Hải Phòng bừng dậy, bứt phá mạnh mẽ
Kỳ 10: Nhận diện rõ hạn chế, yếu kém để xốc tới
Đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị; Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về xây dựng đề án tổng kết 15 năm thực hiện NQ 32 đánh giá: 15 năm qua, Hải Phòng thực hiện NQ 32 đạt kết quả rất xuất sắc, rất ấn tượng. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn nhiều hạn chế, yếu kém, cần được nhận diện một cách sâu sắc để có hướng khắc phục trong thời gian tới. Đây cũng là vấn đề Thành ủy Hải Phòng rất chú trọng trong quá trình chỉ đạo tổng kết 15 năm thực hiện NQ 32.
Hải Phòng hiện có hơn 40 cảng biển lớn, nhỏ cạnh tranh lẫn nhau, phần lớn còn hạn chế về năng lực. Ảnh: Duy Thính
Phát triển vẫn dưới mức tiềm năng
Một trong những hạn chế được Thành ủy Hải Phòng đưa ra sau 15 năm thực hiện NQ 32 là mục tiêu hoàn thành công nghiệp hóa- hiện đại hóa (CNH- HĐH) trước năm 2020 khó đạt được. Theo đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, tiêu chí CNH- HĐH đối với cả nước cũng chưa thật rõ ràng, còn có những ý kiến khác nhau, chứ chưa nói tới phạm vi một địa phương. Vì thế, nên chăng đánh giá theo thu nhập bình quân đầu người sẽ thấy rõ hơn những hạn chế của Hải Phòng. Cụ thể, với các nước quanh ta đã hoàn thành CNH- HĐH như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, mức thu nhập bình quân đầu người đạt từ khoảng 8000 USD/năm trở lên. Hiện nay, Hải Phòng mới đạt khoảng gần 4000 USD/năm; phấn đấu cao độ tới năm 2020 đạt khoảng 6000 USD. Như vậy, còn khoảng cách khá xa so với mức trên. Đó chính là hạn chế mà Hải Phòng cần có sự phân tích, nhìn nhận rõ hơn vì với tiềm năng, lợi thế lớn như vậy, lẽ ra thu nhập bình quân đầu người phải đạt cao hơn.
Cũng phân tích về những hạn chế, bất cập liên quan tới thu nhập bình quân đầu người, TS. Dương Đình Giám, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp (Bộ Công Thương) cho rằng, thời gian qua, Hải Phòng xác định số lượng ngành công nghiệp chủ lực còn quá nhiều, diện quá rộng, trong khi nguồn lực không đủ; tăng trưởng công nghiệp tuy cao nhưng chủ yếu phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài nên chưa bền vững. Đáng chú ý, sản phẩm công nghiệp gia công, lắp ráp còn nhiều; mối liên kết công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp phụ trợ còn yếu, nên lực lượng lao động Hải Phòng thu hút được từ các địa phương chủ yếu là lao động phổ thông, thu nhập bình quân chưa cao.
Theo PGS.TS Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, sau 15 năm, không gian đô thị Hải Phòng được mở rộng khá nhanh, tổng diện tích đất đô thị tăng gần 5 lần, tốc độ đô thị hóa tăng nhanh, đạt 47%; nhưng dân số toàn thành phố chỉ tăng thêm được 243.000 người. Như vậy, dân số Hải Phòng tăng chậm, chủ yếu do sinh đẻ tự nhiên, chứ chưa tạo được sức hấp dẫn thu hút dân cư của một đô thị đang trỗi dậy mạnh. Như thế cũng có nghĩa là Hải Phòng chưa thu hút được nhiều lao động trình độ cao, đồng nghĩa với mức thu nhập cao mà họ xứng đáng được hưởng để kéo theo mức tăng thu nhập bình quân đầu người của cả thành phố.
