Người soạn những bộ “bách khoa thư” một thời về thành phố Cảng

LINH CHI 08/11/2018 14:01

Người soạn sử Hải Phòng bằng văn học

Nhà văn Nguyên Hồng (ngoài cùng bìa trái) tại đám cưới con gái Nguyễn Thị Thanh Thư năm 1979. (ảnh tư liệu)


Ngày 5-11-2018 là kỷ niệm tròn 100 năm Ngày sinh cố nhà văn Nguyên Hồng. Văn đàn cả nước nói chung và Hải Phòng nói riêng có những hoạt động tri ân, tưởng nhớ đến ông, một trong những người đặt nền móng cho nhịp sống văn học nghệ thuật thành phố. Ý nghĩa hơn, ông còn là người xây dựng nên bộ sách văn học của riêng ông mà có thể coi như “bách khoa thư” về đất Cảng một thời. Kể từ cuốn sách đầu tay “Bỉ vỏ” xuất bản năm 1938 đến bộ tiểu thuyết đồ sộ cuối đời là “Cửa biển”, 4 tập, hơn 2000 trang, lần lượt ra mắt bạn đọc trong khoảng 15 năm (kể từ năm 1961 đến năm 1976), Hải Phòng hiện lên trong các tác phẩm của Nguyên Hồng mạnh mẽ, vững vàng dù gặp nhiều khó khăn. Người Hải Phòng kiên cường, chịu thương chịu khó, vượt qua thử thách để đối diện với mọi giai đoạn lịch sử.


Giáo sư Phong Lê trong bài viết “Nguyên Hồng sống và viết” đăng trên Tạp chí Cửa biển nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Nguyên Hồng (5-11-1918 – 5-11-2018) nhận định về bộ tiểu thuyết “Cửa biển” như sau: “Đây là bộ tiểu thuyết có lẽ là đồ sộ nhất trong văn học Việt Nam hiện đại tính cho đến khi Nguyên Hồng qua đời. Bộ sách là tổng hợp toàn bộ kinh nghiệm sống của ông, là sự trải rộng và đúc kết mọi mặt vốn sống của ông về Hải Phòng lầm than và hướng tới cách mạng, trong đó không có nhân vật nào ông không gửi gắm một niềm yêu ghét được đẩy đến độ tận cùng”. Nhận định ấy của giáo sư là góc nhìn tổng quan nhất về toàn bộ các tác phẩm của Nguyên Hồng, đặc biệt là những tác phẩm viết về vùng đất và con người Hải Phòng. Những nhân vật trong tác phẩm Nguyên Hồng đều là hiện thân của những tầng lớp nhân dân đất Cảng. Từ mẹ La, gái Đen, Tám Bính, rồi những Tí nhớn, Tí con… Bao nhiêu nhân vật là bấy nhiêu hình ảnh đại diện của người dân thành phố một thời khó khăn. Nhưng, trong vất vả, lầm than, những người con ấy không mất đi niềm tin, sự lạc quan cách mạng để hướng đến tương lai. Nguyên Hồng nhìn thấy mặt tốt đẹp trong những lớp người cần lao, trong mỗi con người Hải Phòng từ trẻ em, phụ nữ, nam giới... cho đến những người công nhân, những anh chị bốc vác… Thậm chí cả những người cùng khổ với nghề ăn cắp vặt, móc túi nơi bến tàu, bến xe… Cũng như thấy Hải Phòng đẹp tươi trong những giai đoạn vất vả của thế kỷ trước. Vậy nên, ai đó cho rằng Nguyên Hồng chính là người soạn sử Hải Phòng bằng văn học quả không sai.

Cố nhà văn Nguyên Hồng tên thật là Nguyễn Nguyên Hồng, sinh ngày 5-11-1918 tại Vụ Bản, Nam Định. Sinh trưởng trong gia đình nghèo, mồ côi cha, ông từ nhỏ theo mẹ ra Hải Phòng kiếm sống trong các xóm chợ nghèo. Nguyên Hồng bắt đầu viết văn từ năm 1936 với truyện ngắn "Linh hồn" đăng trên Tiểu thuyết thứ 7. Đến năm 1937, ông gây được tiếng vang trên văn đàn với tiểu thuyết "Bỉ vỏ". Cuốn tiểu thuyết cuối của ông là "Núi rừng Yên Thế" được viết năm 1980. Nguyên Hồng qua đời ngày 2-5-1982 tại Tân Yên (Bắc Giang). Năm 1996, ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Nguyên Hồng là Chủ tịch đầu tiên Hội Liên hiệp Văn học – Nghệ thuật Hải Phòng. Ông giữ chức vụ này 18 năm, cho đến lúc mất (1964-1982).


