Thông qua 5 dự án luật, 1 nghị quyết
(HPĐT)- Ngày 20- 6, Quốc hội thảo luận về dự án Luật Thủy sản ( sửa đổi) và biểu quyết thông qua nhiều luật, nghị quyết.
Thông qua 5 dự án luật và 1 nghị quyết
Với đa số đại biểu tán thành, trong phiên làm việc ngày 20- 6, Quốc hội thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước (sửa đổi); Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13; Luật Cảnh vệ: Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ và Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật Hình sự.
Chưa thống nhất về việc thành lập lực lượng kiểm ngư cấp tỉnh
Thảo luận về dự án Luật Thủy sản ( sửa đổi), các đại biểu Quốc hội nhất trí sự cần thiết sửa đổi luật để phát triển ngành thủy sản theo hướng hiện đại, bền vững. Nhiều ý kiến nhấn mạnh, nguồn lợi thủy sản không phải là một nguồn tài nguyên vô tận, cần được bảo vệ và có chiến lược phát triển bền vững, nhất là trong tình hình hiện nay khi nguồn lợi thủy sản có xu hướng suy giảm nghiêm trọng, nhất là ở một số vùng ven biển, do tình trạng khai thác thủy sản quá giới hạn cho phép, sự suy giảm của hệ sinh thái, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu...
Một trong những nội dung được các đại biểu tập trung cho ý kiến là nên hay không nên thành lập lực lượng kiểm ngư cấp tỉnh. Đại biểu Nguyễn Thị Lệ Thủy (Bến Tre) cho rằng, chiến lược biển Việt Nam xác định mục tiêu đến năm 2020 phấn đấu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển. Vì vậy, việc nuôi trồng, khai thác thủy sản phải gắn với bảo đảm quốc phòng- an ninh, bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển. Theo đại biểu, thời gian qua, lực lượng kiểm ngư trên biển còn mỏng, lực lượng thanh tra chuyên ngành hoạt động hiệu quả chưa cao vì thiếu kinh phí, bị giới hạn về quyền hạn, phương tiện cũ kỹ, lạc hậu. Vì vậy, cần có lực lượng kiểm ngư thường xuyên tuần tra, kiểm soát, kịp thời phát hiện và phối hợp các lực lượng khác hỗ trợ ngư dân. Từ đó, đại biểu Nguyễn Thị Lệ Thủy cho rằng, cần thành lập kiểm ngư cấp tỉnh ở một số tỉnh có biển và một số tỉnh biên giới có sông lớn chảy qua, có nguồn lợi thuỷ sản phong phú để bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản kết hợp với bảo vệ an ninh quốc gia. Để tránh tình trạng thành lập ồ ạt các chi cục kiểm ngư cấp tỉnh, đại biểu đề nghị Chính phủ phân cấp cho UBND cấp tỉnh chỉ thành lập kiểm ngư cấp tỉnh theo phương án không tăng biên chế theo Nghị quyết 39-NQ/TƯ của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, thành lập theo lộ trình, chỉ thành lập khi đã đủ điều kiện và thực sự cần thiết. Đồng thời, khi thành lập, địa phương phải bảo đảm điều kiện cho lực lượng kiểm ngư hoạt động. Đối với các tỉnh chưa thành lập lực lượng kiểm ngư cấp tỉnh, kiểm ngư vùng sẽ hỗ trợ để bảo đảm tính liên tục.
Đại biểu Nguyễn Thị Phúc (Bình Thuận) cũng cho rằng, bên cạnh lực lượng kiểm ngư Trung ương, cần thành lập thêm hệ thống kiểm ngư tại 28 tỉnh, thành phố ven biển. Theo đại biểu, lực lượng kiểm ngư này sẽ được chuyển đổi từ lực lượng thanh tra chuyên ngành về thủy sản.
