Nụ cười của nữ Pathet Lào
Nhà văn Nguyễn Đình Tú
![]() |
| Minh họa: Đặng Tiến |
Tôi đến Tokyo, vai vác cây ghi-ta Hạ Uy Di (Hawaiiens) theo đoàn ca múa dân gian biểu diễn tại đêm nhạc Nhật - Việt.
Cây đàn mòn trụi, nhưng người nghe quý nó vì biết nó cùng tôi lang thang suốt chặng đường đánh giặc cứu nước cho tới bây giờ! Không đổi!
Trong số khán giả có vợ chồng Hải và Kung Mỵ - cán bộ cao cấp về hưu, nhà ở phố Quán Thánh, Hà Nội - là bạn thời chống Mỹ cứu nước qua đây dự đám cưới cháu ngoại.
Biết tôi vẫn ở khu văn công Mai Dịch, anh Hải nói: “Tôi có nhiều kỷ niệm với khu văn công đó lắm”. Đêm ấy, tại khách sạn, tôi và vợ chồng Hải uống vang và nhắc lại chuyện xưa…
…Bấy giờ, chiến dịch Thượng Lào kết thúc.
Quân chủ lực rút. Chiến trường còn lại đại đội quân tình nguyện của Hải, phân tán thành tổ nhỏ, phối hợp các nhóm công tác dân vận, binh vận, văn hóa… rải ra cắm chốt ở Phông Xa Lỳ.
Hải rất vui vì được hoạt động cùng với cán bộ văn nghệ. Anh em văn nghệ thì mừng, vì có bộ đội là chỗ dựa vững chắc trên những chặng đường gian khổ.
Tới bản Chiềng Xoy, trời bỗng bừng lên mảng nắng chiều rực rỡ. Tầng mây dày lưu cữu suốt mùa đông vỡ ra, thả từng chùm sáng lấp lánh trên tầng lá mòng du, thùa kép mơi mởi lông tơ phía thượng nguồn sông Mã.
Bản vắng, lại nằm ngay chân đèo Pậu nên càng vắng. Anh em tổ chức đóng kịch vận động bà con học chữ Lào Thơm, và tăng gia sản xuất kháng chiến cứu nước. Kịch đơn giản nhưng bà con rất thích thú, cười ngặt ngẽo.
Trưởng bản là cán bộ dày dạn, có kinh nghiệm. Ông cầm chân anh em, chu cấp gạo sắn đầy đủ. Sau một tuần trăng, Hải xây dựng cho bản tiểu đội du kích gồm 7 nam 3 nữ. Nam mặc vải thô nhuộm chàm, quấn xà rông, đầu đội mũ nồi. Nữ mặc váy lanh, cổ đeo vòng mạ, chân váy viền thổ cẩm dệt xanh đỏ vàng. Một hôm, ông trưởng bản đưa Hải tới dự một đám cưới.
Cô dâu là con gái bà Mấng tên Kung Dị. Cô có dáng đậm, da trắng, mặt tròn sáng như gương.
Kung Dị kéo tấm vải đỏ trùm đầu, quỳ giữa chiếu. Rể là ông lão râu tóc lơ thơ vài sợi, đang quỳ khó nhọc bên cô dâu. Trước mặt họ đặt cái mâm, trên mâm có ba cọc đồng “Piệc” (là đồng 1 piastre phát hành chung cho toàn cõi Đông Dương, ở ta gọi là đồng bạc trắng hoa xòe) và hai đôi vòng bạc. Tất cả xếp ngay ngắn cạnh tờ giấy bản viết chữ Phạn. Đó là bản giao kèo hôn nhân.
Bà mối mặc ba lần váy ngũ sắc, cái ngoài ngắn dần, cúi xuống nâng tờ ước bán đoạn Kung Dị cho chàng rể già nua, ê a đọc như hát. Kung Dị run rẩy đi cùng đám rước dâu về nhà chồng. Được ba bước chân thì cô quỵ xuống đất. Cô không khóc nổi nữa và ngất xỉu. Gia đình cô dâu xông vào vực Kung Dị đứng lên, xoa dầu trắc và dìu cô bước xuống nhà sàn.
Đám rước đi rồi thì ông trưởng bản tay bưng bát rượu, gọi Kung Mỵ là em gái cô dâu tới hỏi:
- Mày muốn lấy chồng già hay là đi văn công? Có lệnh gọi một suất con gái lên tỉnh đấy!
