Cần sự đầu tư thích đáng

31/07/2017 10:28

Phục vụ phát triển kinh tế - xã hội đất nước

Tại Việt Nam, hiện nay, hoạt động đào tạo nhân lực của các trường đại học cung cấp hơn 90% nhân lực khoa học và công nghệ trong cả nước,

10% được đào tạo ở nước ngoài.

Ảnh minh họa

Hoạt động khoa học và công nghệ tại các trường đại học nằm ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ phát hiện tài nguyên, phát triển hạ tầng, khoa học và công nghệ trong y tế, trong môi trường, trong phát triển mô hình kinh tế, quốc phòng, an ninh, lý luận con đường phát triển, thay đổi và phát triển luật pháp, phát triển văn hóa…

Theo đánh giá tổng kết công tác khoa học và công nghệ năm 2016, hoạt động khoa học và công nghệ toàn ngành nói chung và của các trường đại học nói riêng đã tham gia tích cực vào giải quyết các vấn đề kinh tế- xã hội, cho các ngành, các lĩnh vực trọng điểm của đất nước. Các tổ chức khoa học và công nghệ trong các trường đại học ở Việt Nam thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ thu hút đầu tư của Nhà nước với tổng mức đầu tư bình quân 1063,2 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ cao so với các tổ chức khoa học và công nghệ trong cả nước.

Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, khoa học và công nghệ là động lực giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong tăng trưởng. Tỷ lệ áp dụng máy móc, thiết bị trong sản xuất nông nghiệp có mức gia tăng 1-2% so với năm 2015. Các tiến bộ khoa học và công nghệ đã đóng góp khoảng 30% - 40% vào tăng trưởng nông nghiệp.

Điểm mạnh của hoạt động khoa học và công nghệ ngành giáo dục và đào tạo là nghiên cứu trong lĩnh vực nông - lâm - ngư - y. Các công trình nghiên cứu về giống, quy trình canh tác, phòng chống dịch bệnh trong trồng trọt và chăn nuôi tạo tiền đề cho nền nông nghiệp nước ta cất cánh. Nhờ ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học của các trường đại học nông nghiệp, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu hàng đầu trên thế giới về lúa, cà phê, hạt điều.

Nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y học của các trường đại học y - dược là một thế mạnh so với các nước trong khu vực. Nhiều nghiên cứu về y - dược của các trường đại học nước ta ngang tầm với các nước phát triển trên thế giới.

Khối các trường nông- lâm - ngư - y giai đoạn 2011-2016 có 570 sản phẩm ứng dụng được tạo ra, trong đó có 62 sản phẩm thuộc lĩnh vực y dược, 508 sản phẩm ứng dụng thuộc lĩnh vực nông-lâm-ngư. Giai đoạn 2011 – 2016 có 17 sản phẩm khoa học công nghệ được đăng ký sở hữu trí tuệ, trong đó có 4 sản phẩm thuộc lĩnh vực y dược và 13 sản phẩm thuộc lĩnh vực nông lâm ngư…

Thúc đẩy hình thành tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ

Trong giai đoạn 2011-2015, về cơ bản, mạng lưới các tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ như viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu, các doanh nghiệp khoa học và công nghệ … trong các trường đại học được hình thành với các loại hình tổ chức phong phú, đa dạng và số lượng là 589 tổ chức. Việc hình thành các tổ chức khoa học công nghệ góp phần hình thành các doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong các trường đại học ngày một tăng.

Bên cạnh đó, quá trình chuyển giao khoa học và công nghệ của các nhóm nghiên cứu mạnh thu hút đầu tư của các doanh nghiệp cho phát triển các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu trong các trường đại học, đặc biệt đối với các trường đại học thuộc khối kỹ thuật như Trường đại học Bách khoa Hà Nội, Trường đại học Bách khoa Đà Nẵng… Đại học Quốc gia Hà Nội hình thành các phòng thí nghiệm do Toshiba, Samsung tài trợ tại Trường đại học Công nghệ; Trường đại học Khoa học Tự nhiên thu hút được đầu tư từ khối các doanh nghiệp của Nhật Bản lên đến 7 triệu USD cho phát triển phòng thí nghiệm phát triển năng lượng sạch sản xuất Biodiegen.

