Nghị trường "nóng" các vấn đề tài chính- ngân hàng

16/11/2017 22:26

Rõ trách nhiệm, rõ lộ trình và hướng khắc phục

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân điều hành Phiên chất vấn và trả lời chất vấn các thành viên Chính phủ. Ảnh: TTXVN


Phát biểu khai mạc phiên chất vấn, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nêu rõ, trên cơ sở đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và kết quả phiếu xin ý kiến các đại biểu về các nhóm vấn đề chất vấn, tại kỳ họp này, Quốc hội quyết định lựa chọn 4 nhóm vấn đề để tiến hành chất vấn.


Để hoạt động chất vấn đạt kết quả, hiệu quả cao, tăng tính đối thoại, Chủ tịch Quốc hội đề nghị, các đại biểu Quốc hội nêu nội dung chất vấn ngắn gọn, rõ ý, đi thẳng vào nội dung thuộc nhóm vấn đề được Quốc hội lựa chọn, bảo đảm đúng thời gian quy định.


Các bộ trưởng, trưởng ngành khi trả lời chất vấn cần đi thẳng vào vấn đề đại biểu Quốc hội nêu, trả lời thẳng thắn, xác định rõ trách nhiệm, lộ trình, hướng khắc phục trong thời gian tới.


Chủ tịch Quốc hội cho biết, sau phiên chất vấn, Quốc hội ban hành nghị quyết để ghi nhận các giải pháp, những vấn đề đã hứa của bộ trưởng, trưởng ngành để làm cơ sở cho Chính phủ, bộ, ngành triển khai thực hiện và các cơ quan của Quốc hội và nhân dân theo dõi giám sát.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng trả lời chất vấn. Ảnh: TTXVN



Trả lời 100% các kiến nghị của cử tri


Tiếp đó, Trưởng Ban Dân nguyện của Quốc hội Nguyễn Thanh Hải báo cáo với Quốc hội về kết quả giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với việc giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa 14.


Qua 1.570 cuộc tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp thứ ba, 63 đoàn đại biểu Quốc hội tổng hợp được 2.458 kiến nghị (KN) có nội dung thuộc tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội. Các KN đã được chuyển đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết. Đến nay, toàn bộ KN được trả lời (đạt 100%).


Tuy nhiên, Trưởng Ban Dân nguyện cũng nêu rõ, còn 570 KN của cử tri các tỉnh Hòa Bình, Yên Bái, Quảng Nam, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Bắc Ninh, Hà Nam, TP Hà Nội... chưa được giải quyết, trong đó các bộ còn nhiều KN chưa giải quyết nhất là Bộ Tài nguyên – Môi trường (80), Bộ Y tế (60); Có 352/570 KN không nêu lộ trình và thời hạn giải quyết là chưa đúng quy định của pháp luật; nội dung các KN chưa được giải quyết thuộc các vấn đề như nạn chặt phá rừng; phân bón giả; tiêu thụ sản phẩm trong nông nghiệp; ô nhiễm môi trường; khai thác, quản lý tài nguyên, khoáng sản; rác thải ở nông thôn; ảnh hưởng biến đổi khí hậu lên vùng núi Tây Bắc; tai nạn giao thông tại khu vực đường tránh tàu; vấn đề tuyển sinh của khối các trường sư phạm; quản lý giá thuốc, đấu thầu thuốc chữa bệnh; xây dựng trụ sở quá to, gây lãng phí; quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa; chế độ của công chức xã, phường; quản lý kinh doanh trò chơi điện tử,... cử tri các địa phương đang rất trông chờ Chính phủ có giải pháp đột phá để giải quyết dứt điểm các KN nêu trên.


