Nhìn lại các vụ án kinh tế trọng điểm : Bài học về quản lý cán bộ, cơ chế giám sát quyền lực
Thời gian gần đây, một loạt vụ án kinh tế gây thiệt hại với số tiền lên tới hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng được đưa ra xét xử. Các bị cáo trong các vụ án này hầu hết là những người giữ vị trí chủ chốt trong các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế quan trọng hàng đầu của đất nước, được Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao quản lý vốn, tài sản của quốc gia. Tuy nhiên, lợi dụng vị trí được giao, các bị cáo đã cố ý thực hiện hàng loạt hành vi làm trái quy định của Nhà nước, vi phạm pháp luật, gây thiệt hại không chỉ về kinh tế, mà còn tạo ra nhiều hệ lụy xã hội nghiêm trọng.
Báo Hải Phòng giới thiệu loạt bài viết về vấn đề này để giúp bạn đọc hiểu sâu hơn.
Hành vi cố ý làm trái của các bị cáo trong những vụ án này gây thiệt hại cho Nhà nước hàng nghìn tỷ đồng; khiến nhiều dự án “thoi thóp”, dang dở nằm “đắp chiếu”; nhiều khoản tiền chi sai mục đích làm lãng phí nguồn đầu tư lẽ ra đã có thể giúp giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội quan trọng của đất nước… Đó là những hậu quả tính toán được bằng con số. Bên cạnh đó, còn có những hậu quả khác không thể định lượng được, đó là làm mất niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, tạo tiền lệ xấu cho những hành vi sai phạm tương tự... Những tác động, ảnh hưởng nặng nề này nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ để lại những hậu họa khôn lường.
Gây thất thoát kinh tế nặng nề
Trong quý 1 - 2018, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đưa ra xét xử sơ thẩm 3 vụ án kinh tế nghiêm trọng, được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm chú ý, bởi đây là lần đầu một cán bộ nguyên là Ủy viên Bộ Chính trị bị đưa ra xét xử. Các bị cáo trong cả 3 vụ án có điểm chung là cố tình thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, làm trái quy định, gây thất thoát số tiền rất lớn cho Nhà nước. Sai phạm của các bị cáo đã bị Tòa tuyên phạt những mức án nghiêm khắc về các tội danh: Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, Tham ô tài sản, Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản. Đây là nhóm những tội danh xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và tội phạm về tham nhũng.

PVC được chỉ định thực hiện gói thầu EPC của Dự án Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2.
Trong vụ án xảy ra tại Tổng Công ty cổ phần Xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC), sai phạm nổi bật thể hiện trong quá trình thực hiện Dự án Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2. Bị cáo Đinh La Thăng (nguyên Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tập đoàn Dầu khí Việt Nam - PVN) là người đề ra chủ trương và chỉ định PVC thực hiện gói thầu EPC, chỉ đạo Tổng Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PVPower) ký hợp đồng EPC số 33 với PVC trái quy định, sau đó chỉ đạo cấp dưới tại PVN và Ban Quản lý dự án căn cứ hợp đồng này cấp tạm ứng 6.607.500 USD và hơn 1.312 tỷ đồng cho PVC để bị cáo Trịnh Xuân Thanh (nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị PVC) và đồng phạm sử dụng trên 1.115 tỷ đồng tiền tạm ứng vào mục đích khác (không đưa vào Dự án Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2), gây thiệt hại cho Nhà nước số tiền gần 120 tỷ đồng. Cũng trong vụ án này, Trịnh Xuân Thanh là người đề ra chủ trương, chỉ đạo cấp dưới lập khống hồ sơ, rút hơn 13 tỷ đồng từ Ban điều hành Dự án Vũng Áng - Quảng Trạch để chia nhau sử dụng cá nhân.
Có thể nói, số tiền thiệt hại gần 120 tỷ đồng và 13 tỷ đồng tiền mà các bị cáo tham ô chưa nói được hết tính chất mức độ nghiêm trọng của vụ án. Ngoài việc gây thiệt hại ban đầu xác định được, việc làm trên của các bị cáo còn làm thời gian thực hiện dự án kéo dài gấp đôi, làm đội vốn đầu tư gần chục nghìn tỷ đồng, số tiền nếu phạt theo tiến độ bị chậm so với kế hoạch của hợp đồng lên tới hàng trăm triệu USD; khi có vốn tạm ứng thì sử dụng trái nguyên tắc, gây thất thoát lớn vốn Nhà nước…
Hai ngày sau khi bị tuyên án trong phiên tòa nói trên, Trịnh Xuân Thanh lại tiếp tục cùng với 7 bị cáo khác bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đưa ra xét xử sơ thẩm về hành vi tham ô tài sản xảy ra tại Công ty cổ phần bất động sản điện lực dầu khí Việt Nam (PVP Land). Trong vụ án này, Trịnh Xuân Thanh với vai trò là Chủ tịch Hội đồng Quản trị PVC (Tổng công ty sở hữu 28% vốn điều lệ của PVP Land) chỉ đạo, móc nối, thông đồng với các đồng phạm để thực hiện ký Hợp đồng chuyển nhượng tại dự án Nam Đàn Plaza với giá 34 triệu đồng-m2, thấp hơn giá trị thực tế đã đặt cọc 52 triệu đồng-m2, để lấy số tiền chênh lệch hơn 87 tỷ đồng và cùng nhau chiếm đoạt 49 tỷ đồng. Hành vi của các bị cáo không chỉ xâm hại đến số tiền đặc biệt lớn (hơn 87 tỷ đồng) của Nhà nước, mà còn làm cho dự án Nam Đàn Plaza bị đình trệ, không triển khai được từ năm 2010 đến nay; làm cho 9.584 m2 đất của dự án tại đường Phạm Hùng (quận Nam Từ Liêm, Hà Nội) không được đưa vào khai thác sử dụng, gây lãng phí, thiệt hại cho Nhà nước và xã hội.
Tiếp đó, trung tuần tháng 3-2018, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đưa ra xét xử sơ thẩm bị cáo Đinh La Thăng cùng 6 đồng phạm trong vụ án PVN góp vốn 800 tỷ đồng vào Ngân hàng Đại Dương (OceanBank). Bản án sơ thẩm đã kết luận, từ tháng 9-2008, bị cáo Đinh La Thăng chỉ đạo và quyết định việc PVN góp vốn vào OceanBank để PVN trở thành cổ đông chiến lược của Ngân hàng này. Thực hiện chỉ đạo và chủ trương của Đinh La Thăng, các bị cáo trong vụ án đã tích cực thực hiện 3 lần góp vốn của PVN vào OceanBank với tổng số tiền 800 tỷ đồng. Hậu quả, với năng lực yếu kém của OceanBank và những hành vi vi phạm của Hà Văn Thắm (nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị OceanBank), OceanBank bị thua lỗ nghiêm trọng, không còn giá trị vốn của chủ sở hữu; dẫn đến toàn bộ số tiền 800 tỷ đồng vốn góp của PVN (là số vốn của Nhà nước giao cho PVN quản lý) tại OceanBank bị mất hoàn toàn khi Ngân hàng Nhà nước bắt buộc phải mua lại OceanBank để khắc phục các hậu quả thiệt hại nặng nề do ngân hàng này gây ra.