Liếc nhìn chiếc chiếu chị mình vừa quỳ trên đó, Kung Mỵ sợ quá chắp hai tay lại, thưa:
- Cháu xin đi, xin đi!
Ông trưởng bản rút trong xà cột da trâu tờ giấy cắm cúi viết, rồi hà hơi lên con dấu áp vào chỗ chữ ký. Ông gập tờ giấy làm tư, đưa Kung Mỵ dặn:
- Mày lên tỉnh đưa cho chúng nó!
Ba ngày sau Kung Mỵ ra đi cùng với bộ đội và cán bộ. Ông trưởng bản nhờ Hải:
- Chúng mày đưa con nhỏ lên tỉnh cho tao nghe!
Kung Mỵ lẽo đẽo đi ở cuối hàng, vai đeo cái túi kết thổ cẩm, nước mắt lưng tròng. Bà Mấng nhét vào tay con gái đồng “Piệc” trắng làm vốn, dặn chớ có quên bản làng! Bà đứng ở bậc cuối cầu thang nhìn theo con, nước mắt nước mũi ròng ròng!
Năm ngày sáng đi tối nghỉ thì về tới căn cứ. Hải đưa Kung Mỵ sang cơ quan bạn, giao cho chị cán bộ tổ chức Hsing. Kung Mỵ ở lại đó. Cô đứng bên các nữ văn công Pathet Lào, dáng điệu e dè, ngờ nghệch. Các bạn gái nhìn Kung Mỵ đắm đuối như đang ngắm cô tiên thình lình xé mây, hiển hiện sau một tiếng sấm vang trời và một làn gió Mê Kông thơm lừng hơi nếp. Kung Mỵ dung dị không biết mình đẹp nên trông cô vô cùng quyến rũ.
Hải được lệnh về Hà Nội để đi học quân sự tại Liên Xô. Anh đang chờ xe quá giang, nhưng hậu cứ của chiến trường chỉ có các chuyến vận tải đi tới giữa đường, ăn hàng hậu cần rồi quay lại.
Một hôm có chiếc trực thăng đổ xuống sân bay. Tiếp đến là tiểu phản lực Y- ắk hạ cánh an toàn. Dân thị xã giải phóng kéo tới đứng ven suối, xem đông nghịt. Trong đám, có cả mấy người Ấn Độ mở cửa hiệu buôn vải lâu năm ngoài phố chợ.
Chiếc trực thăng không ở lại mà về ngay. Nó chở vị cán bộ cao cấp đi Hà Nội, khởi hành lúc 5 giờ chiều để tránh máy bay Mỹ. Sân bay thông báo với chỉ huy sở tiền phương và tỉnh Hùa Phăng, xem có ai đi Hà Nội thì mời đi cùng. May quá, Hải được xếp đi chuyến ấy.
Hộc tốc chạy ra đường băng thì Hải gặp Hsing. Chị tiễn Kung Mỵ đi Hà Nội để đào tạo cán bộ nghệ thuật ca múa. Thấy Hải, Hsing mừng rỡ nói:
- Phúc đức cậy Bồ Tát, nhờ anh Hải đưa Kung Mỵ tới trường, giao tận tay kẻo lạc phải đền đấy!
Khi sắp bước lên máy bay thì Hsing và Kung Mỵ ôm nhau. Cả hai cùng sụt sùi!
- Giấy tờ có đầy đủ trong túi xắc. Tạm biệt! - Hsing réo Hải - Nhớ là khu văn công Cầu Giấy anh Hải nhé!
Cầu Giấy! Cái địa danh trắng tinh vừa réo gọi kia va vào cánh quạt trực thăng nghe roèn roẹt. Hải giật mình, tim thót thắt! Cầu Giấy! Thoáng qua tai Hải gây nên nỗi nhớ nhung Trịnh. Cánh máy bay quay vù tưởng reo lẫn với điệu đàn ắc coóc ở khu văn công và giọng hát Trịnh cất cao, làm đầy lên những chuỗi ngày biền biệt!