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

Hoạt động nghiên cứu khoa học trong ngành giáo dục đã góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Đội ngũ cán bộ kỹ thuật đào tạo trong nước đã có thể làm chủ công nghệ, thực hiện nhiều công trình kỹ thuật lớn, phức tạp, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ của ngành Giáo dục góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo của trường đại học, trong đó các trường đại học sư phạm phục vụ tích cực cho công tác nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở tất cả các bậc học từ giáo dục mầm non, tiểu học, trung học.

Hoạt động khoa học và công nghệ góp phần đào tạo nguồn nhân lực và đào tạo cán bộ khoa học. Một trong những sản phẩm bắt buộc của các nhiệm vụ nghiên cứu của ngành giáo dục là đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ. Số lượng thạc sỹ và tiến sỹ được đào tạo từ các nhiệm vụ khoa học và công nghệ trong ngành giáo dục chiếm khoảng 15% (đào tạo thạc sỹ) và 10% (đào tạo tiến sỹ) so với toàn ngành và trong cả nước.

Số lượng giáo sư và phó giáo sư được phong trong hệ thống trường đại học cao hơn nhiều số giáo sư và phó giáo sư trong các cơ sở nghiên cứu, với chuyên môn thuộc các tất cả các lĩnh vực khoa học và công nghệ: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học giáo dục, khoa học kỹ thuật – công nghệ, khoa học nông – lâm- ngư – y dược và môi trường.

Cần sự đầu tư thích đáng

Tuy nhiên, chưa có nhiều nhà khoa học của hệ thống trường đại học ở Việt Nam đoạt giải thưởng cao ở quốc tế và chưa có nhóm nghiên cứu mạnh của hệ thống các trường đại học ở Việt Nam tham gia các chương trình nghiên cứu lớn của quốc tế. Bộ Khoa học Công nghệ và Bộ Giáo dục Đào tạo cần có chương trình phát triển các nhóm nghiên cứu gắn với thu hút nhân tài để hình thành trường phái và các sản phẩm khoa học công nghệ lớn, tham gia làm việc trong môi trường các viện nghiên cứu lớn, trường đại học lớn, các tập đoàn lớn, qua đó dẫn dắt nền khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức trong tương lai.

Bên cạnh đó, phần lớn các tổ chức trong hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ của các trường đại học hiện nay chủ yếu là các phòng thí nghiệm chiếm 80%, phần còn chủ yếu là trung tâm nghiên cứu, viện nghiên cứu... Số lượng và xưởng sản xuất và công ty khoa học và công nghệ là không đáng kể.

Để nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học công nghệ trong các trường đại học, góp phần tích cực hơn nữa vào sự phát triển của đất nước, cần thành lập các công viên khoa học, thông qua điều chỉnh quy hoạch các khu công nghệ cao, khu nông nghiệp công nghệ cao... tại các địa phương và của các bộ ngành nằm cạnh các trường đại học và tổ chức phối hợp hoạt động, theo mô hình Technopolis, tương tự Khu đô thị Đại học Khu công nghệ cao Hòa Lạc và Đại học Quốc gia Hà Nội.

Trong giai đoạn tới, tăng cường đầu tư phát triển một số đại học 4.0, mang tư tưởng dẫn dắt, khai phóng, để tổ chức nghiên cứu và đào tạo cho một số ngành nghề mới, lĩnh vực khoa học công nghệ mới gắn với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Bên cạnh đó, các trường đại học cần thay đổi mô hình đầu tư cho hoạt động khoa học công nghệ (tăng cường năng lực nghiên cứu và đầu tư phát triển khoa học công nghệ); trong đó không phân biệt giữa công lập và ngoài công lập, hướng tới sản phẩm đầu ra do hoạt động khoa học công nghệ của các trường đáp ứng các tiêu chuẩn, tiêu chí của Nhà nước đặt ra.

Theo thống kê của Hội đồng Chức danh Nhà nước, giai đoạn từ 1980 đến nay có tới 10.774 giáo sư và phó giáo sư trong cả nước (1.715 giáo sư và 9.059 phó giáo sư) được phong danh hiệu. Số lượng các giáo sư và phó giáo sư được phong trong các trường đại học là 574 giáo sư và 4.133 phó giáo sư, chiếm khoảng hơn 33% số lượng giáo sư cả nước và 45,6% phó giáo sư được phong cả nước.

TTXVN