Tạo ra những hệ lụy xã hội nghiêm trọng
Trong cả 3 vụ án nêu trên, hầu hết các bị cáo đều là những người có chức vụ, quyền hạn, trách nhiệm trong việc quản lý tài sản, điều hành các doanh nghiệp Nhà nước, là những cán bộ từng trải qua nhiều hoạt động công tác, có quá trình rèn luyện, phấn đấu để được giao quản lý các nguồn lực kinh tế của đất nước. Nhưng trên các cương vị và trọng trách được giao, các bị cáo đã đưa ra những quyết định trái quy định của Nhà nước trong quản lý kinh tế, dẫn đến thất thoát số tiền đặc biệt lớn, gây thiệt hại cho Nhà nước, cho lợi ích chung.
Những sai phạm đó ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, đến việc điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ, gây ra tiền lệ xấu về nền nếp trong quản lý kinh tế nói chung. Những quyết định đầu tư sai trái mà hậu quả là những dự án thua lỗ, nằm “đắp chiếu” như Dự án Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2, Ethanol Phú Thọ… đang tạo thêm những gánh nặng không đáng có đối với nền kinh tế và xã hội. Thay vì sử dụng các nguồn lực cho phát triển xã hội, các bị cáo bất chấp quy định của pháp luật, sử dụng các khoản đầu tư cho các mục đích tư lợi, làm chậm lại tiến trình phát triển của đất nước.
Theo ông Phạm Ngọc Thảo (nguyên Phó chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội), hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế nêu trên của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm đối với xã hội, không chỉ gây thiệt hại hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng của Nhà nước, mà còn xâm hại đến sự đúng đắn, liêm chính và trách nhiệm quản lý tài sản Nhà nước, xâm hại nghiêm trọng đến uy tín, đạo đức của đội ngũ cán bộ công chức trong bộ máy quản lý Nhà nước nói chung và quản lý doanh nghiệp Nhà nước nói riêng, làm giảm sút niềm tin của nhân dân về hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp Nhà nước.
Thẩm phán Trương Việt Toàn (Phó chánh Tòa Hình sự, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội) cũng cho rằng, ngoài những hậu quả về kinh tế, hành vi của các bị cáo còn gây những hậu quả khác không thể đong đếm được, đó là lòng tin của nhân dân đối với Đảng - điều có ý nghĩa cực kỳ to lớn, quyết định sự phát triển của đất nước. Do đó, công cuộc phòng, chống tham nhũng cần phải làm quyết liệt, triệt để hơn nữa để “trước hết lấy lại lòng tin của nhân dân”.
Một hệ lụy nữa, theo ông Trương Việt Toàn, chính là đất nước bị mất cán bộ, chất xám bị “chảy máu”. Không những bị cáo từng giữ vai trò lãnh đạo phải chịu trách nhiệm hình sự, còn kéo theo hàng loạt cán bộ chủ chốt trong các doanh nghiệp, tập đoàn bị xử lý. Đau xót hơn cả, trong số đó có nhiều người có trình độ xuất sắc, được đào tạo bài bản, được rèn luyện qua nhiều vị trí công tác, có những người từng là nhà khoa học nhận được nhiều giải thưởng danh giá… nhưng đã tự đánh mất bản lĩnh trước sự cám dỗ của lợi ích.
Hành vi phạm tội của các bị cáo còn là biểu hiện của sự suy thoái về mặt đạo đức công vụ của một bộ phận cán bộ, công chức; là một phần của tệ nạn tham nhũng, thể hiện lợi ích cục bộ của cá nhân và các nhóm lợi ích. Việc làm sai trái của các bị cáo không chỉ trái với chỉ đạo của Đảng, trái với nguyên tắc quản lý của Nhà nước, mà quan trọng hơn cả là trái với lòng dân.
Bài 2: Sai phạm có hệ thống
Điểm chung của các bị cáo trong những vụ án này chính là sự coi thường, bất chấp luật pháp, biết sai nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi vi phạm… Ngoài bị cáo chủ mưu trực tiếp chỉ đạo, còn có những bị cáo khác là cấp dưới song cũng tích cực tiếp tay cho cấp trên thực hiện hành vi cố ý làm trái, phần nhỏ là do ý thức pháp luật kém, phần nhiều là do tự họ lựa chọn việc tuân thủ quyết định của người đứng đầu để bảo toàn lợi ích vật chất của bản thân.
Cấp trên: Bất chấp luật pháp
Nhìn lại các vụ án, những người thực hiện hành vi cố ý làm trái phần lớn là người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước. Những người này nắm quyền hành tập trung trong tay, nên càng dễ dàng thực hiện các hành vi vi phạm nhằm thỏa mãn lợi ích cá nhân. Họ phê duyệt các chương trình, dự án đầu tư; đề ra các chủ trương thiếu minh bạch; đặt ra những quy định điều hành, cách quản lý mập mờ... để bằng cách này hay cách khác, thu lợi cho bản thân, cho một nhóm lợi ích, làm xâm hại đến quyền lợi chung của Nhà nước, của xã hội.
Điển hình là vụ án góp vốn 800 tỷ đồng của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) vào Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương (OceanBank). Bỏ qua cảnh báo của cấp dưới, bị cáo Đinh La Thăng (nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị/Hội đồng Thành viên PVN) mặc dù không tổ chức cuộc họp Hội đồng Quản trị, không lấy ý kiến các thành viên Hội đồng nhưng vẫn ký thỏa thuận với Hà Văn Thắm (nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị OceanBank) để PVN tham gia góp vốn 800 tỷ đồng vào OceanBank. Từ chủ trương góp vốn không tuân thủ nguyên tắc này của bị cáo Đinh La Thăng, toàn bộ số tiền 800 tỷ đồng của PVN góp vốn vào OceanBank bị mất hoàn toàn khi OceanBank bị âm vốn chủ sở hữu và thua lỗ nghiêm trọng.
Rõ ràng, trong vụ án này, bị cáo Đinh La Thăng biết rõ tình trạng yếu kém của OceanBank; biết rõ theo các quy định pháp luật khi muốn đầu tư vốn để trở thành cổ đông chiến lược của OceanBank, phải báo cáo xin chủ trương và phải được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ trước khi ký Thỏa thuận góp vốn và ban hành nghị quyết về việc tham gia góp vốn vào OceanBank. Nhưng bị cáo Thăng đã cố ý bỏ qua các bước thủ tục bắt buộc đó và chỉ đạo cấp dưới thực hiện các hành vi trái với quy định của Nhà nước; bị cáo đã thực hiện các hành vi vi phạm trước, sau đó mới có báo cáo Thủ tướng và các cơ quan có liên quan nhằm hợp thức hóa các sai phạm của mình (làm trước, báo cáo sau).
Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Đinh La Thăng vẫn cho rằng bị cáo làm đúng pháp luật và đã được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ. Lời khai của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật khi không thực hiện các yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính về các biện pháp bảo đảm hiệu quả cho các hoạt động đầu tư và sự né tránh trách nhiệm của người đứng đầu trước những thiệt hại của PVN.
Trong sai phạm xảy ra tại PVN và Tổng Công ty cổ phần xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC), vai trò chủ mưu, khởi xướng, bất chấp pháp luật của Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh cũng được thể hiện rất rõ. Là một đơn vị thành viên của PVN, năm 2010, PVC - do Trịnh Xuân Thanh làm Chủ tịch Hội đồng quản trị - đầu tư dàn trải, không hiệu quả dẫn tới tình hình tài chính của PVC lâm vào tình trạng mất cân đối nghiêm trọng. Thay vì tìm các giải pháp căn cơ để khắc phục khó khăn cho PVC, PVN lại giao cho PVC gánh vác thêm các khoản đầu tư có nợ xấu và thua lỗ của 5 dự án tại PVFC (Tổng Công ty tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam) với giá trị lên tới 793 tỷ đồng.
Mặc dù biết rõ PVC đang phải đối mặt với những vấn đề tài chính của chính mình và chưa có năng lực, kinh nghiệm để thi công những dự án nhiệt điện lớn, nhưng bị cáo Đinh La Thăng với vai trò là Chủ tịch Hội đồng thành viên của PVN vẫn giao cho PVC thực hiện gói thầu EPC (gói thầu bao gồm toàn bộ các công việc thiết kế, cung cấp thiết bị, vật tư và xây lắp) của Dự án Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 - một công trình trọng điểm quốc gia theo hình thức chỉ định thầu.
Mặt khác, trong khi dự án đầu tư hiệu chỉnh chưa được phê duyệt, chưa có thiết kế kỹ thuật tổng thể, tổng dự toán, thiết kế bản vẽ thi công, hồ sơ yêu cầu, hồ sơ dự thầu và một loạt các thủ tục pháp lý khác có liên quan…, bị cáo Đinh La Thăng vẫn cố tình chỉ đạo cấp dưới ký kết Hợp đồng EPC số 33 (Hợp đồng EPC là hợp đồng thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình) và Hợp đồng chuyển đổi chủ thể số 4194 với giá trị lên tới 1,2 tỷ USD. Theo kết luận tại tòa, thực chất việc ký kết các hợp đồng này chỉ nhằm mục đích lấy tiền của PVN để chuyển cho PVC đang chìm trong nợ nần, tạo điều kiện cho PVC sử dụng không đúng mục đích 1.115 tỷ đồng, gây thiệt hại cho PVN gần 120 tỷ đồng.
Cấp dưới: Thỏa hiệp
Trong các vụ án kinh tế lớn được đưa ra xét xử thời gian qua, ngoài vai trò chính của các bị cáo đầu vụ luôn có sự thỏa hiệp của các bị cáo đồng phạm cấp dưới. Thực hiện Dự án Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2, mặc dù biết rõ PVC không đủ năng lực và kinh nghiệm, nhưng bị cáo Phùng Đình Thực (nguyên Tổng Giám đốc PVN) vẫn cùng bị cáo Đinh La Thăng và Nguyễn Quốc Khánh (nguyên Phó Tổng Giám đốc PVN) chỉ đạo việc ký Hợp đồng EPC trái quy định, sau đó chỉ đạo cấp dưới tại PVN và Ban Quản lý dự án tạm ứng cho PVC để Trịnh Xuân Thanh và đồng phạm sử dụng không đúng mục đích, gây thiệt hại cho Nhà nước số tiền gần 120 tỷ đồng.
Tương tự, trong vụ PVN góp vốn 800 tỷ đồng vào OceanBank, chỉ trong khoảng hơn 10 ngày, Phó Tổng giám đốc PVN Nguyễn Ngọc Sự ký hai văn bản gửi bị cáo Đinh La Thăng báo cáo về năng lực yếu kém của OceanBank. Tuy nhiên, dù biết rất rõ tình trạng yếu kém của OceanBank, Nguyễn Ngọc Sự và các bị cáo khác như Nguyễn Xuân Sơn (nguyên Phó Tổng Giám đốc PVN), Ninh Văn Quỳnh (nguyên Kế toán trưởng kiêm Trưởng Ban Tài chính kế toán và Kiểm toán PVN); Vũ Khánh Trường, Nguyễn Thanh Liêm và Nguyễn Xuân Thắng (đều nguyên là thành viên Hội đồng thành viên PVN) vẫn tuân thủ sự chỉ đạo của cấp trên (Đinh La Thăng), tham gia ký vào các quyết định, văn bản liên quan đến việc góp vốn của PVN vào OceanBank.
Hay như trong vụ án Hà Văn Thắm và các đồng phạm thực hiện hành vi chi lãi trái quy định, ngoài các bị cáo dưới quyền tại Hội sở, có đến 34 bị cáo nguyên là Giám đốc các chi nhánh, phòng giao dịch của OceanBank phải hầu tòa do thực hiện theo sự chỉ đạo của Hà Văn Thắm. Nhiều bị cáo khai trước Tòa, mặc dù biết rõ việc làm đó là vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, song do chỉ là người làm công ăn lương nên buộc phải tuân thủ mệnh lệnh của cấp trên thực hiện hành vi sai trái.
Hậu quả của việc làm trái là một chuỗi các mắt xích hoạt động liên kết với nhau, từ người lãnh đạo đề ra chủ trương, ý tưởng, chỉ đạo, triển khai trên toàn hệ thống, từ Tổng Giám đốc đến các Phó Tổng Giám đốc, các khối, ban ở Hội sở xuống các chi nhánh, phòng giao dịch và đến từng cán bộ, nhân viên của OceanBank; mỗi đơn vị và cá nhân của OceanBank đều tham gia vào một công đoạn trong quá trình “chi sai” đó với tính chất, mức độ hành vi và để lại hậu quả khác nhau. Tại tòa, các bị cáo thừa nhận đã nhận thức rõ đó là chủ trương và việc làm trái với quy định của Nhà nước.

Nhà máy ethanol Phú Thọ để hoang sau nhiều năm dừng thi công.
Vào thời điểm năm 2011, do OceanBank gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động vốn, Hà Văn Thắm lớn tiếng cảnh báo: “Nếu anh chị nào không huy động được tiền, không làm được việc thì đứng ra một bên cho người khác làm”. Trước tình cảnh đó, vì lo sợ không giữ được việc làm nên hầu hết các bị cáo cấp dưới đều làm theo chỉ đạo của Hà Văn Thắm. Trong lời khai tại Tòa của bị cáo Nguyễn Thị Kiều Liên (nguyên Giám đốc OceanBank chi nhánh Vũng Tàu) cũng thừa nhận việc bỏ qua quy định, quyết định chi “chăm sóc khách hàng” để giữ chân họ.