… Ấy là lúc tin thư của Trịnh bất thần vắng hẳn. Hải lặng người chờ đợi và linh cảm có điều gì đó sẽ xảy ra trong tình yêu của nhau. Điều huyễn hoặc và bất hạnh hằng đêm hiện lên như những tang chứng ký ức, dày vò bao hiện hữu không giải thích được trong hồn anh. Hải cố gắng hình dung bằng trí tưởng tượng rằng, sau vấp váp khó tránh của hai đứa, sẽ là những hứa hẹn tốt lành!
Thế đấy! Nhưng ban đầu là tin thư Trịnh thưa dần. Tới khi các lý do vì học tập, công tác không còn đủ sức biện minh thì, lời thư hiếm hoi của Trịnh hóa ra cảnh lạnh nhạt cực hình. Nó đẩy hai bạn vào khoảng cách mịt mù. Rồi khoảng cách cứ lớn dần, xô một bên về phía chân trời xa vắng.
Nhờ vào giọng hát trời phú và sự rèn luyện kỳ công, Trịnh rời trường học sinh miền Nam, biên chế vào đoàn văn công lớn, nổi tiếng. Ở đó Trịnh được nuôi dưỡng bằng lao động cật lực và những mộng mị nhiều màu. Hai thứ đối lập ấy hòa lại cùng nhau thành một Trịnh tươi trẻ, nhan sắc và thành đạt.
Những đêm ôn luyện, tự tu và trò chuyện ý tình liên miên, những cuộc đàm đạo nghề nghiệp, những đụng độ vô hồi nơi quán xá, bên ly rượu, đĩa thức ăn bốc khói, cùng với la liệt ý đồ bay bổng, mộng mơ… dẫn đến một so sánh. Sự so sánh đó đã rơi vào Hải. Một anh lính lấm lem bùn đất với hồi âm quá khứ rất đẹp nhưng xa vời! Và một quan chức đương quyền kè kè một bên, tương lai rộng mở! Cảnh ngộ của Trịnh rất đáng trách, nhưng cũng rất đáng thông cảm.
Hải bám xe khách lên Hà Nội, tìm đến Cầu Giấy. Địa điểm đóng quân cách Hà Nội chừng 80 cây số mà xe chạy mãi 3 giờ chiều mới tới bến Kim Liên. Anh lên được Cầu Giấy thì trời đã nhá nhem.
Lần đầu đặt chân nơi đất khách mà Hải không thấy xa lạ vì ở đó có Trịnh. Hải nhìn hai dãy nhà gạch cũ kỹ, méo mó, đứng choãi chân bên lề đường rắc đầy cánh phượng vỹ đỏ rực, cứ tưởng cảnh vật nơi đây đã nhận lời Hải gửi gắm trông hộ nàng!
Bác thường trực cho biết là Trịnh vừa mới lên Nhà hát Lớn biểu diễn chiêu đãi nhân dịp kỷ niệm gì đó. Nói xong thì bác đóng cửa, kéo cây tre sơn vòng đen trắng da hổ mang chốt lại.
Hải nhảy tàu điện qua đền Voi Phục, ra cánh đồng rau muống nước loáng thoáng hoàng hôn. Đến Kim Mã thì đèn điện nội thành bật sáng. Hà Nội hừng lên trong buổi đầu tiên. Đường phố lác đác vài bóng người đi bộ. Chuông tàu điện leng keng dẫn đường Cửa Nam. Và mặt nước Hồ Gươm ánh lên một vùng bạc!
Hải hỏi đường tới Nhà hát Lớn. Anh sững sờ dừng lại trước quảng trường thênh thang tráng lệ dưới ánh đèn. Trịnh đang ở đó! Hải nghĩ vậy và thấy hân hoan đến nghẹn ngào.
Không có vé vào cửa thì Hải đứng bên đường chiêm ngưỡng kiến trúc nhà hát và đợi Trịnh. Phố phường im lìm. Có tiếng đồng hồ điểm chuông khoan thai sau bức tường dày. Anh không kịp đếm tiếng gõ, có cảm giác thời gian đang trôi khỏi tay mình, rơi vào chốn xa xăm không bến không bờ…
Đêm chiêu đãi tàn. Người xem cuối cùng đã ra về. Cửa nhà hát đã đóng. Một chiếc ô tô lướt qua bùng binh xếp các mũi tên chỉ đường bằng xi măng sơn vạch trắng đỏ, rồi tăng tốc. Hải thấy Trịnh ngồi ngả đầu lên vai một người đàn ông. Anh co chân chạy theo xe và gọi. Xe lạng nửa vòng tròn, quét ánh đèn soi rõ những hạt bụi bay lơ lửng phía sau, lao vút vào bóng đêm.