Trên cơ sở giám sát việc giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ 3, Trưởng Ban Dân nguyện kiến nghị Thủ tướng thực hiện đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu bộ, ngành, chính quyền địa phương trong giải quyết, trả lời KN của cử tri theo Quyết định số 33 của Thủ tướng Chính phủ, công khai để cử tri và đại biểu Quốc hội biết, làm căn cứ đánh giá mức độ tín nhiệm.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Lê Minh Hưng trả lời chất vấn. Ảnh: TTXVN


Nhiều vấn đề nóng về tài chính-ngân sách


Nhiều đại biểu Quốc hội chất vấn Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng nhiều vấn đề nóng liên quan tới công tác tài chính- ngân sách, như: giải pháp kéo giảm thời gian kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu; bảo đảm an toàn nợ công, cân đối nguồn vốn đầu tư phát triển; quản lý hóa đơn thuế, chống thất thoát nguồn thu của nhà nước; ngăn chặn tình trạng chuyển giá của doanh nghiệp; công tác phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả; giải pháp bảo đảm thu chi ngân sách; đề nghị giải trình về các đề xuất tăng thuế; huy động, sử dụng hiệu quả vốn vay nước ngoài; trách nhiệm của Bộ trước tình trạng công chức hải quan sai phạm phải ra hầu tòa; chống thất thu thuế trong kinh doanh bất động sản, thương mại điện tử; về nuôi dưỡng nguồn thu, giải pháp đột phá về chống nợ đọng thuế, chống tiêu cực trong ngành thuế; xử lý bất cập trong thu thuế tài nguyên; ngăn chặn tình trạng thanh toán khống, rút ruột ngân sách; ngăn chặn cán bộ thuế tiêu cực thông đồng với người nộp thuế, gây thất thu ngân sách; bố trí ngân sách cho công nghệ thông tin; phân bổ ngân sách trung ương, địa phương...


Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho biết, thời gian qua cơ cấu nợ công theo hướng tăng vay trong nước, giảm vay nước ngoài. Năm 2011 vay nước ngoài là 60%, vay trong nước là 40%, nay vay trong nước là 60%, vay nước ngoài 39%. Vay trong nước có kỳ hạn cao tăng 2 lần, lãi suất giảm một nửa, danh mục trái phiếu tăng 6,7%/năm. Vay trong nước góp phần giảm nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ.


Bộ Tài chính tổng kết, đánh giá, báo cáo các cấp có thẩm quyền nhằm bảo đảm nợ công bền vững, Quốc hội cũng có nghị quyết về vấn đề này. Trong thời gian qua chúng ta thực hiện nhiều biện pháp quản lý chặt nợ công như: rà soát, hoàn thiện thể chế; quản lý chặt trần nợ công; quản lý chặt chẽ nguồn vốn vay ODA; xác định rõ mức bội chi ngân sách hằng năm; siết chặt bảo lãnh chính phủ; kiên quyết bám sát Nghị quyết 5 năm của Quốc hội trong chỉ đạo điều hành; bố trí cân đối nguồn bảo đảm trả nợ đúng hạn; tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm soát... Cùng với đó là các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, chuyển từ cấp phát sang cho vay lại, rõ trách nhiệm hơn, hạn chế tối đa bảo lãnh Chính phủ, phối hợp với kiểm soát chặt chẽ chi tiêu nợ công, đồng thời hoàn thiện hệ thống pháp luật về nợ công.

Đại biểu Quốc hội chất vấn các thành viên Chính phủ. Ảnh: TTXVN



Khắc phục tình trạng quyết định đầu tư tùy tiện


Giải trình làm rõ thêm về hiệu quả đầu tư công, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch - Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết: trước đây, do chưa có Luật Đầu tư công, nên việc quyết định đầu tư còn tùy tiện và vượt so với khả năng cân đối của ngân sách cả ở trung ương và địa phương. Cụ thể, trong các giai đoạn 2005 - 2010, 2011 - 2015, có hơn 20 nghìn dự án, cả lớn lẫn bé, cả của bộ, ngành, địa phương quyết định đầu tư, không rõ nguồn vốn ở đâu và không rõ có khả năng bao nhiêu để giải ngân được, nên dàn trải, dẫn đến số dự án thất thoát, phải dừng, giãn, hoãn rất lớn.


Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 1792 và luật hóa thành Luật Đầu tư công, trong giai đoạn 2016 - 2020, chỉ còn hơn 1.000 dự án, giảm đi rất nhiều, bám sát khả năng cân đối của ngân sách.