Việc ép buộc cấp dưới thực hiện hành vi làm trái còn thể hiện rõ trong lời đe dọa cách chức của Trịnh Xuân Thanh đối với Nguyễn Ngọc Sinh (nguyên Tổng Giám đốc Công ty cổ phần bất động sản Điện lực Dầu khí Việt Nam – PVP Land) và Đào Duy Phong (nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị PVP Land) nếu những người này không ký hợp đồng chuyển nhượng đất của dự án Nam Đàn Plaza với giá thấp hơn thực tế để lấy tiền chia nhau.
Sự độc đoán, vô nguyên tắc của cấp trên trong đưa ra quyết định, sự thỏa hiệp của cấp dưới trong việc thực hiện những quyết định vi phạm pháp luật không chỉ làm thất thoát nghiêm trọng nguồn tiền đầu tư của Nhà nước và xã hội, mà còn dẫn tới sự thất bại thảm hại của doanh nghiệp và kết cục bi đát của các cá nhân có liên quan.
Bài 3: Lợi ích che mờ lý trí và nhân cách
Giai đoạn khai báo tại cơ quan điều tra cũng như quá trình thẩm vấn, tranh tụng tại phiên tòa, không ít bị cáo đưa ra những lý do mang tính ngụy biện như: nhận thức hạn chế, không phụ trách về lĩnh vực tài chính nên không cập nhật được các quy định pháp luật, không được các cơ quan quản lý Nhà nước cảnh báo kịp thời. Thậm chí, có bị cáo còn viện dẫn, đổ thừa cho các cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước… Vậy đâu là động cơ và nguyên nhân dẫn đến các sai phạm của các bị cáo trong các vụ án kinh tế lớn vừa được đưa ra xét xử?
Sự cám dỗ của lợi ích
Trước hết, phải khẳng định rằng vi phạm của các bị cáo trong những vụ án này là do chính bản thân họ, không thể đổ lỗi cho cơ chế chính sách, cho hoàn cảnh khách quan, càng không thể đổ lỗi cho việc luật pháp còn có những kẽ hở, chưa hoàn thiện, cả “làng” cùng làm nên “đụng” vào ai là người ấy “chết”… Trên thực tế, không ai ép buộc các bị cáo phải thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật đó. Sai phạm là do họ tự lựa chọn và tự đi quá giới hạn của pháp luật. Nhà nước giao cho doanh nghiệp vốn để kinh doanh, trao quyền tự chủ để doanh nghiệp quản lý nguồn vốn đó sao cho hiệu quả. Bản thân người chủ doanh nghiệp luôn phải tính toán kế hoạch kinh doanh với lợi ích cao nhất để bảo toàn vốn của Nhà nước. Song, trong những vụ án kinh tế này, các bị cáo bất chấp pháp luật, bất chấp rủi ro, đầu tư tràn lan… gây thất thoát số tiền đặc biệt lớn cho Nhà nước. Có thể nhìn nhận, động cơ phía sau của các bị cáo thường là lợi ích cá nhân, lợi ích của một nhóm cùng câu kết, cùng hưởng lợi.
Bị cáo Đinh La Thăng (nguyên Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tập đoàn Dầu khí Việt Nam - PVN) “ưu ái” chỉ định tổng thầu dựa trên mối quan hệ thân thiết với Trịnh Xuân Thanh (nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tổng Công ty cổ phần Xây lắp dầu khí Việt Nam - PVC) mà không màng đến hiệu quả của số tiền đầu tư. Hệ quả là số tiền hơn 1.100 tỷ đồng đó không được đầu tư đúng mục đích, gần 120 tỷ đồng của Nhà nước bị thất thoát, sự chậm trễ của dự án, sự lãng phí của những khối máy móc nằm “trơ gan cùng tuế nguyệt”… Nhiều khoản tiền thất thoát được xác định để sử dụng vào các mục đích vi phạm pháp luật.
Trong vụ án Hà Văn Thắm và các đồng phạm xảy ra tại Ngân hàng Đại Dương (OceanBank), bị cáo Nguyễn Xuân Sơn (khi ấy là Tổng Giám đốc OceanBank) lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình cũng như vị thế ảnh hưởng của PVN với tư cách là cổ đông chiến lược của OceanBank để chi phối, yêu sách, áp đặt và chỉ đạo Hà Văn Thắm thực hiện việc thu phí, chi lãi suất trái pháp luật nhằm mục đích trục lợi. Qua đó, Nguyễn Xuân Sơn nhận và chiếm đoạt số tiền đặc biệt lớn, sử dụng số tiền chiếm đoạt được vào mục đích cá nhân và chia chác cho một số mối quan hệ thân hữu.
Trong mối quan hệ giữa PVN và OceanBank, yếu tố lợi ích nhóm cũng thể hiện rõ khi Đinh La Thăng ký đến hai văn bản yêu cầu các công ty thành viên, công ty con, cán bộ, công nhân viên phải sử dụng các dịch vụ của OceanBank. Thậm chí, khi biết rõ OceanBank là một ngân hàng có năng lực kém, tính thanh khoản thấp, Đinh La Thăng vẫn quyết định góp 800 tỷ đồng vốn Nhà nước. Trước Tòa, Đinh La Thăng vẫn cho rằng, OceanBank luôn làm ăn có lãi, PVN luôn được chia cổ tức trong nhiều năm. Tuy nhiên, theo số liệu thanh tra, số tiền hơn 224 tỷ đồng chia cổ tức PVN nhận từ OceanBank có nguồn gốc từ vốn điều lệ của OceanBank chứ không phải lấy tiền lãi từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng này.
Thực tế, đối với Hà Văn Thắm (nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị OceanBank), 800 tỷ đồng của PVN góp vào OceanBank chưa phải là lớn. Mục đích sâu xa hơn của Hà Văn Thắm có lẽ là khai thác tiềm năng khổng lồ của PVN. Hai văn bản của Đinh La Thăng giúp mục đích của Hà Văn Thắm trở thành hiện thực.
Ngay trong vụ án xảy ra tại Công ty cổ phần Bất động sản điện lực dầu khí Việt Nam (PVP Land), Trịnh Xuân Thanh cùng đồng phạm có sự móc nối, chỉ đạo, thông đồng với một số bị cáo khác để thực hiện việc ký hợp đồng chuyển nhượng cổ phần liên quan đến dự án bất động sản Nam Đàn Plaza của PVP Land với giá thấp hơn giá trị thực tế 18 triệu đồng/m2 để lấy 87 tỷ đồng, chia nhau chiếm đoạt. Trong số tiền này, Trịnh Xuân Thanh được chia 14 tỷ đồng “móc ruột” từ tiền của Nhà nước.