Một số ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học nhận xét: tiềm năng cảng biển, dịch vụ cảng biển, du lịch… chưa được khai thác, phát triển đúng tầm, chưa nói tới sự manh mún (cả khu vực Hải Phòng hiện có tới hơn 40 cảng biển lớn, nhỏ, còn hạn chế về năng lực và cạnh tranh lẫn nhau); việc duy tu bảo trì cầu bến và độ sâu trước bến còn hạn chế nên ngoài Cảng container quốc tế và một số cảng lớn tại khu vực Đình Vũ, còn lại hầu hết các cảng không đủ năng lực tiếp nhận tàu trọng tải lớn. Tiềm năng về du lịch cũng chưa được khai thác hết, còn thua kém nhiều tỉnh, thành phố khác cả về số lượt du khách cũng như doanh thu, số nộp ngân sách. Cùng với đó, kết cấu hạ tầng du lịch còn thiếu đồng bộ; việc xây dựng các khách sạn 5 sao, các khu vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, mua sắm quy mô lớn còn chậm, chỉ mới tập trung thực hiện trong những năm gần đây, phải chờ 2-3 năm nữa mới đi vào hoạt động. Thành phố cũng còn thiếu những chính sách đủ mạnh để khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch…
Bên cạnh đó, theo Ban chỉ đạo của Thành ủy về tổng kết 15 năm thực hiện NQ 32, còn có một số hạn chế rất đáng lưu tâm. Đó là vai trò, đóng góp của Hải Phòng với cả vùng và cả nước chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; quy mô, sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa mạnh. Lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa xã hội phát triển chưa đồng đều giữa các khu vực; hiệu quả quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực chưa cao; cải cách hành chính còn phải tiếp tục phấn đấu; nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu; nguồn lực đầu tư mặc dù được tăng tốc trong những năm gần đây nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của thành phố.
Làm rõ nguyên nhân
Những khó khăn, hạn chế nêu trên đã được Thành ủy Hải Phòng, các ngành, các đơn vị, địa phương nhìn nhận và đánh giá, phân tích kỹ, tìm rõ nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan. Thực tế, cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu diễn ra từ năm 2008, tới năm 2014 mới bắt đầu phục hồi đã tác động không nhỏ tới quá trình thực hiện NQ 32 do luồng vốn đầu tư chậm lại, nhiều doanh nghiệp khó khăn, số thu ngân sách hạn hẹp, nhiều dự án đầu tư nằm trong kế hoạch buộc phải giãn, hoãn hoặc ngừng lại… Rồi tình hình lạm phát, các biến động về giá cả, các vấn đề kinh tế- xã hội nảy sinh ngoài dự báo cũng làm ảnh hưởng tới kết quả thực hiện nghị quyết.
Để tạo điều kiện cho Hải Phòng thực hiện NQ 32, các bộ, ngành Trung ương đề xuất và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định (QĐ) 54 ngày 5-4-2004 về một số cơ chế tài chính ngân sách ưu đãi đối với thành phố Hải Phòng. Sau đó, ngày 31- 10- 2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành QĐ 1567 về việc ban hành Kế hoạch triển khai tiếp NQ 32 về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng giai đoạn 2008 – 2015. Từ thực tiễn phát triển của Hải Phòng và đáp ứng những yêu cầu đòi hỏi mới trong thực hiện NQ 32, ngày 29-7-2017, Chính phủ ban hành Nghị định (NĐ) 89 về một số cơ chế, chính sách tài chính - ngân sách đặc thù đối với thành phố Hải Phòng… Đây là những cơ chế rất quan trọng, mở hướng cho thành phố phát huy lợi thế, thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về nguồn vốn xây dựng kết cấu hạ tầng hoàn thiện và phát triển kinh tế- xã hội…
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, lại nảy sinh những bất cập, vướng mắc mới, làm hạn chế hiệu quả của các cơ chế tài chính, ngân sách đặc thù. Chẳng hạn, thực hiện QĐ 54, khi tính toán định mức đầu tư từ ngân sách Nhà nước, các yếu tố về cửa chính ra biển của miền Bắc, có hệ thống cảng biển lớn nhất miền Bắc và giữ vai trò trọng yếu về giao thông của Hải Phòng chưa được chú trọng xem xét đầy đủ. Vì thế, cho đến năm 2013, mức bố trí chi đầu tư phát triển rất hạn hẹp. Số bổ sung có mục tiêu từ ngân sách Trung ương cho Hải Phòng qua dự toán hàng năm giai đoạn 2004- 2013 (10 năm) là 5.688,9 tỷ đồng, chỉ xấp xỉ 570 tỷ đồng/năm, ở nhóm các địa phương có mức hỗ trợ đầu tư thấp. Đối với danh mục dự án tại Hải Phòng theo QĐ 54, tổng số dự toán đã được Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Bộ Tài chính trình Chính phủ, Quốc hội hỗ trợ có mục tiêu vốn đầu tư là 683 tỷ đồng; năm cao nhất được hỗ trợ là 116 tỷ đồng, năm thấp nhất được hỗ trợ 9,2 tỷ đồng, mức hỗ trợ trung bình là 68 tỷ đồng/năm, chỉ đáp ứng một phần rất nhỏ nhu cầu đầu tư của các dự án này.