Tuy nhiên, với một số dự án có mức vượt lên nhiều so với tính toán và nhu cầu thực tế, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng khẳng định, “chưa có biện pháp để kiểm soát vấn đề này”. Hiện Chính phủ giao Bộ Xây dựng và các bộ, ngành liên quan xây dựng định mức để tính toán, làm cơ sở xây dựng dự toán và phê duyệt tổng mức đầu tư.


Về hiệu quả dự án đầu tư công chưa cao, theo Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng, do “việc triển khai đầu tư đang phải thực hiện nhiều thủ tục, như giải phóng mặt bằng, đấu thầu… làm cho thời gian kéo dài, vốn đầu tư vượt lên buộc phải điều chỉnh. Khi vượt lên không có nguồn để bố trí vốn, dẫn đến phải dừng, giãn, hoãn, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư công”.


Trong thời gian tới, Chính phủ sẽ ban hành kế hoạch tái cơ cấu đầu tư công, đồng thời Chính phủ giao Bộ Kế hoạch- Đầu tư tổng hợp, rà soát bất cập trong thực hiện Luật Đầu tư công, trình Chính phủ, Quốc hội sửa theo hướng bảo đảm quản lý chặt chẽ đầu tư công, giải quyết thủ tục thuận lợi, nhanh gọn cho các đối tượng áp dụng của Luật Đầu tư công, trong đó có cả Nghị định 136.


Khẳng định những hạn chế nêu trên không phải bất cập của Luật Đầu tư công, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nêu rõ, Luật Đầu tư công hiện hành rất tiến bộ, đã khắc phục nhiều hạn chế trong lĩnh vực đầu tư công. Tuy nhiên, “trong thực thi đầu tư công có những vấn đề cần rà soát lại”.



Chính phủ nói “không” với đề xuất tăng trần nợ công


Giải trình trước Quốc hội tại phiên chất vấn, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ cho biết, nợ công tăng cao, áp lực trả nợ lớn và đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2016 - 2020. Phó thủ tướng nói: “Chúng ta vừa phải bảo đảm phát triển nhanh, bền vững, vừa phải giải quyết những tồn tại nền kinh tế tích tụ từ nhiều năm. Đây là vấn đề nan giải đặt ra với toàn hệ thống chính trị. Trong bối cảnh này, nhiều chuyên gia khuyến cáo Chính phủ nghiên cứu trình Trung ương, Quốc hội nới trần nợ công để có thêm vốn cho đầu tư phát triển, bảo đảm quốc phòng- an ninh... Chính phủ tính toán kỹ, và thấy rằng trần nợ công chỉ là một yếu tố, quan trọng là khả năng trả nợ. Tới cuối năm 2016, vay trả nợ nước ngoài vượt quá giới hạn cho phép 25%”.


Vì thế, Chính phủ nói “không” với đề xuất tăng xin trần nợ công, Phó thủ tướng khẳng định và cho biết, thay vào đó Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính lập đề án giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, bảo đảm an toàn nợ công. Bộ Chính trị có riêng một nghị quyết về vấn đề này...



Quyết tâm chống tiêu cực trong ngành


Liên quan đến vụ án 213 công- ten -nơ tại cảng Sài Gòn biến mất, có 30 cán bộ hải quan ra toà nhưng không cán bộ bộ, ngành nào khác; hay vụ bắt 2 cán bộ hải quan Cảng Sài Gòn tiếp tay buôn lậu mà đại biểu Quốc hội nêu, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho biết, vụ 213 công-ten-nơ do Tổng cục Hải quan phát hiện và trong quá trình theo dõi, Bộ phối hợp với Bộ Công an để làm rõ. “Chúng tôi luôn chỉ đạo kiên quyết chống tiêu cực trong ngành. Thực tế đã triển khai rất nhiều giải pháp. Như tại An Giang bắt 46 cán bộ hải quan, đây là vụ việc Bộ Tài chính chỉ đạo và phối hợp Công an, do có gian lận hoá đơn năm 2013-2014. Hiện chuyển hồ sơ cơ quan điều tra. Từ vụ này, Bộ có báo cáo Chính phủ để sửa chính sách”, Bộ trưởng thông tin. Ông nhấn mạnh, quan điểm của Bộ là quyết tâm chống tiêu cực cả trong ngành và ngoài ngành. Hằng năm trung bình xử lý kỷ luật trên, dưới 300 cán bộ thuế, hải quan.