Bị cáo Ninh Văn Quỳnh khi còn là Kế toán trưởng kiêm Trưởng Ban Tài chính-Kế toán-Kiểm toán PVN “vô tư” nhận 20 tỷ đồng từ Nguyễn Xuân Sơn và cho rằng “đó là tiền cảm ơn”, vì “bản thân có những việc làm tác động PVN dành sự ưu ái cho OceanBank”. Rồi một loạt các bị cáo khác đương nhiên cho rằng hàng tỷ đồng “đục khoét” của Nhà nước ấy là “tiền cảm ơn” vì “ giúp cho một dự án, một hợp đồng được ký kết”. Họ không hề nghĩ rằng, đó là tiền mồ hôi nước mắt của nhân dân đóng góp với kỳ vọng xây dựng đất nước ngày càng phát triển.
Khi tư cách đạo đức bị tha hóa
Để đánh giá đúng nguyên nhân dẫn đến các hành vi sai phạm của các bị cáo, vấn đề con người luôn được xem xét kỹ lưỡng và thấu đáo. Từ đó, bộc lộ khá rõ nét sự tha hóa, biến chất, đánh mất tư cách của một số cán bộ, đảng viên “tay nhúng chàm” trong những vụ án này.
Theo Phó chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Trương Minh Hoàng, trước hết các bị cáo là người đứng đầu các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế cần phải thành khẩn nhận trách nhiệm về mình, nhìn thẳng vào sự thật về sự tha hóa, biến chất của bản thân, không thể đổ thừa cho nhận thức pháp luật hạn chế. Bởi, theo ông Trương Minh Hoàng, bất kỳ cán bộ lãnh đạo nào trước khi được cất nhắc cũng phải trải qua quá trình phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành, tích lũy đầy đủ cả về chuyên môn lẫn nhận thức pháp luật.
Chung quan điểm này, ông Phạm Ngọc Thảo (nguyên Phó chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội) cho rằng, việc các bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân chính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến những hành vi sai phạm. Bởi thực tế, nhiều người cùng điều kiện, hoàn cảnh như các bị cáo nhưng lại không mắc sai phạm, không đồng phạm và đứng lên tố cáo vi phạm. Các bị cáo nguyên là cán bộ, đảng viên trong những vụ án này không chấp hành theo Quy định về 19 điều đảng viên không được làm, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân.
Phân tích về vai trò của người đứng đầu trong các vụ án này, tiến sĩ Đinh Thế Hưng (Trưởng Phòng Tư pháp hình sự, Viện Nhà nước và Pháp luật thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) nhận định, đặc điểm tội phạm học của các tội về cố ý làm trái các quy định về quản lý kinh tế trong thời gian qua cho thấy đó là thường xảy ra dưới dạng đồng phạm. Tức là tội phạm khó có thể được thực hiện bởi cá nhân một người, mà cần có sự liên kết của nhiều người, trong đó đặc biệt quan trọng là vai trò của người đứng đầu. Nếu không có sự chỉ đạo, nhất trí phê duyệt, phê chuẩn của người đứng đầu, tội phạm khó có thể xảy ra và gây thiệt hại. Ngược lại, nếu người có chức vụ, quyền hạn trong tổ chức kinh tế của Nhà nước làm đúng trách nhiệm, không vụ lợi, kiểm tra, giám sát thường xuyên hoạt động của cấp dưới, tội phạm sẽ được hạn chế rất nhiều.
Nhìn lại một số vụ án kinh tế thời gian gần đây có thể thấy rất rõ vai trò trách nhiệm của người đứng đầu trong hệ thống hành vi sai phạm. Người đứng đầu đã mắc phải chủ nghĩa cá nhân, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ. Họ độc đoán, lấn át quyền của tập thể, tự ý quyết định công tác cán bộ, bắt tập thể phải phục tùng ý chí cá nhân. Hoặc do sự móc ngoặc, thỏa thuận ngầm “có đi có lại” giữa người đứng đầu với các thành viên khác nên công tác cán bộ thường phục vụ cho lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm.
Những cám dỗ về lợi ích cá nhân làm “mờ mắt” các bị cáo, khiến họ bỏ qua chuẩn mực về tư cách đạo đức của người cán bộ, bất chấp quy định của Nhà nước, sẵn sàng thách thức giới hạn pháp luật… nhằm cố tình thực hiện hành vi vi phạm.
Để ngăn chặn sai phạm ngay từ trong trứng nước, rất cần những chế tài xử lý nghiêm khắc, những hành lang pháp lý chặt chẽ, đầy đủ, đồng bộ để vừa răn đe, vừa cảnh cáo những ai còn có ý định thực hiện việc làm sai trái nhằm tham ô, chiếm hưởng tiền của Nhà nước, của nhân dân.
Bài 4: Xây dựng hành lang pháp lý chặt chẽ, đồng bộ
Bất kể vì động cơ, mục đích gì, sai phạm của các bị cáo trong các vụ án kể trên đều bắt nguồn từ hành vi cố tình làm trái các quy định của Nhà nước, vượt ra ngoài hành lang an toàn của pháp luật. Xảy ra tình trạng các bị cáo ngang nhiên vi phạm, coi thường pháp luật, phải chăng chế tài xử lý chưa đủ mạnh để có thể cảnh cáo, răn đe và phòng ngừa chung?
Cụ thể hóa pháp luật hình sự
Với khung hình phạt cao nhất lên tới 20 năm tù và cơ chế áp dụng các hình phạt bổ sung, hình phạt tiền, có thể nói, tội “Cố ý làm trái các quy định về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại Điều 165, Bộ luật Hình sự năm 1999 có chế tài xử phạt khá nghiêm khắc, đủ mang tính trừng phạt và răn đe. Tuy nhiên, thời gian qua, số lượng bị cáo bị truy tố về hành vi cố ý làm trái vẫn nhiều. Nguyên nhân được xác định là do lâu nay tội danh này được coi như là một cái “túi” quá rộng để xử lý tất cả những trường hợp cố ý làm trái các quy định về quản lý kinh tế, trong đó bao gồm cả những trường hợp mà cơ quan tố tụng không thể hoặc không muốn xử lý người phạm tội về những tội danh khác. Do quy định của điều luật này quá rộng, thiếu cụ thể, rõ ràng, nhiều cá nhân cho rằng hành vi của mình chỉ bị xử lý hành chính mà chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, vì thế họ ngang nhiên thực hiện sai phạm. Bên cạnh đó, cũng có không ít người biết là sai, biết là vi phạm quy định, nhưng do coi thường kỷ cương, coi thường pháp luật, nên vẫn cố tình thực hiện hành vi vi phạm, gây hậu quả nghiêm trọng.
