, vật nuôi (rau, thủy sản, hoa, lợn thịt, bò thịt, gia cầm lông màu) có thế mạnh và phù hợp với điều kiện của từng khu vực.

- Thời kì từ năm 2021-2025 (tổng diện tích 1.905 ha): Đầu tư thực hiện 16 NNƯDCNC với các loại cây trồng, vật nuôi (rau, thủy sản, hoa, lợn thịt, bò thịt, gia cầm lông màu) có thế mạnh và phù hợp với điều kiện của từng khu vực

- Giai đoạn 2026-2030: Tổng diện tích 1.520 ha; đầu tư thực hiện 1 khu NNƯDCNC cấp quốc gia tại 2 xã Chiến Thắng, Mỹ Đức, huyện An Lão và 9 vùng NNƯDCNC với các loại cây trồng, vật nuôi (rau, thủy sản, bò thịt, gia cầm lông màu).

Dự án đã đề xuất 8 giải pháp đồng bộ nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả phương án quy hoạch, trong đó các giải pháp về: đất đai, áp dụng cơ chế, chính sách và vốn là then chốt.

2. Kiến nghị

Kính đề nghị Chính phủ sớm có hướng dẫn các tỉnh, thành phố về việc bố trí nguồn ngân sách để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; đồng thời chỉ đạo các bộ, ngành trung ương hỗ trợ địa phương thực hiện.

Đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn cụ thể các địa phương thành lập các khu nông nghiệp công nghệ cao phù hợp tình hình thực tiễn hiện nay.

Kính đề nghị HĐND thành phố xem xét, ban hành Nghị quyết để UBND thành phố phê duyệt Dự án Quy hoạch, chỉ đạo tổ chức thực hiện trong giai đoạn 2017-2025 và những năm tiếp theo./.

PHỤ LỤC I

BIỂU 1. TỔNG HỢP VÀ PHÂN KỲ QUY HOẠCH KHU, VÙNG NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TP HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2016 - 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

TT

Nội dung quy hoạch

Địa điểm

Diện tích (ha)

Ghi chú

Phân kỳ quy hoạch

Giai đoạn 2017-2025

Giai đoạn 2026-2030

Thời kỳ 2017-2020

Thời kỳ 2021-2025

TOÀN THÀNH PHỐ: - 1 khu NNƯDCNC cấp quốc gia; - 2 khu NNƯDCNC cấp thành phố; - 42 vùng NNƯDCNC.

5.870

Đầu tư 02 khu NNƯDCNC cấp thành phố, 17 vùng NNƯDCNC với diện tích:

Đầu tư 16 vùng NNƯDCNC với diện tích:

Đầu tư 01 khu NNƯDCNC cấp quốc gia, 09 vùng NNƯDCNC với diện tích:

2.445

1.905

1.520

A

KHU NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO (3 KHU)

590

A1.

KHU NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO CẤP QUỐC GIA (1 KHU)

200

I

HUYỆN AN LÃO (1 Khu)

200

I.1

Khu sản xuất rau

Tại 2 xã Chiến Thắng và Mỹ Đức

200

200

A.2

KHU NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO CẤP THÀNH PHỐ (2 KHU)

390

I

HUYỆN VĨNH BẢO (1 khu)

250

I.1

Khu sản xuất rau

250

250

1

Xã Tân Liên

100

Xã Tam Đa

150

II

HUYỆN TIÊN LÃNG (1 khu)

140

II.1

Khu nuôi trồng thủy sản

140

140

Xã Đông Hưng

140

Xã Tây Hưng

B

VÙNG NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO (42 VÙNG)

5.280

I

HUYỆN VĨNH BẢO (11 vùng)