Bộ trưởng Bộ Tài chính thừa nhận trong các vụ việc này, ngoài nguyên nhân khách quan, phải nhìn thẳng vào sự thật đây chính là suy thoái trong một bộ phận cán bộ. Bộ sẽ quyết liệt rà soát các thủ tục, chế độ, chính sách và đấu tranh kiên quyết với hiện tượng này.


Trả lời ý kiến về thủ tục hải quan hiện còn quá rườm rà, nhất là kiểm tra chuyên ngành, Bộ trưởng cho biết, về giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả kiểm tra chuyên ngành, Bộ xây dựng đề án từ năm 2014 trình Chính phủ phê duyệt, trong đó giao trách nhiệm 13 bộ, ngành phải cải cách hành chính. Đến nay, các bộ, ngành đổi mới, sửa đổi 200 danh mục với hàng trăm nghìn mặt hàng...


Bộ trưởng nhấn mạnh việc kiểm tra chuyên ngành có 28% thuộc trách nhiệm của ngành Hải quan, còn 72% thuộc trách nhiệm của các bộ, ngành... Còn một số mặt hàng thuộc sự quản lý của nhiều bộ cần tập trung rà soát, chỉnh sửa,... Ví dụ, sữa chua, sữa bột khi nhập khẩu phải có 2 giấy phép của Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp- Phát triển nông thôn...Bộ trưởng khẳng định, trong 6 tháng đầu năm 2018 sẽ tạo chuyển biến căn bản trong thông quan hàng hóa.



Bức xúc chuyện chuyển giá


Bộ trưởng Bộ Tài chính thừa nhận, chuyển giá là vấn đề bức xúc của xã hội thời gian qua. Về pháp lý, năm 1995 Bộ Tài chính có văn bản hướng dẫn kiểm soát chuyển giá. Thời gian gần đây tiếp tục hoàn thiện các chính sách. Năm 2017, Bộ trình Chính phủ ban hành Nghị định 20 về quản lý thuế với doanh nghiệp phát sinh giao dịch liên kết và ban hành thông tư, dựa trên kinh nghiệm của OECD. Năm 2016 đã thanh tra, kiểm tra 1.406 cuộc tại doanh nghiệp FDI, truy thu truy hoàn 1.310 tỷ đồng. Tổng số giảm lỗ 1.983 tỷ đồng, giảm khấu trừ hơn 3 tỷ đồng. Năm 2017 thanh tra 1.288 doanh nghiệp, tổng số truy thu truy hoàn hơn 3.000 tỷ đồng. Thời gian tới sẽ tiếp tục triển khai đồng bộ.


Theo Bộ trưởng, trang thiết bị máy móc giá rẻ, kê khai giá cao, đưa vào sau này trích khấu hao là một dạng chuyển giá.



Quản lý chặt hóa đơn


Về ý kiến quản lý hóa đơn thuế của đại biểu Bùi Thu Hằng (Hòa Bình), Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho biết, chính sách thuế áp dụng cho kinh doanh có văn bản khá đầy đủ. Từ năm 2015 sửa đổi tính thuế theo hướng đơn giản, không theo biểu thuế lũy tiến trước 2015.


Về mức khoán, theo quy định, cán bộ thuế cấp xã, phường gửi thông báo, hộ kinh doanh tự khai; hội đồng thuế, xã, phường xét duyệt rồi ra thông báo đợt 1 gửi tới từng hộ. Các mức khoán này được thông báo tại trụ sở phường, cơ quan thuế. Hằng năm thông báo một lần, nhưng nếu phát sinh tăng 50% doanh thu sẽ được điều chỉnh. Hiện Bộ đưa quy trình áp dụng công nghệ thông tin vào xác định thuế khoán. Theo quy định, doanh nghiệp tự tính, tự khai, tự nộp thuế. Hóa đơn doanh nghiệp cũng tự in hoặc mua của cơ quan thuế. Bộ trưởng nhấn mạnh, thói quen của người dân làm khó công tác quản lý, do người mua hàng ít lấy hóa đơn và quen trả tiền mặt. Thời gian tới cần tập trung tuyên truyền, giải pháp xử lý vấn đề này.