Hải đuối sức. Anh chệnh choạng băng chéo qua hai ngã tư, lần tới bờ hồ Gươm, nằm vật ra ghế đá, đầu gối lên mũ cối…
Thế mà nay anh lại phải đến Hà Nội, đến Cầu Giấy?!
Từ Chiềng Xoy bước ra, Kung Mỵ bỡ ngỡ quá khi leo lên máy bay. Càng bỡ ngỡ, trông cô càng đẹp, vừa lộng lẫy, vừa huyền bí như đóa bạch huệ tràng hé nở, Hải đã nhìn thấy trên cao nguyên Bô-lô-ven.
Hải bất ngờ không kém Kung Mỵ. Tay anh lóng ngóng, còn Kung Mỵ thì run sợ nép sát vào anh. Máy bay rùng rùng cất cánh, cô nàng càng níu chặt áo anh, ngực phập phồng như vừa chạy đâu xa mới về, dúi đầu sát vào ngực Hải. Hải không dám thở. Cả hai chưa kịp lấy lại bình tĩnh, ngoài cửa máy bay hiện ra dải long lanh, ngời ngợi như bạc chảy giữa hai sườn núi xanh rì. Đó là sông Đà.
Bảy giờ, máy bay tới Gia Lâm. Mùa hè tối chậm, ánh nắng còn váng vất trên đám mây cao. Mọi người ra khỏi sân bay và tản mát khắp nơi. Từ cổng sân bay ra đường 5 tối om.
Kung Mỵ không quen đi đồng bằng, cô phải ngồi xuống bóp chân, đỡ chóng mặt. Hải đeo ba lô của anh trên lưng, đeo ba lô của Kung Mỵ trước ngực. Mỵ choàng túi kết thổ cẩm lên vai phải, xắc tài liệu của Hải lên vai trái, đi rất khó nhọc.
Gần hai năm ở chiến trường, Hải đã học được tiếng Lào thông thường đủ để nói chuyện với Kung Mỵ. Anh động viên cô. Khi tới cầu chui Gia Lâm thì Kung Mỵ không dám chui qua cầu. Hải phải dắt. Cô đưa tay lên ôm đầu, lom khom chạy qua phía dưới cầu, giọng nói ríu lại.
- Nó có sập không đấy, sợ lắm!
Phố Gia Lâm đìu hiu, đèn đuốc tắt ngấm. Hải và Kung Mỵ bước lên cầu Long Biên. Bốt gác đầu cầu thắp ngọn đèn dầu tù mù, không người. Hải phải đẩy lưng Kung Mỵ, giúp sức cho cô đi lên cầu. Kung Mỵ run như chim giẽ giun, mắt nhắm tịt, không dám nhìn qua hai bên thành cầu chơi vơi, gió sông Hồng lồng lộng.
Bỗng đoàn tàu từ phía Yên Viên leo lên cầu. Tiếng còi thét lảnh lói, hơi nước phì phụt, bánh sắt rầm rầm, mặt cầu rung chuyển bần bật, làm cho Kung Mỵ không còn hồn vía. Cô túm chặt Hải, giọng nói thất thần, đất trời sụp đổ!
Kung Mỵ ôm ngực khóc gọi mẹ, đòi về!
Hải dìu Kung Mỵ đi dọc con đường lộng gió. Cô dựa hẳn vào anh, không cất nổi bước. Họ đi rất chậm. Bỗng Hải mừng sững người thấy bên đường có tấm biển đề hai chữ quán trọ treo lủng lẳng trên gờ cửa sổ đóng gióng sắt.
- Cám ơn trời phật!- Hải buột miệng. Anh gõ cửa. Một tiếng khàn khàn trong bóng tối hỏi vọng ra :
- Có đăng ký kết hôn không? Không à! Không thì biến.
Kung Mỵ kiệt sức. Cô đói lả, mệt và sợ. Cô thì thầm với Hải là em nhớ mẹ, nhớ nhà! Từ trên thâm sơn cùng cốc Thượng Lào, cả cuộc đời không biết đường nhựa, đèn điện… bỗng nhiên rơi tõm xuống Hà Nội, giữa một đêm kinh hoàng. Những ngọn đèn vàng ọc như mắt ma, soi lói nhảy múa loạn xạ quanh Kung Mỵ.