Theo tiến sĩ Đinh Thế Hưng, Trưởng Phòng Tư pháp Hình sự - Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, tội “Cố ý làm trái các quy định về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” trong thực tế áp dụng 15 năm qua bộc lộ nhiều bất cập, không những ảnh hưởng đến thể chế kinh tế, đến những người làm kinh tế, mà còn gây nhiều khó khăn cho các cơ quan áp dụng pháp luật. Một trong những bất cập của nó là phạm vi quá rộng, khi số quy định về quản lý kinh tế rất lớn. Khắc phục nhược điểm này, Bộ luật Hình sự năm 2015 cụ thể hóa hành vi vi phạm các quy định về quản lý kinh tế trong các lĩnh vực cụ thể: Cạnh tranh, kế toán, đầu tư, xây dựng, đấu giá…
Việc Bộ luật Hình sự năm 2015 chia tội “Cố ý làm trái các quy định về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” thành 9 tội giúp cụ thể hóa các hành vi phạm tội trong các lĩnh vực khác nhau khiến các quy định của Bộ luật Hình sự về nhóm tội này chặt chẽ, rõ ràng hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân hóa và áp dụng trách nhiệm hình sự chuẩn mực hơn. Bởi lẽ, các quan hệ về quản lý kinh tế trong mỗi lĩnh vực có tầm quan trọng khác nhau, cần phải có chế tài với mức độ xử phạt nghiêm khắc tương xứng. Do đó, không thể có chế tài chung cho hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung như trước đây.
Phó viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội Đào Thịnh Cường cho rằng, việc quy định cụ thể 9 hành vi nếu vi phạm quy định sẽ bị xử lý hình sự này là bước tiến bộ của Bộ luật Hình sự năm 2015, giúp tất cả những nhà kinh doanh, các nhà quản lý “soi” vào đó để loại trừ hành vi vi phạm pháp luật. Sự tiến bộ này giúp hạn chế vi phạm từ cả hai phía. Luật càng cụ thể, người dân càng dễ biết để tránh; đồng thời cũng tránh để các cơ quan công quyền tùy tiện trong khi áp dụng, xử lý.
Tăng cường trách nhiệm trong kiểm tra, giám sát
Theo phân tích của Phó viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội Đào Thịnh Cường, có thể nhìn nhận trong những vụ án kinh tế nghiêm trọng kể trên, tính minh bạch, tính phản biện trong tổ chức, đoàn thể của những doanh nghiệp này gần như bị triệt tiêu. Ngay trong hệ thống ngân hàng, nhất là những ngân hàng cổ phần, vai trò của Trưởng Ban Kiểm soát là rất lớn, nhưng không bao giờ phát huy được. Hoạt động kiểm soát của ngân hàng bị tê liệt, không dám phản kháng, không dám kiểm tra, giám sát. Cấp dưới răm rắp nghe và làm theo chỉ đạo của cấp trên, biết sai vẫn cố tình thực hiện mà không có ý kiến phản bác. Xét cho cùng, điều này là do liên quan đến miếng cơm manh áo, đến bổng lộc, lợi ích… nên những bị cáo cấp dưới luôn phục tùng cấp trên.
Đồng quan điểm, luật sư Phan Trung Hoài, Phó chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, cho rằng việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế nhà nước là cần thiết, nhưng thể chế, cơ chế về thẩm định, kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, quản lý tài chính nội bộ hiện hành còn kém hiệu quả.
Thêm vào đó, các bộ, ngành chức năng chưa thực hiện tốt việc tham mưu, đề xuất, hoàn thiện cơ chế, chính sách và chưa kiểm soát được kịp thời tình hình, chưa phát hiện được đầy đủ và ngăn chặn có hiệu quả những quyết định sai trái về đầu tư, sử dụng vốn, phát triển thêm doanh nghiệp và mở thêm ngành nghề kinh doanh của lãnh đạo tập đoàn.
Vì thế, một điểm chung của các vụ án kinh tế trọng điểm là hành vi phạm tội của các bị cáo diễn ra trong thời gian dài nhưng không được phát hiện, chấn chỉnh, xử lý kịp thời. Gần như các sai phạm chỉ được phát hiện và xử lý khi có quyết tâm chính trị và chỉ đạo quyết liệt xử lý từ cơ quan cao nhất của Đảng và Nhà nước. Điển hình như trong vụ án Hà Văn Thắm (nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị OceanBank) và đồng phạm, việc thực hiện chủ trương chi lãi ngoài được thực hiện từ đầu năm 2011. Khi đó, Ngân hàng Nhà nước tiến hành thanh tra OceanBank, đã phát hiện vi phạm và bước đầu có kiến nghị khắc phục. Tuy nhiên, những vi phạm này bị bỏ lửng, không được xử lý triệt để, kéo dài đến tận năm 2014, khi Ngân hàng Nhà nước tiếp tục kiểm tra mới làm rõ được sai phạm trong việc chi lãi ngoài này. Lúc đó, những vi phạm của Hà Văn Thắm và đồng phạm không những không được khắc phục mà còn tiếp tục vi phạm mới mức độ lớn hơn, gây thiệt hại cho OceanBank hơn 1.576 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế của OceanBank lỗ hơn 10.000 tỷ đồng, tức âm vốn chủ sở hữu gần 2,5 lần. Nhìn nhận về trách nhiệm của việc xử lý không triệt để này, tháng 9-2017, khi xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội kiến nghị: “Ngân hàng Nhà nước xem xét trách nhiệm của các cán bộ cơ quan thanh tra, giám sát đã không làm hoặc làm không hết chức trách, nhiệm vụ của mình trong việc thanh tra, kiểm tra OceanBank giai đoạn 2009 - 2014; đồng thời kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Bộ Công an làm rõ trách nhiệm của các cá nhân thuộc Ngân hàng Nhà nước trong việc thanh tra, giám sát OceanBank, nếu có vi phạm thì xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật”.
Nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, Phó viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội Đào Thịnh Cường nhấn mạnh, vấn đề này đòi hỏi cơ chế kiểm tra, giám sát hoàn thiện, trong đó đặc biệt chú trọng đến công tác hậu kiểm, quy định rõ trách nhiệm của cán bộ tiến hành thanh tra, kiểm tra trong việc đôn đốc thực hiện khắc phục sai phạm sau kết luận thanh tra. Với chế tài đủ mạnh, những hành vi bỏ qua sai sót, làm không hết chức trách, nhiệm vụ hoặc không tổ chức thực hiện đôn đốc kiểm tra sau thanh tra, không thực hiện kết luận thanh tra… sẽ không có “đất” để nảy nở.
Bên cạnh những việc đã làm được, từ những sai phạm trong quá trình quản lý kinh tế thời gian qua, các cơ quan quản lý và cơ quan chức năng cần sớm xây dựng các giải pháp đồng bộ khác với mục tiêu chủ chốt là phòng ngừa và ngăn chặn từ xa.