1.550

I.1

Vùng sản xuất rau

750

320

1

Vùng 1

Xã Đồng Minh

110

320

Xã Vinh Quang

30

Xã Hưng Nhân

100

Xã Thanh Lương

80

180

2

Vùng 2

Xã Hùng Tiến

60

180

Xã Hiệp Hòa

50

Xã Vĩnh Long

70

250

3

Vùng 3

Xã Trấn Dương

140

250

Xã Vĩnh Tiến

110

I.2

Vùng sản xuất hoa

120

1

Vùng 1

Xã Hùng Tiến

50

50

2

Vùng 2

Xã Vĩnh Long và Hiệp Hòa

70

70

I.3

Vùng chăn nuôi

80

I.3.1

Vùng chăn nuôi lợn thịt gắn với giết mổ

35

1

Xã Vĩnh An

35

183.700 con/năm

35

I.3.2

Vùng chăn nuôi bò thịt gắn với giết mổ

45

1

Xã Dũng Tiến

25

25.000 con/năm

25

2

Xã Trấn Dương

20

20.000 con/năm

20

I.4

Vùng nuôi trồng thủy sản

600

1

Vùng 1

Xã Hòa Bình

100

200

Xã Trấn Dương

100

2

Vùng 2

Xã Hiệp Hòa

100

200

Xã An Hòa

100

3

Vùng 3

Xã Cao Minh

200

200

Xã Cộng Hiền

Xã Liên Am

Xã Thanh Lương

II

HUYỆN TIÊN LÃNG (8 vùng)

1.290

II.1

Vùng sản xuất rau

550

1

Vùng 1

Xã Quang Phục

150

150

2

Vùng 2

Xã Vinh Quang, Đại Thắng

200

200

3

Vùng 3

Xã Hùng Thắng

100

100

4

Vùng 4

Xã Tiên Minh

100

100

Xã Toàn Thắng

II.2

Vùng chăn nuôi lợn thịt gắn với giết mổ

30

1

Xã Hùng Thắng

30

157.500 con/năm

30

II.3

Vùng nuôi trồng và sản xuất giống thủy sản

710

1

Vùng 1

Xã Vinh Quang

250

250

2

Vùng 2

Xã Tiên Hưng

300

300

3

Vùng 3 (SX giống)

Xã Tiên Hưng

160

160

Xã Đông Hưng

III

HUYỆN AN LÃO (1 vùng)

100

III.1

Vùng sản xuất giống thủy sản

100

1

Xã An Thọ

100

100

IV

HUYỆN AN DƯƠNG (6 vùng)

510

IV.1

Vùng sản xuất rau

250

1

Vùng 1

Xã An Hòa

150

150

Xã Hồng Phong

2

Vùng 2

Xã Hồng Thái

100

100

Xã Quốc Tuấn

IV.2

Vùng sản xuất hoa, cây cảnh

240

1

Vùng 1

Xã Đồng Thái

80

80

2

Vùng 2

02 xã Hồng Thái+Quốc Tuấn

80

80

3

Vùng 3

Xã Đặng Cương

80

80

IV.3

Vùng chăn nuôi gia cầm gắn với giết mổ

20

1

Xã Hồng Phong

20

400.000con/lứa

20

V

HUYỆN KIẾN THỤY (7 vùng)

900

V.1

Vùng sản xuất rau

450

1

Vùng 1

Xã Tú Sơn

100

100

2

Vùng 2

Xã Thụy Hương

150

150

3

Vùng 3

Xã Đoàn Xá

200

200

V.2

Vùng chăn nuôi lợn thịt gắn với giết mổ chế biến

200

1

Vùng 1

Xã Tân Phong

100

525.000 con/năm

100

2

Vùng 2

Xã Tú Sơn

100

525.000 con/năm

100

V.3

Vùng sản xuất giống thủy sản

250

1

Vùng 1

Xã Tân Trào

150

150

2

Vùng 2

Xã Tân Phong

100

100

VI

HUYỆN THỦY NGUYÊN (8 vùng)