Bộ trưởng cho biết đang xây dựng nghị định về hóa đơn điện tử cùng việc kê khai, tự tính, tự nộp, đã làm thí điểm ở một số tỉnh, doanh nghiệp. Nghị định sẽ trình Chính phủ trong năm nay. Sau khi được ban hành, Bộ trưởng cho rằng có thể quản lý tốt hơn. Ngoài ra, ông nhấn mạnh cần tăng cường tuyên truyền để người dân có thói quen mua hàng lấy hóa đơn. Mạnh hơn nữa thì khi thành lập doanh nghiệp phải có mã số thuế, có hóa đơn được kết nối với cơ quan thuế.


Để hạn chế tiền mặt theo đề án của Ngân hàng Nhà nước, Bộ trưởng cho biết sẽ tiếp tục phối hợp để đẩy mạnh không dùng tiền mặt trong trao đổi, mua bán hàng hóa.



Thẳng thắn, cầu thị


Kết luận phiên chất vấn và trả lời chất vấn của Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng,Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngânnêu rõ, trong phiên trả lời chất vấn, Bộ trưởng trả lời hầu hết nội dung chất vấn của các đại biểu. Những vấn đề chưa đủ thời gian để trả lời, Bộ trưởng sẽ trả lời bằng văn bản và được tổng hợp theo dõi, đăng trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội.


Chủ tịch Quốc hội nêu rõ, phiên chất vấn nhóm vấn đề này diễn ra sôi nổi, các đại biểu đặt câu hỏi thẳng thắn, cầu thị, có số liệu dẫn chứng. Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ trả lời làm rõ những vấn đề mà đại biểu chất vấn cũng như hướng khắc phục của ngành trong thời gian tới. Tuy nhiên, việc trả lời một số nội dung chưa có giải pháp mới, giải pháp mang tính đột phá, nhất là vấn đề liên quan đến quản lý nợ công, quản lý thuế, quản lý hóa đơn.


Qua chất vấn cho thấy, thời gian qua Chính phủ có nhiều chủ trương, giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an toàn nền tài chính quốc gia. Việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực thuế và hải quan tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh. Công tác quản lý thuế, hoạt động chống thất thu thuế nợ đọng được đẩy mạnh. Cơ cấu nợ Chính phủ có chuyển biến tích cực. Quản lý nợ công cơ bản đáp ứng được yêu cầu.


Tuy nhiên, các nội dung chất vấn vẫn cho thấy nhiều bất cập, hạn chế. Đó là quy mô thu ngân sách giảm, tình trạng trốn thuế, gian lận thương mại, thất thu thuế, nợ đọng thuế còn nghiêm trọng. Còn xảy ra nhiều sai phạm tiêu cực trong lĩnh vực thuế, hải quan. Tình trạng mua bán không sử dụng hóa đơn diễn biến phức tạp. Việc phát hiện và xử lý chuyển giá chưa cao. Công tác quản lý nợ công nhiều phức tạp. Nợ công và nghĩa vụ trả nợ tăng nhanh, sát mức trần cho phép, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn. Việc quản lý sử dụng vốn vay cho đầu tư công hiệu quả chưa cao.


Chủ tịch Quốc hội đề nghị Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính và các bộ, ngành liên quan tiếp thu ý kiến các đại biểu Quốc hội, chỉ đạo quyết liệt thực hiện các giải pháp đã đề ra để khắc phục các bất cập, hạn chế.


Điều hành chính sách tiền tệ hợp lý


Từ 15 giờ ngày 16-11, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Quốc hội tiến hành phiên chất vấn và trả lời chất vấn Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Lê Minh Hưng về việc điều hành chính sách tiền tệ bảo đảm hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và tăng trưởng tín dụng hợp lý; hoạt động của các ngân hàng yếu kém đã được xử lý và giải pháp bảo đảm an toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng.