Bài cuối: Phòng ngừa, ngăn chặn từ xa
Căn bệnh “Cố ý làm trái” được ví như những chiếc vòi bạch tuộc, chỗ nào sơ hở là vươn vòi ra chiếm lĩnh, tham ô, tham nhũng tài sản của Nhà nước, chiếm đoạt làm của riêng. Nó có khả năng thích ứng cao với nhiều “địa hình” kinh tế, có khả năng lách giữa những kẽ hở của pháp luật… Do vậy, để hạn chế hoạt động những chiếc vòi bạch tuộc này, rất cần những giải pháp tổng thể, đồng bộ nhằm ngăn ngừa từ xa, trong đó chú trọng tập trung làm trong sạch đội ngũ cán bộ đảng viên, thực hiện tốt công tác cán bộ, bảo đảm thu hồi được tài sản thất thoát cho Nhà nước, cho nhân dân.
Làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên ngay tại cơ sở
Nhiều năm qua, Ðảng và Nhà nước thường xuyên chỉ đạo, đưa ra các phương hướng, giải pháp phòng, chống tham nhũng với mục tiêu đặt ra là ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tạo bước chuyển biến rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời củng cố lòng tin của nhân dân, xây dựng Ðảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh, đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính. Công tác phòng, chống tham nhũng được Đảng và Nhà nước thực hiện dựa trên quan điểm vừa tích cực, chủ động phòng ngừa, vừa kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, trong đó phòng ngừa là chính.
Việc đưa các vụ án kinh tế ra xét xử nghiêm minh trong thời gian gần đây thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước và của toàn xã hội trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thể hiện rõ pháp luật không có vùng cấm, bất cứ ai, dù ở cương vị nào, nếu vi phạm đều bị xử lý theo pháp luật.
Đề xuất về những biện pháp phòng ngừa tội phạm kinh tế, tham nhũng, Phó chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Trương Minh Hoàng cho rằng phải thường xuyên kiểm kê, kiểm soát tài sản của cán bộ quản lý. Theo ông Trương Minh Hoàng, để ngăn ngừa tận gốc, trước hết phải kiểm soát về thu nhập, công khai, kê khai tài sản. Nếu kiểm soát chặt vấn đề đó, mới có thể kiểm soát được tài sản đầu vào của cán bộ ở đâu mà có, từ đâu hình thành nên. Kiểm soát được thu nhập, người có suy nghĩ tham lam, cố tình sai phạm để trục lợi cho mình sẽ không thực hiện được, hoặc muốn biếu xén cho người khác nhưng họ cũng bị kiểm soát thu nhập nên không dám nhận, khó mà thao túng được đội ngũ cán bộ, nhất là những người có chức có quyền.
Để tránh hình thức, cần niêm yết công khai bản kê khai tài sản này của cán bộ tại cơ quan và địa phương, tạo điều kiện cho tổ chức và người dân tăng cường công tác giám sát, phát hiện sai phạm ngay từ khi mới manh nha. Qua việc minh bạch công khai thông tin này, cán bộ kê khai tài sản sẽ không dám kê thiếu, kê sai tài sản, hạn chế tham nhũng, chiếm đoạt tiền của Nhà nước.
Ngoài ra, việc đơn giản hóa các thủ tục quy định, hoàn thiện chính sách tiền lương, có chế độ đãi ngộ phù hợp cho cán bộ, công chức, siết chặt kỷ cương, thực hiện công tác cán bộ một cách khoa học, phù hợp, công tâm, khách quan… cũng sẽ góp phần làm cho tham nhũng hết “đất sống”, khiến cho các cán bộ, công chức “không thể, không dám và không cần tham nhũng”.
Công tâm chọn người có đức, có tài
Một nguyên nhân nữa không thể không đề cập khi nhìn lại quá trình công tác của Đinh La Thăng (nguyên Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tập đoàn Dầu khí Việt Nam - PVN) và Trịnh Xuân Thanh (nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tổng Công ty cổ phần xây lắp dầu khí Việt Nam - PVC), đó là những bất cập, hạn chế trong quy trình đánh giá và bổ nhiệm cán bộ. Thực tế những sai phạm xảy ra tại PVN, PVC mà Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh là những người đứng đầu diễn ra từ những năm 2007 - 2008, nhưng suốt khoảng thời gian sau đó, Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh vẫn liên tục được xem xét, bổ nhiệm vào những vị trí công tác cao hơn.
Phân tích về vấn đề này, Phó chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Trương Minh Hoàng cho rằng, để xảy ra sai phạm nghiêm trọng trong các vụ việc thời gian qua, rõ ràng đây là sơ suất, sai lầm trong quá trình xem xét, quy hoạch, sử dụng cán bộ. “Cũng phải nói thêm rằng, những người cố ý thực hiện hành vi sai trái để đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, cũng rất tinh vi trong việc che giấu khuyết điểm. Bằng chứng là qua các bước hệ thống như vậy, làm chặt chẽ như vậy, càng ngày càng tốt như thế mà vẫn không bị phát hiện. Qua các vụ việc này, các tổ chức cơ sở trong hệ thống chính trị cũng cần phải rút kinh nghiệm trong quá trình xem xét, cân nhắc, quy hoạch, đào tạo cán bộ, có như vậy mới tránh được những sai lầm đáng tiếc như hiện nay khi phải đưa ra xét xử một nguyên Ủy viên Bộ Chính trị”, ông Trương Minh Hoàng nhận xét.
Đánh giá về công tác tổ chức cán bộ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Công tác cán bộ cực kỳ quan trọng, qua thực tiễn càng ngày càng thấy quan trọng, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, là gốc của mọi công việc, then chốt của then chốt. Bác Hồ từng nói, mọi việc thành bại đều do cán bộ, bố trí cán bộ đúng là khác, bố trí sai là khác, rất nguy hiểm”.
Tại Hội nghị toàn quốc ngành Tổ chức xây dựng Đảng năm 2017, triển khai nhiệm vụ năm 2018 do Ban Tổ chức Trung ương tổ chức hồi đầu năm 2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thẳng thắn nhìn nhận: “Công tác cán bộ còn nhiều khe hở, lỗ hổng, tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém; chưa có cơ chế để kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền một cách hiệu quả...”. Từ đó, Tổng Bí thư yêu cầu làm rõ những hạn chế này để kịp thời chấn chỉnh, rút kinh nghiệm; đồng thời thường xuyên chú trọng đến công tác cán bộ; tiếp tục hoàn thiện các quy trình, quy định, quy chế liên quan đến công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ một cách dân chủ, công khai, minh bạch. Tăng cường phân cấp gắn với kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực chặt chẽ, hiệu quả trong công tác tổ chức, cán bộ.