Đi hết đoạn đường dài thì Hải nhìn thấy tòa nhà cao to, đen thẫm. Anh nhận ra đó là nhà hát lớn năm xưa anh đi tìm Trịnh. Anh bần thần ngồi lên bậc cửa nhà hát. Kung Mỵ dịch sát vào anh. Cố gắng lên em! - Hải vỗ về rồi nói tiếp - Từ đây đến Cầu Giấy thì anh nhớ đường.
Kung Mỵ không thể cố gắng được nữa. Cô ngồi sập xuống. Hải chỉ còn biết dựa vào sức mình. Anh xốc cả hai ba lô lên lưng, khoác luôn hai cái xắc trước bụng, một tay nắm tay Kung Mỵ, một tay đẩy nhẹ lên lưng cô, mồm ngầm hô tiến lên!
Hải kéo Kung Mỵ đến chỗ ghế đá đêm xưa, người quen độc nhất của anh ở nơi viễn xứ! Đây rồi, cái ghế đá lạnh cứng mỉm cười nhận ra Hải, nó mừng rỡ. Một làn gió hồ lướt tới chào anh. Anh dìu Kung Mỵ ngồi xuống ghế đá.
Cơn đói bấy giờ mới ùa tới. Nó cào xới riết róng cho đến khi chính nó cũng mệt lả phải dịu đi. Kung Mỵ không cần biết chung quanh cô là gì? Cô ngủ lịm.
Hải tháo ba lô lấy chăn của anh trải lên mặt ghế, lót lưng cho Kung Mỵ, xếp cái màn làm gối, đặt cô nằm ngay ngắn. Cô như cái xác bướm mềm nhũn, cánh rã rời, tiếng thở không đều, tức tưởi.
Hải đắp chăn lên người Kung Mỵ rồi ra ngồi tựa lưng lên gốc cây ven hồ. Mặt hồ sáng mờ mờ, nhăn lăn tăn suy nghĩ. Lòng hồ sâu thẳm phảng phất hồi âm chiêng trống đâu đây, trong tiếng lá rụng thoảng qua tai Hải bay về phía Kung Mỵ đang nằm.
Phía ấy bừng sáng từng loạt hào quang rất thật và rất ảo ảnh. Trăng hạ huyền ẻo lả hiện muôn ngàn cánh hoa Chăm pa rắc thơm xuống ghế đá, phủ tấm loan sàng khảm ngọc lưu ly vỗ giấc tiên nữ Kung Mỵ. Thấp thoáng sau liễu là bức trường thành đá xám, đền đài nguy nga, lầu công chúa óng ả, là ẩn hiện mái phụng đình, cung vua, phủ chúa treo đèn kết hoa, đón tiếp thôn nữ Lào dừng chân trên đất đế đô!
Hải bước tới bên Kung Mỵ!
Những tán lá ngô đồng, phượng du lay bóng trên gương mặt vướng vất sợ hãi của Kung Mỵ đã hiển hiện niềm vui. Ông trời hào sảng ban cho con người giấc ngủ bình yên, tự tin. Hải vừa nghĩ vừa giắt mép chăn bộ đội dưới vai Kung Mỵ. Gió xôn xao khẽ động mấy sợi tóc mai tha thướt, kiêu sa của nàng!
Hải trở lại chỗ gốc cây nặng nề ngồi, cong hai tay ôm gối ôm đầu, khi nhìn ra hồ, khi nhìn Kung Mỵ. Anh có cảm giác ruột gan cuộn thắt lại. Chưa bao giờ trong lòng Hải có cuộc vật lộn gay gắt và những đắn đo đau đớn như thế.
Kung Mỵ ngủ say vì mệt lả. Cô đang phiêu bồng ở chốn thần tiên mà từ bé chưa bao giờ nghĩ tới. Trong mơ màng, Kung Mỵ vấp chân vào cầu thang nhà sàn của mẹ. Cô duỗi chân, chiếc túi kết thổ cẩm xuýt rơi. Hải đưa tay tém lại góc chăn, tay anh chạm vào da thịt Kung Mỵ. Anh hoảng hốt co người.
