Mùa thu khởi đầu mọi đổi thay

Nghìn năm trước, dòng Như Nguyệt vang lên lời Tổ quốc: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”; nhiều thế kỷ trôi qua mà giáo gãy gươm chìm vẫn trầm mình dưới đáy Bạch Đằng giang; hàng trăm năm vần vũ mà rừng núi Lam Sơn vẫn âm vang Hội thề lịch sử, Hà Nội gợi lại Đông Đô xưa đanh thép lời non sông thuở “Đại cáo Bình Ngô”… Những năm tháng hào hùng ấy của dân tộc nhiều đời nay bao thế hệ ông cha đã hiểu, nhưng chỉ từ Mùa thu năm 1945, nơi quảng trường Ba Đình vang Tuyên ngôn độc lập và chỉ đến thế hệ Hồ Chí Minh mới hiểu được sâu xa, mang nặng công ơn và tha thiết tự hào, bởi sau hơn 80 năm nước mất nhà tan đời nô lệ, từ những ngày thu ấy ta mới lấy lại được niềm tin và sức mạnh, ta hiểu thế nào là độc lập, tự do và quyết giữ tự do, độc lập.
Thiên sứ Hải Phòng
Chuyện xưa kể mẹ Âu Cơ đẻ trăm trứng rồng tiên, sinh nở giống nòi; Lạc Long Quân dẫn các con lên rừng xuống biển để khai khẩn và mở mang đất nước, chém rồng trắng vứt đuôi ra giữa biển, biển cồn lên thành Bạch Long Vỹ đảo xa. Sử sách kể cha ông áo vải chân trần mà mang gươm mở cõi, hải đội Hoàng Sa từng dong buồm vượt biển cắm mốc chủ quyền giữa biển Đông nghìn trùng sóng nước. Chuyện thần thoại ấy, những dòng sử sách ấy, chỉ đến Mùa thu lịch sử năm 1945 và Ngày lập nước hào hùng năm ấy ta mới hiểu sâu xa: Cha ông dạy đuổi được giặc ngoại xâm và mở mang bờ cõi rồi phải chăm lo việc dựng xây đất nước, bảo vệ non sông. Nên miền Bắc chung tay, chia lửa với miền Nam suốt thời chống Mỹ cho tới ngày thống nhất, cùng vượt qua những năm tháng kháng chiến gian nan, ác liệt. Kể từ đấy, từ Mùa thu năm 1945, mọi sự tích không còn là thần thoại mà là sự thật: Thời đại Hồ Chí Minh sản sinh những anh hùng ở mọi nơi, mọi lúc, từng ngọn núi dòng sông, phố phường làng xóm đều vang dội chiến công.
Và cũng từ Mùa thu năm 1945 ta mới hiểu sâu xa và gìn giữ những đền đài thiêng liêng, cảnh quan hùng vĩ, những hội hè, câu ca điệu múa dân gian để trở thành di sản cho nhân loại nâng niu; cũng từ đấy, tranh Hàng Trống, làng Hồ sáng ngời trên giấy điệp.
Quá khứ tự hào làm tăng thêm ý chí và nghị lực hôm nay. Ta đang gánh trên vai không chỉ bốn nghìn năm mà cả muôn vạn năm sau nên những năm tháng này vô cùng trọng đại, bề bộn đổi thay mà rất đỗi hào hùng. Thuở đạn bom, đấu tranh giành độc lập ta căng mình nơi ngang dọc chiến hào, giờ vắt mồ hôi và tâm trí để Tổ quốc vững bền. Trải bao nhiêu vật vã tìm đường đổi mới nên mới có hôm nay: Bao xóm nghèo đã thành đô thị, con đường hẹp năm nào giờ thênh thang rộng mở, cả bãi sú bờ đê cũng thoát đời lầm lụi, con cá con tôm tới mọi miền thế giới. Đất nước hôm nay chưa thật sự bằng lòng về sự phát triển, nhưng chắc rằng đã mát dạ cha ông!
Và Hải Phòng yêu dấu của ta ơi! Những cửa ô: bến Bính, cầu Rào, cầu An Dương, cầu Xi măng, cầu Niệm thuở nào ta vẫn biết, nhưng chỉ đôi ba năm miệt mài trong thành phố, giờ tới nơi mà ngỡ như lạc vào chốn lạ. Đường cao tốc tầng tầng lớp lớp, cầu vượt giăng ngang, vòng xuyến, thảm cỏ, dãy đèn cao áp, hai bên đường nhà tiếp nhà nối dài như trong phố. Núi Đèo, Kiến Thuỵ, Vĩnh Bảo, An Dương, An Lão - những phố huyện hồi nào lam lũ nay tưng bừng thị trấn. Nơi cửa sông, cửa biển sau vài năm quay lại không khỏi ngỡ ngàng: Cầu vượt biển Đình Vũ- Cát Hải băng sang đảo Cát Hải, cầu Bạch Đằng vươn tới Quảng Ninh, thị trấn Cát Bà đông vui như trảy hội, cảng Lạch Huyện nay mai sẽ đón tàu trăm nghìn tấn… Càng đi, càng đến lại càng đắm say lòng, ký ức thuở nào sao mà chật chội, để hiểu ngày hôm nay, để hiểu ngày mai tâm hồn phải mang tầm thời đại và sắt son với điều hiểu lớn ta hiểu về đất nước: Mọi đổi thay hôm nay bắt đầu từ Mùa thu năm 1945 lịch sử, từ thuở quảng trường Ba Đình vang Tuyên ngôn độc lập.