410

VI.1

Vùng sản xuất rau

200

1

Vùng 1

Xã Kỳ Sơn

100

100

2

Vùng 2

Xã Phù Ninh và Quảng Thanh

100

100

VI.2

Vùng sản xuất hoa, cây cảnh

50

1

Xã Đông Sơn

50

50

VI.3

Vùng chăn nuôi

120

VI.3.1

Vùng chăn nuôi gia cầm gắn với giết mổ

100

1

Vùng 1

Xã Minh Tân

30

600.000con/lứa

30

2

Vùng 2

Xã Chính Mỹ

40

800.000con/lứa

40

3

Vùng 3

Xã Lại Xuân

30

600.000con/lứa

30

VI.3.2

Vùng chăn nuôi lợn thịt gắn với giết mổ

20

1

Xã Liên Khê

20

105.000con/năm

20

VI.4

Vùng sản xuất giống thủy sản

40

1

Xã Lập Lễ

40

40

VII

QUẬN DƯƠNG KINH (1 vùng)

520

VII.1

Vùng nuôi trồng thủy sản

520

1

Phường Tân Thành

520

520

BIỂU 2. TỔNG HỢP QUY HOẠCH KHU, VÙNG NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO

GIAI ĐOẠN 2016 - 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030 (THEO SẢN PHẨM)

STT

NỘI DUNG

SỐ KHU, VÙNG

DIỆN TÍCH (ha)

A

KHU NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CNC

3

590

I

KHU NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CNC CẤP QUỐC GIA:

1

200

1

Khu sản xuất rau tại 2 xã Chiến Thắng và Mỹ Đức - An Lão

1

200

II

KHU NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CNC CẤP THÀNH PHỐ

2

390

1

Khu sản xuất rau tại 2 xã Tân Liên và Tam Đa - Vĩnh Bảo

1

250

2

Khu nuôi trồng thủy sản tại 2 xã : Đông Hưng, Tây Hưng - Tiên Lãng

1

140

B

VÙNG NÔNG NGHIỆP ƯDCNC

42

5.280

1

Vùng sản xuất rau

14

2.200

2

Vùng sản xuất hoa

6

410

3

Vùng chăn nuôi

11

450

4

Vùng nuôi trồng thủy sản

11

2.220

Phụ lục II. KHÁI TOÁN VÀ PHÂN KỲ VỐN ĐẦU TƯ

Đơn vị: Tỷ đồng

STT

Hạng mục

Tổng vốn

2017-2030

GĐ 2017-2020

Giai đoạn

2021-2025

Giai đoạn

2026-2030

Tổng số

T.đó 2017

Tổng vốn đầu tư

11.884

4.968

2.439

3.845

3.071

I

Hồ sơ địa chính

26

11

5

9

7

II

Vốn đền bù GPMB

4.965

2.076

1.019

1.606

1.283

III

Vốn xây lắp

5.211

2.178

1.069

1.686

1.346

1

Nhà kính, nhà lưới

1.496

625

700

484

386

2

Các công trình xây dựng

763

319

357

247

197

3

Hệ thống cấp và tưới nước

828

346

387

268

214

4

Hệ thống thoát nước

321

134

150

104

83

5

Hệ thống giao thông

373

156

175

121

96

6

Hệ thống lưới điện

380

159

178

123

98

7

Các công trình xây dựng khác

408

171

191

132

105

8

San nền

643

269

301

208

166

IV

Vốn thiết bị

575

240

118

186

149

1

Thiết bị kho lạnh

156

65

662

50

40

2

Thiết bị chiếu sáng

142

60

604

46

37

3

Thiết bị cho xưởng sản xuất

57

24

241

18

15

4

Thiết bị sơ chế sản phẩm

28

12

120

9

7

5

Phương tiện vận chuyển

128

53

541

41

33

6

Máy phát điện

64

27

271

21

16

V

Chi phí đào tạo

306

128

63

99

79

1

Đào tạo ở nước ngoài

77

32

611

25

20

2

Đào tạo ở trong nước

33

14

265

11

9

3

Thuê chuyên gia tư vấn

77

32

611

25

20

4

Huấn luyện, học tập, tham quan

34

14

272

11

9

5

Tập huấn, chuyển giao công nghệ

85

36

679

28

22

VI

Chi phí khác

512

214

105

166

132

VII

Chi phí dự phòng

289

121

59

94

75