Trong khi đó, đại biểu Phạm Tất Thắng (Vĩnh Long) đề nghị tiếp tục duy trì lực lượng kiểm ngư trung ương (có các chi cục tại các vùng gọi là kiểm ngư vùng) như hiện nay, không thành lập thêm hệ thống kiểm ngư cấp tỉnh; nhưng có chính sách tăng cường nguồn lực, chế độ cho thanh tra chuyên ngành thủy sản, luật hóa các quy định về tổ chức và hoạt động của kiểm ngư trong dự thảo luật.
Quy định rõ hơn thẩm quyền giao, cho thuê, thu hồi đất, mặt nước biển để nuôi trồng thủy sản
Về thẩm quyền giao, cho thuê, thu hồi đất, mặt nước biển để nuôi trồng thủy sản, các đại biểu Quốc hội đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc việc giao UBND cấp tỉnh có thẩm quyền giao, cho thuê mặt nước biển vì việc này khó khả thi đối với các dự án có quy mô đầu tư trên diện tích lớn, ảnh hưởng đến nhiều tỉnh. Mặt khác, đối với mô hình nuôi khơi (nuôi xa bờ), theo Nghị định 51/2014/NĐ-CP về quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển, UBND cấp tỉnh chỉ có thẩm quyền giao, cho thuê từ vùng biển 3 hải lý trở vào; trong khi đó, do đặc thù của mô hình này là xa vùng bờ nên khó kiểm soát và ảnh hưởng đến quốc phòng - an ninh, cần có sự đánh giá tổng hợp của các cơ quan chuyên ngành trung ương. Các đại biểu Quốc hội đề nghị quy định thẩm quyền giao, cho thuê đối với những trường hợp này cho Chính phủ, bộ và cần quy định chi tiết trách nhiệm của Chính phủ, các bộ liên quan trước khi giao, cho thuê mặt nước.
Theo các đại biểu, việc thu hút vốn đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam là chủ trương đúng đắn để phát triển đất nước. Tuy nhiên, việc quy định cho cá nhân, tổ chức nước ngoài thuê mặt nước biển để nuôi trồng thủy sản là phương thức mới. Diện tích vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam rộng lớn với gần 1 triệu km2, tiếp giáp nhiều quốc gia, vì vậy, cần cân nhắc kỹ lưỡng một số vấn đề về quốc phòng - an ninh để bảo đảm hài hòa lợi ích phát triển kinh tế và an ninh quốc gia.
Đại biểu Vương Văn Sáng (Lào Cai) đề nghị không quy định cá nhân, tổ chức Việt Nam chuyển nhượng, cho thuê lại với tổ chức, cá nhân nước ngoài để tránh tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến quốc phòng- an ninh.
Đại biểu Nguyễn Thị Hồng Hà (Ninh Thuận) đề nghị ban soạn thảo bổ sung quy định về trách nhiệm quản lý, kiểm tra, giám sát của chính quyền địa phương các cấp đối với các tổ chức, cá nhân được giao, cho thuê mặt nước biển để nuôi trồng thủy sản cũng như các hoạt động thủy sản diễn ra tại địa phương. Đại biểu đề nghị nghiên cứu trong dự án Luật để hạn chế việc giao mặt nước biển cho tổ chức, cá nhân là người Việt Nam, nhưng trong quá trình hoạt động sản xuất lại do các tổ chức, cá nhân nước ngoài đứng sau để chỉ đạo, điều hành, thao túng.
Góp ý về thời hạn giao, cho thuê mặt nước biển để nuôi trồng thủy sản, đại biểu Nguyễn Thị Lệ Thủy (Bến Tre) cho rằng, thời gian giao, cho thuê tối đa 20 năm và gia hạn thời gian thuê theo quy định tại khoản 5 Điều 44 mà không quy định thời gian tối thiểu là phù hợp thực tiễn. Theo đại biểu Nguyễn Thị Lệ Thủy, đối với ngành nuôi trồng thủy sản, 20 năm là đủ để nhà đầu tư yên tâm đầu tư công trình hạ tầng.