Đối với quy định ngân sách Hải Phòng được hưởng 30% số tăng thu hoặc theo NĐ 89 được hưởng 70% số vượt thu thuế xuất nhập khẩu thì cũng khó thực hiện trong thực tế, do mấy năm gần đây, số thu thuế xuất nhập khẩu khu vực Hải Phòng chỉ xấp xỉ hoàn thành kế hoạch. Cũng theo NĐ 89, thành phố được vay không quá 40% số thu ngân sách địa phương hưởng theo phân cấp, nhưng lại bị khống chế bởi mức bội chi ngân sách nhà nước hàng năm được Quốc hội quyết định. Vì thế, năm 2018, sau khi tính toán đầy đủ, ngân sách thành phố lẽ ra được phép vay tối đa 5.927,3 tỷ đồng, nhưng chỉ được Bộ Tài chính giao dự toán vốn vay 1.106,6 tỷ đồng, bằng 18,7% số vốn được phép vay thêm tối đa nêu trên. Điều đó cho thấy, việc phát huy hiệu quả của các cơ chế tài chính ngân sách đặc thù cũng còn nhiều hạn chế. Thêm vào đó, Hải Phòng hiện còn thiếu các cơ chế chính sách đột phá, tạo sức mạnh liên kết giữa Hải Phòng với các địa phương trong vùng, với cả nước và quốc tế.
Về mặt chủ quan, cũng phải nhìn nhận thẳng vào yếu kém nội tại khi có giai đoạn, có lúc, có nơi, NQ 32 chưa được quan tâm đúng mức và thực hiện đồng bộ. Có một thời gian dài, công tác giải phóng mặt bằng phục vụ các dự án gần như chững lại, làm ảnh hưởng không nhỏ tới tiến độ các dự án đầu tư, từ đó ảnh hưởng tới hình ảnh và môi trường đầu tư, kinh doanh của thành phố. Về tổ chức, bộ máy, ở một số giai đoạn chưa được củng cố, kiện toàn kịp thời. Tính chủ động, tích cực, mức độ tâm huyết của một bộ phận cán bộ, công chức chưa cao; ở một chừng mực nào đó còn có biểu hiện vô cảm, phiền hà, nhũng nhiễu… Thêm vào đó, nhiều tiềm năng, lợi thế của thành phố chưa được biến thành nguồn lực thực tế để phát triển, còn thất thu, thất thoát, lãng phí mỗi năm hàng nghìn tỷ đồng.
Như thế, dù là nguyên nhân khách quan hay chủ quan, rõ ràng những hạn chế, yếu kém như trên đã ảnh hưởng tới kết quả thực hiện NQ 32 trong 15 năm qua. Nhận diện rõ những điều này sẽ giúp thành phố tìm ra các biện pháp hữu hiệu khắc phục trong thời gian tới.
15 năm thực hiện NQ 32, mặc dù thành phố đã rất nỗ lực, cố gắng, các bộ, ngành Trung ương cũng có sự quan tâm trợ giúp, nhưng còn một số công trình, dự án được ghi trong NQ 32 đến nay chưa triển khai hoặc đã thực hiện nhưng tiến độ còn chậm. Như dự án đường sắt tốc độ cao Lào Cai- Hà Nội- Hải Phòng đến tận Đình Vũ; quân cảng Nam Đồ Sơn; xây dựng trường dạy nghề chất lượng cao… đến nay chưa thực hiện. Một số dự án khác tuy đã triển khai, nhưng chậm như xây dựng đảo Bạch Long Vỹ trở thành trung tâm hậu cần nghề cá và tìm kiếm cứu nạn khu vực phía Bắc; xây dựng Cát Bà cùng Đồ Sơn, Hạ Long trở thành một trong những trung tâm du lịch quốc tế của cả nước; xây dựng khu liên hiệp thể thao theo tiêu chuẩn hiện đại, đóng vai trò là một trong những trung tâm thể thao mạnh của cả nước… |
Kỳ cuối: Ước mong về một tương lai tươi sáng