Vì sao chưa "hấp dẫn" ?
Lao động học nghề giảm
![]() |
| Dạy nghề móc chỉ cho lao động nông thôn tại huyện Thủy Nguyên. |
Năm 2017, UBND thành phố hỗ trợ đào tạo nghề 1.940 lao động nông thôn (LĐNT) với tổng kinh phí 4,5 tỷ đồng. Trong số 56 lớp học nghề có 37 lớp với 1.275 người học nghề phi nông nghiệp; 19 lớp với 665 người học nghề nông nghiệp. So với năm 2016, số lượng người học nghề giảm 465 người tương đương 14 lớp.
Lý giải nguyên nhân tình trạng này, Trưởng Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội huyện An Dương Bùi Văn Minh cho rằng: “Hiện nay, hầu như địa phương nào cũng có các khu, cụm công nghiệp, các công ty, xí nghiệp sản xuất với quy mô khác nhau. Nhu cầu tuyển lao động của các nhà máy, xí nghiệp rất cao. Nhiều đơn vị tuyển lao động phổ thông không cần qua dạy nghề. Do đó LĐNT có tâm lý vào nhà máy, xí nghiệp làm ngay thay vì đi học nghề, dù chương trình dạy nghề cho LĐNT có nhiều ưu việt như hỗ trợ tiền ăn, không mất học phí…”.
Tại huyện Thủy Nguyên, lực lượng LĐNT còn rất ít “nguồn” cho các lớp dạy nghề của đề án 1956. Phó trưởng Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội huyện Thủy Nguyên Hoàng Nhật Thọ cho biết, hiện nguồn lao động của huyện không đủ cung cấp cho các doanh nghiệp lớn trên địa bàn, nhất là lao động trong khu công nghiệp VSIP. Mặt khác, người lao động chọn nghề học xong dễ xin được việc ngay tại khu công nghiệp. Trong số các lớp học nghề phi nông nghiệp, có đến 12 lớp may mặc với hơn 400 người, chiếm 1/3 số người, số lớp nghề phi nông nghiệp. Không chỉ có các huyện An Dương, Thủy Nguyên, An Lão là những địa phương có tốc độ đô thị hóa nhanh, có nhiều khu, cụm công nghiệp “hút” lao động vào làm việc, các địa phương xa trung tâm thành phố như Kiến Thụy, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, số người theo học các lớp nghề dành cho LĐNT giảm đáng kể, cả các nghề về nông nghiệp và phi nông nghiệp.
Dạy nghề cần theo nhu cầu thực tế
Thực tế LĐNT hiện nay dôi dư ít, lực lượng thanh niên, trung niên hầu hết làm việc tại các khu, cụm công nghiệp, các doanh nghiệp trên địa bàn. Số người gắn bó với công việc nhà nông, công việc tại chỗ hầu hết là những người nhiều tuổi. Điều này đòi hỏi có sự bố trí dạy nghề cho LĐNT phù hợp. Trên cơ sở khảo sát nhu cầu học nghề, yêu cầu của người học, nên mở những lớp nghề mà người lao động thực sự có nhu cầu học thay vì mở lớp theo khả năng tuyển sinh của cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Việc dạy nghề cho LĐNT cần gắn với quy hoạch xây dựng nông thôn mới của từng địa phương để phát huy thế mạnh nghề truyền thống, đặc thù nghề. Ví dụ, trong dạy nghề nông nghiệp, tập trung hướng dẫn nông dân cách sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn, sử dụng thuốc thú y trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, gia súc, gia cầm; trồng rau an toàn, trồng rau, củ, quả có thị trường đầu ra, phát triển kinh tế VAC… để người học dễ áp dụng trong đời sống; chú ý các lớp học ở địa phương có thể mở rộng sản xuất tạo thành vùng nguyên liệu. Đối với nghề phi nông nghiệp, chú trọng dạy nghề sao cho người lao động phát huy được nghề thủ công truyền thống, những nghề khi học xong người lao động có thể làm nghề và tạo được “làng nghề”. Đơn cử như một số nghề tại các địa phương đang có hướng phát triển, thu nhập ổn định như: điêu khắc đá mỹ thuật (huyện An Lão); dệt chiếu (huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo), đúc gang, đồng (huyện Thủy Nguyên), sản xuất bánh đa, trồng hoa (huyện An Dương)… Để việc dạy nghề cho LĐNT có hiệu quả cao, các địa phương, cơ sở dạy nghề phối hợp làm tốt hơn công tác khảo sát nhu cầu học nghề của người dân, bố trí dạy những nghề người dân thực sự cần, tạo thu nhập cao hơn chú trọng những ngành nghề thu hút nhiều lao động.
Bài và ảnh Huyền Chi