Các đại biểu Hà Thị Minh Tâm (Hà Nam); Mai Thị Ánh Tuyết (An Giang); Trần Công Thuật (Quảng Bình); Đinh Duy Vượt (Gia Lai); Nguyễn Lâm Thành (Lạng Sơn); Nguyễn Sơn (Hà Tĩnh); Lê Công Nhường (Bình Định); Mai Sỹ Diến (Thanh Hóa) trực tiếp chất vấn Thống đốc về các giải pháp mới trong xử lý nợ xấu; giải pháp bảo đảm tốc độ tăng trưởng tín dụng phục vụ tăng trưởng GDP; đầu tư vốn cho lĩnh vực phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch; tiến độ cơ cấu lại các tổ chức tín dụng, xử lý ngân hàng yếu kém; việc hợp nhất, sáp nhập một số tổ chức tín dụng, mua ngân hàng với giá 0 đồng; giải pháp giảm lãi suất cho vay thương mại; giải pháp huy động vàng, ngoại tệ trong dân; mua bán nợ theo giá thị trường...


Theo Thống đốc, nhìn lại 3/4 chặng đường đã qua của năm 2017, có thể thấy, bên cạnh những khó khăn, thách thức, ngành ngân hàng cũng đón nhận không ít tin vui. Trong báo cáo công bố hôm 31-10, hãng xếp hạng tín nhiệm Moody's Investors Service nâng triển vọng đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam từ “ổn định” lên “tích cực” trong vòng 12-18 tháng tới, qua đó phản ánh kỳ vọng tăng trưởng kinh tế tươi sáng và bức tranh tích cực đối với các ngân hàng được xếp hạng tín nhiệm. Cùng với đó, lãi suất tiếp tục giảm, tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là hướng dòng tiền ngân hàng vào các lĩnh vực kinh tế cần ưu tiên phát triển, như nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Căn cứ xác định trần nợ công


Đại biểu Bùi Thanh Tùng (Hải Phòng) chất vấn Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng về các giải pháp cụ thể chống thất thu, trốn lậu thuế, đặc biệt trong lĩnh vực thất thu thuế xuất nhập khẩu. Đồng thời, đề nghị Bộ trưởng cho biết căn cứ để xây dựng các mức trần nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài quốc gia; trong thời gian tới, Bộ Tài chính có những biện pháp gì tham mưu với Chính phủ, Quốc hội để bảo đảm duy trì các mức trần này mà không phải nâng mức trần.
Trả lời chất vấn của đại biểu Bùi Thanh Tùng về giải pháp khắc phục thất thu do trốn lậu thuế, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho biết: thứ nhất là hoàn thiện thể chế; thứ hai là tăng cường thanh tra, kiểm tra; thứ ba là phối hợp các ngành để làm tốt việc này. Theo Bộ trưởng, càng thanh tra, kiểm tra càng thấy sai phạm rất lớn. Nhưng phải qua thanh tra, kiểm tra mới phát hiện và xử lý được.


Về căn cứ nào để xác định trần nợ công và giải pháp nào để duy trì trần nợ công mà không phải điều chỉnh, theo Bộ trưởng, hiện nay khống chế mức trần không quá 65% GDP, nợ Chính phủ không quá 54% và nợ nước ngoài quốc gia không quá 50%, nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ trên thu ngân sách không quá 25%.


Căn cứ xác định trần nợ công dựa trên cơ sở phù hợp với kiến nghị của IMF và World Bank. Tỷ lệ 65% cũng tương đồng các nước có cùng hệ số tín nhiệm với chúng ta như Ác-hen-ti-na, Đô-mê-ni-ca, Ác-mê-ni-a và một số nước trong khu vực như Phi-líp-pin và In-đô-nê-xi-a… Về giải pháp để bảo đảm trần, quản lý trần, thứ nhất là hoàn thiện thể chế, trước hết là hoàn thiện Luật Quản lý nợ công. Thứ hai, trong điều hành thực hiện nghiêm túc và chặt chẽ theo kế hoạch tài chính 5 năm đã được Quốc hội thông qua cũng như kế hoạch đầu tư công trung hạn; phải quản lý để tốc độ gia tăng nợ công tương đương hoặc thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế và trượt giá. Giai đoạn 2011 - 2015 vừa qua tốc độ tăng trưởng nợ công 18,4%, cao hơn 3 lần so với tốc độ tăng trưởng kinh tế- Bộ trưởng cho biết.