Người tận tâm với văn học nghệ thuật đất Cảng

Cố nhà văn Nguyên Hồng và một em bé người Nga.



Trong bài viết của mình, nhà văn Chu Văn Mười, nguyên Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng thời kỳ đầu nhớ lại, phần lớn người viết văn làm thơ trưởng thành thời chống Mỹ những năm trước đó đều được Nguyên Hồng gặp gỡ, chỉ bảo (và cả mắng mỏ nữa) ở các trại sáng tác, các chuyến đi thực tế, các lớp bồi dưỡng… Họ, những Nguyễn Quang Thân, Thanh Tùng, Trần Tự, Trần Lưu, Nguyễn Văn Chuông… có mối quan hệ sâu đậm với nhà văn từ khi thành phố chính thức có tổ chức Hội Văn học nghệ thuật đầu năm 1964. Trừ ít người có tuổi đời nhỉnh hơn như Nguyễn Quang Thân, Thọ Vân… gọi Nguyên Hồng là anh, còn thảy đều bố bố con con với ông, quấn quýt, tự hào và kính trọng… Điều đó cho thấy tình yêu và sự tận tâm của nhà văn Nguyên Hồng với văn học nghệ thuật đất Cảng.


Hơn thế, với nhà văn Nguyên Hồng, Hải Phòng còn là quê hương thứ hai, là nơi ông gắn bó ngay cả khi ông trở về công tác tại Hà Nội và quê hương Yên Thế, Bắc Giang. Tập sách “Nhật ký Nguyên Hồng” được xuất bản vào dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Nguyên Hồng năm nay công bố những tâm tư, tình cảm qua những trang nhật ký của cố nhà văn lúc sinh thời. Trong đó, phần nhiều ông ghi lại những ngày ông ở Hải Phòng, sáng tác về Hải Phòng và yêu thương, đồng cảm với những tầng lớp nhân dân đất Cảng. Nguyễn Thị Thanh Thư, con gái nhà văn Nguyên Hồng chia sẻ, tập nhật ký dày hơn 400 trang do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành. Trong đó có những dòng nhật ký cuối đời của nhà văn vào năm 1981, 1982. Ông nhắc nhiều đến khoảng thời gian ở Hải Phòng. Những địa danh đặc trưng Hải Phòng như Cầu Tre, Thủy Nguyên… những tên văn nghệ sĩ đất Cảng như Đào Cảng, Trần Lưu, Thanh Toàn, Phạm Ngà, Sỹ Ngọc… xuất hiện trong những trang nhật ký của ông thân thương, gần gũi.


Xin được trích một phần nhật ký Nguyên Hồng viết năm 1981 khi đang công tác tại Hội Văn nghệ Hải Phòng thay lời kết bài viết này. Để thấy với Nguyên Hồng, Hải Phòng và những văn nghệ sĩ Hải Phòng luôn là những người thân thiết như trong gia đình của ông: “Ngày 27-8-1981: Tôi đi đánh điện cho nhà rồi đưa Hiền giấy đi đường để tính tiền. Sáng nay tôi lại dậy sớm, mở cổng, lại đến cái quán ông bà cửa chợ Cầu Tre uống nước chè nhưng không có. Sau đi lên phía trên rồi quay lại uống nước chè ở hàng gần trường vào lúc học trò dần dần kéo vào lớp.


Viết lại lần thứ bốn bài thơ “Khi hai con bộ đội ở hai biên giới về”. Rạo rực ngay hôm viết xong là chủ nhật nhưng muốn thật chín và thoáng đầu óc nên đạp xe đi từ sớm xuống phố. Đến nhà Thông: Thông đi dạy học. Đào Cảng đưa con về Thủy Nguyên. Đến Thanh Toàn đọc thơ rồi quay trở về nhà. Chiều nay Trần Lưu đi xem đá bóng trận Thể Công với Cảng Sài Gòn bị vỡ đám vì quả phạt đền mà Cảng Sài Gòn không chịu…”.

Một số tác phẩm tiêu biểu của cố nhà văn Nguyên Hồng

Bỉ vỏ (tiểu thuyết, 1938); Bảy Hựu (truyện ngắn, 1941); Những ngày thơ ấu (hồi ký, đăng báo lần đầu năm 1938, xuất bản năm 1940); Quán nải (tiểu thuyết, 1943); Đàn chim non (tiểu thuyết, 1943); Sóng gầm (tiểu thuyết, 196l); Cơn bão đã đến (tiểu thuyết, 1963); Cháu gái người mãi võ họ Hoa (truyện thiếu nhi, 1972); Một tuổi thơ văn (hồi ký, 1973); Khi đứa con ra đời (tiểu thuyết, 1976); Những nhân vật ấy đã sống với tôi (hồi ký, 1978)…

LINH CHI