Hải thở gấp gáp. Anh không thể vượt qua cái mệt mỏi, nhức nhối của canh dài. Anh thiu thiu ngủ.
Một hồi chuông tàu điện sớm khua leng keng, Kung Mỵ choàng dậy.
Họ vít thúng bà hàng quà rong ăn nắm xôi sáng và tìm đường lên Cầu Giấy. Bà hàng xôi trố mắt nhìn Hải và Kung Mỵ, giọng bổi hổi bảo rằng cái ghế đá này có ma. Ma ghế, ma xó mà dám nằm ngủ, không sợ ư? Chao ôi! – Bà thì thào, mặt nhợt nhạt – Dưng mà về khuya cơ, ma nó mới hóa thành trai lơ quấy nhiễu đàn bà con gái đấy!
Kung Mỵ không hiểu, cô dường như chưa trải qua buổi tối đi bộ lếch thếch, đói cào xé ruột gan, ngủ lăn lóc trên ghế ma. Kung Mỵ trở lại là cô tiên, dang đôi cánh nhỏ nhảy nhót trên tán cây rừng.
Cô đứng bên ngoài những việc xảy ra trong đêm. Cô lớn lên giữa hương vị ngàn trùng các cánh rừng hoang sâm sấp nước đầu nguồn sông Mã. Cô chạy như bay ra bờ hồ Gươm vục hai tay xuống nước. Cái kiểu nghịch nước hồn nhiên như vầy nước suối ở Chiềng Xoy làm cô tươi tỉnh. Cô vén tóc, mím môi, bắt gặp trên mặt hồ giữa đô hội, hương vị ngàn trùng xa cách. Cô té nước lên cao, ngửa mặt hít thật sâu cái mùi trời rất trời, rất chung rất riêng, rất quen và rất lạ đó!
Đến Cầu Giấy, nắng hạ đã tròn con bóng, phượng đỏ rơi đầy lối xưa. Hải nghe trong lòng có tiếng động, không rõ là mừng vui hay than thở. Vì nếu trước kia không vì Trịnh thì cần gì Hải phải tới đây. Anh nhìn Kung Mỵ bảo cô đi sóng vai cùng anh. Kung Mỵ hớn hở đi trước Hải một bước. Đến trước cổng khu văn công Cầu Giấy thì Kung Mỵ lùi lại.
Hải nghĩ, đây là lối rẽ cuộc đời em! Kung Mỵ nhướn đôi lông mày tuyệt đẹp lên hỏi anh đang nghĩ gì thế? Hải không kịp trả lời Kung Mỵ. Hôm qua em líu ríu chào mẹ, chào Hsing lên tàu bay mà lòng đau như xé, túi thổ cẩm rời tay. Giờ thì em phải mạnh dạn lên!
Ông thường trực trả giấy giới thiệu lại cho Hải, hướng dẫn hai người đến phòng hiệu trưởng. Hải cầm tay Kung Mỵ bước qua bậc cửa. Việc tiếp nhận Kung Mỵ rất nhanh chóng vì cô có đầy đủ giấy tờ hợp lệ và là nữ chiến sĩ Pathet Lào.
Làn sóng học viên văn công chạy ào tới trước cửa phòng hiệu trưởng. Họ trầm trồ khen sắc đẹp đằm thắm của Kung Mỵ. Ai cũng muốn đón cô về trại ký túc của mình.
Kung Mỵ bịn rịn. Cô nghẹn ngào ấn vào lòng bàn tay Hải đồng “Piệc” trắng của mẹ cho làm vốn. Anh giữ hộ em! Của tin đấy, không được quên lớ! Kung Mỵ cười, nụ cười mỹ nhân, dịu dàng, long lanh nước mắt…!
Chuyện Hải kể cho chúng tôi nghe đến đây thì đêm đã khuya. Giữa Tokyo mà tất cả mọi người thấy nhớ Hà Nội ghê gớm. Kung Mỵ mở xách tay lấy ra một bọc gấm nhỏ xíu đựng đồng “Piệc” trắng, mỉm cười.
Hải chỉ vào Kung Mỵ bảo: “Vẫn là nụ cười ngày nào ở Cầu Giấy, nụ cười của một nữ Pathet Lào, đã từng làm tôi mê mẩn”.
Truyện ngắn của Trường Định
