Phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản: Quản lý chặt để tăng thu
Số thu tăng dần

Điểm khai thác khoáng sản tại thị trấn Minh Đức (huyện Thủy Nguyên).
Ảnh: PHƯƠNG LÂM
Khoáng sản của Hải Phòng chủ yếu là đá vôi (chiếm 1/3 diện tích tự nhiên với gần 500 km2, tập trung tại đảo Cát Bà và phía bắc huyện Thủy Nguyên). Các tài nguyên khác là đất sét, đất san lấp có ở (Thủy Nguyên, An Lão); phụ gia silic (phía bắc Thủy Nguyên); cát lòng sông, ven biển làm vật liệu san lấp (các sông Cấm, Lạch Tray, Văn Úc, Đá Bạch, ven biển phường Ngọc Hải, phía nam Đình Vũ, cửa Lạch Huyện, cửa sông Văn Úc); nước khoáng và nước nóng tại xã Đoàn Lập, Khởi Nghĩa (huyện Tiên Lãng)… Ngoài ra còn có một số khoáng sản khác như đá đôlômít, đát cát kết, sét đen, than nâu, than bùn, quặng sắt, nguồn sét sa bồi và sét lòng sông… nhưng mức độ tập trung và chất lượng không cao…
Đây là một trong những nguồn tài nguyên quý giá của Hải Phòng và mang lại nguồn thu đều đặn cho thành phố hàng năm. Theo Cục Thuế Hải Phòng, hiện nay trên địa bàn thành phố có 45 doanh nghiệp được cấp 57 giấy phép khai thác khoáng sản. Các doanh nghiệp phải nộp các loại thuế, phí theo quy định của pháp luật. Trong đó, riêng với nguồn phí bảo vệ môi trường từ hoạt động khai thác khoáng sản, những năm qua được thành phố tập trung thu và quản lý khá chặt chẽ nên số thu tăng dần qua hàng năm. Cụ thể, năm 2013 đạt 24 tỷ đồng, năm 2014 đạt 32 tỷ đồng, năm 2015 đạt 43,3 tỷ đồng; năm 2016 đạt 43 tỷ đồng và năm 2017 đạt 47,2 tỷ đồng.
Tăng cường quản lý
Theo Cục Thuế Hải Phòng, tuy số thu phí tăng hằng năm nhưng chưa theo kịp với thực tế khai thác khoáng sản trên địa bàn thành phố. Việc quản lý thu phí đối với khối lượng khoáng sản khai thác vượt sản lượng, khai thác lậu còn nhiều bất cập, còn thất thu, thất thoát. Vì vậy, thời gian tới cần tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa các ngành, các địa phương trong công tác kiểm tra, giám sát, xác định rõ và tổ chức thu phí đối với khối lượng khoáng sản khai thác vượt sản lượng.
Mới đây, ngày 4-9-2018, UBND thành phố ban hành văn bản yêu cầu các cơ quan thu phí tổ chức tuyên truyền về mức phí mới được HĐND thành phố ban hành tới các tổ chức, cá nhân và tổ chức thu đúng, thu đủ các khoản phí phát sinh theo quy định.
HĐND thành phố cũng quy định mức phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản tận thu tính bằng 60% mức phí của các loại khoáng sản tương ứng nêu trên. Đối với loại khoáng sản khác chưa có trong danh mục, nếu phát sinh khai thác trên địa bàn thành phố thì áp dụng mức thu phí bảo vệ môi trường bằng mức thu tối đa theo quy định tại khung mức mức phí ban hành.
Theo Cục Thuế Hải Phòng, phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản là khoản thu ngân sách địa phương được hưởng 100% để đầu tư, hỗ trợ cho công tác bảo vệ môi trường tại địa phương, phòng ngừa và hạn chế các tác động xấu đối với môi trường; khắc phục suy thoái, ô nhiễm môi trường do khai thác khoáng sản gây ra… Quản lý chặt chẽ loại phí này cũng là một trong các cơ sở pháp lý để xử lý, ngăn chặn các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản trái phép, không thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước. Vì thế, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Cục Thuế, Sở Tài nguyên- Môi trường, các địa phương nơi có khoáng sản để quản lý việc khai thác cũng như sản lượng khai thác, phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm các hành vi khai thác lậu, khai thác vượt sản lượng cho phép. Ngoài ra, biện pháp quan trọng là cần sớm yêu cầu các doanh nghiệp khai thác khoáng sản phải thành lập chi nhánh tại địa bàn khai thác khoáng sản để kê khai nộp thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường. Nếu thực hiện được như vậy, số thu phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản sẽ tăng thêm hàng chục tỷ đồng/năm trong điều kiện khai thác bình thường. Nếu khai thác tăng đột biến, số thu phí sẽ cao hơn.
Để tạo điều kiện cho địa phương cấp huyện, xã nơi có hoạt động khai thác khoáng sản có kinh phí chủ động khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, Cục Thuế Hải Phòng đề nghị thành phố xem xét điều tiết một phần từ khoản thu này cho ngân sách huyện, xã phù hợp với khả năng ngân sách thành phố và nhu cầu đầu tư khắc phục hậu quả môi trường.
Mức thu phí bảo vệ môi trường đối với đá làm vật liệu xây dựng thông thường là 5000 đồng/m3; đá vôi, đá sét làm xi măng và các loại đá làm phụ gia xi măng (laterit, puzolan…); khoáng chất công nghiệp (barit, flourit, bentonit và các loại khoáng chất khác) 3000 đồng/tấn; các loại cát khác (cát đen san lấp) 4000 đồng/m3; đất khai thác để san lấp, xây dựng công trình 2000 đồng/m3; sét làm gạch ngói 2000 đồng/m3; các loại đất khác 2000 đồng/m3; đôlômít, quartzite 30.000 đồng/tấn; nước khoáng thiên nhiên 3000 đồng/m3; khoáng sản không kim loại khác 30.000 đồng/tấn… |