Điều này thể hiện quyết tâm cao của Đảng, Nhà nước ta trong việc bố trí, sử dụng cán bộ, cũng như công tác giám sát cán bộ, đảng viên một cách công tâm, khách quan, chặt chẽ, đúng quy trình thủ tục. Nhất là việc đánh giá cán bộ sao cho chính xác, chọn những người có đức, có tài để đưa vào bộ máy Đảng, chính quyền các cấp. Đây cũng là một cách hạn chế tham nhũng,, tiêu cực, phát huy khả năng của cán bộ có năng lực, dám đứng lên thẳng thắn bảo vệ cái đúng, kiên quyết can ngăn những việc làm sai, chống tệ bè phái, cục bộ, cá nhân chủ nghĩa, lợi ích nhóm. Qua đó, từng bước lấy lại niềm tin của nhân dân, củng cố uy tín của cấp ủy, tổ chức Đảng, giữ gìn danh dự và phẩm chất cách mạng của người đảng viên.
Để khắc phục những hạn chế, tồn tại của công tác cán bộ, ông Phạm Ngọc Thảo (nguyên Phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội) cho rằng, tổ chức Đảng trong mỗi bộ, ngành cần có quy hoạch cụ thể về công tác cán bộ thuộc ngành mình quản lý để có cơ sở lựa chọn người có tài, có đức. Việc quy hoạch cán bộ phải bảo đảm thực sự dân chủ, công khai, minh bạch, đặc biệt coi trọng người có kinh nghiệm, lầm việc hiệu quả tốt trong công tác thực tiễn, được quần chúng ở cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp tín nhiệm bầu ra, tuyệt đối không được áp đặt.
Việc tuyển chọn cán bộ cần kết hợp tốt giữa bằng cấp và kinh nghiệm thực tiễn, nhưng cần ưu tiên coi trọng kinh nghiệm thực tiễn và hiệu quả thực tiễn hơn bằng cấp. Ngoài ra, cần bảo đảm chế độ đãi ngộ phù hợp, thỏa đáng với hiệu quả thực tế để cán bộ yên tâm làm việc. Bên cạnh đó, cần có sự quan tâm, theo dõi, giúp đỡ thường xuyên, lắng nghe ý kiến phản ánh của quần chúng, nhân dân và Mặt trận Tổ quốc nơi cư trú về cán bộ đó.
Triệt để thu hồi tài sản tham nhũng
Bên cạnh việc xử lý nghiêm các đối tượng thực hiện hành vi tham nhũng, vấn đề được cả xã hội quan tâm là làm thế nào để thu hồi được tài sản bị tham nhũng. Đây cũng là nội dung được Đảng và Nhà nước ta đặt mục tiêu kiên quyết thực hiện. Việc thu hồi tài sản đã được thể chế hóa tại nhiều đạo luật như Luật Phòng, chống tham nhũng, Bộ luật Hình sự, trong đó đề ra các biện pháp nghiêm khắc để thu hồi tài sản tham nhũng, ví dụ như tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, kê biên, phong tỏa tài sản trước khi xét xử...
Tuy nhiên, theo thẩm phán Trương Việt Toàn (Phó chánh tòa Hình sự, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội), có thực tế là việc thu hồi tài sản tham nhũng rất khó khăn. Bởi lẽ các hành vi tham nhũng không được kịp thời phát hiện, đã xảy ra trong một thời gian dài. Chính vì thế, hậu quả rất lớn, gần như tỷ lệ thuận với thời gian thực hiện hành vi tham nhũng. Thời gian sai phạm càng kéo dài bao nhiêu, tài sản tham nhũng càng lớn bấy nhiêu, việc thu hồi càng khó khăn bấy nhiêu. Thời gian đó đủ dài để các đối tượng phạm tội tẩu tán, cất giấu những tài sản đã chiếm đoạt được một cách phi pháp.
Trong một số vụ án gần đây, có thể thấy tài sản tham nhũng thường được che giấu và núp bóng với rất nhiều hình thức khác nhau chứ không nhất thiết phải đứng tên chủ sở hữu vài căn hộ nào đó. Các tài sản có thể đứng tên người thân, người quen, họ hàng… Ví dụ như vụ án Giang Kim Đạt (nguyên quyền Trưởng phòng Công ty TNHH Một thành viên vận tải viễn dương Vinashin - Vinashinlines) bị xét xử về tội tham ô tài sản. Tài sản tham nhũng của Giang Kim Đạt có rất nhiều bất động sản ở khắp các tỉnh, thành phố, nhưng phần lớn là nhờ người khác đứng tên. Thậm chí, Giang Kim Đạt còn dành ra hơn 3 triệu đô-la Xin-ga-po để đặt cọc mua đất ở nước ngoài. Do đó, công tác điều tra, xác minh rất khó khăn, dẫn đến khó khăn trong công tác thu hồi.
Tiến sĩ Đinh Thế Hưng, Trưởng Phòng Tư pháp Hình sự - Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, nêu quan điểm: Trong các vụ án kinh tế, không chỉ xem xét trừng phạt người phạm tội, mà cần chú trọng làm thế nào để thu hồi một cách tối đa tài sản của Nhà nước bị thất thoát, bị chiếm đoạt, không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế. Chính vì vậy, hình thức phạt tiền, áp dụng hình phạt tịch thu, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, bị chuyển nhượng trái phép… rất cần được ưu tiên. Trong đó, khi lượng hình, cần đánh giá cao tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội tự nguyện, hoặc gia đình người phạm tội chủ động khắc phục hậu quả” để khuyến khích người phạm tội và gia đình họ trả lại tài sản, khắc phục hậu quả, vừa bảo đảm mục đích nhân đạo, nhân văn, vừa thu hồi tài sản công.
“Việc thu hồi tài sản nhà nước ngoài quy định của Bộ luật Hình sự phải đồng bộ với việc xây dựng và thực hiện trên thực tế các luật khác như Luật Kê khai tài sản, kiểm soát thu nhập, kiểm tra giám sát của nhân dân, Luật Tố tụng hình sự khi điều tra, truy tố xét xử phải bảo đảm kê biên kịp thời tài sản, bảo đảm thi hành án, thậm chí cả hoàn thiện pháp luật về hợp tác quốc tế trong phòng chống rửa tiền, tẩu tán tài sản phạm tội ra nước ngoài…”, tiến sĩ Đinh Thế Hưng nêu.
Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta đang được tiến hành với những hành động quyết liệt, khẩn trương, khẳng định quyết tâm cao độ của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị trong trận chiến không khoan nhượng với tham nhũng, tiêu cực. Hàng loạt cán bộ, trong đó có cả những cán bộ cao cấp của Đảng bị truy tố và nhận hình phạt nghiêm minh của pháp luật. Nhiều vụ việc vi phạm nghiêm trọng trong nhiều lĩnh vực được đưa ra xử lý nghiêm khắc. Cuộc chiến này đã và đang nhận được sự đồng thuận của đông đảo quần chúng nhân dân, từng bước lấy lại niềm tin trong nhân dân, góp phần làm trong sạch đội ngũ của Đảng, tạo động lực xây dựng và phát triển đất nước.