Quốc hội quyết chi ngân sách Trung ương 2019 hơn 1 triệu tỷ đồng
Ưu tiên bố trí vốn cho công trình trọng điểm

Các đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết về phân bổ ngân sách trung ương năm 2019. Ảnh: TTXVN
Chiều 14-11, Quốc hội biểu quyết thông qua nghị quyết về phân bổ ngân sách 2019 với 438/449 đại biểu có mặt tán thành.
Theo đó, năm 2019, tổng số thu ngân sách Trung ương là 810.099 tỷ đồng. Tổng số thu ngân sách địa phương là 601.201 tỷ đồng.
Tổng số chi ngân sách Trung ương là 1.019.599 tỷ đồng, trong đó dự toán 321.354 tỷ đồng để bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa phương.
Quốc hội giao Chính phủ phân bổ vốn cho các chương trình, dự án có hiệu quả, có kế hoạch cắt giảm vốn đối với dự án triển khai chậm, bổ sung vốn cho dự án có khối lượng hoàn thành cao, báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật, bảo đảm không dư thừa nguồn vốn. Tập trung đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành các chương trình, dự án quan trọng quốc gia, các công trình cấp thiết đang đầu tư dở dang.
Theo Chủ nhiệm Uỷ ban Tài chính Ngân sách của Quốc hội Nguyễn Đức Hải, định mức phân bổ chi thường xuyên cho các địa phương đã có ưu tiên cho các địa phương vùng núi cao và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Năm 2019, Chính phủ trình Quốc hội tăng thêm 2% số bổ sung cân đối so với năm 2017 cho các địa phương. Đồng thời, ngân sách Trung ương đã ưu tiên đầu tư cầu, đường giao thông, kênh, cảng, cũng như phân cấp cho địa phương nguồn thu tiền sử dụng đất và xổ số kiến thiết để dành cho chi đầu tư phát triển.
Đối với các dự án, công trình trọng điểm, trong phương án phân bổ ngân sách Trung ương, Chính phủ đã thực hiện theo nguyên tắc bố trí chi đầu tư phát triển trên cơ sở kế hoạch đầu tư công trung hạn đã được phê duyệt và khả năng cân đối ngân sách Trung ương; ưu tiên bố trí vốn cho các dự án phát triển hạ tầng trọng điểm.
Khiếu nại vẫn chủ yếu về đất đai
Trình bày Báo cáo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 2018 của Chính phủ,Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Minh Kháicho biết: năm 2018, tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân tăng về số lượng đơn thư, số vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính nhà nước so với năm 2017. Về tố cáo, so với năm 2017 tăng 41,1% về số đơn và 16,3% số vụ việc. Tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân từ cuối năm 2017 đến nay nhìn chung còn diễn biến phức tạp và gay gắt. Tình trạng công dân tụ tập đông người lên Trung ương khiếu kiện gia tăng. Các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, đông người chủ yếu thuộc lĩnh vực đất đai...
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo vẫn còn tồn tại. Đó là việc tiếp dân định kỳ tại một số nơi còn chưa bảo đảm đúng quy định của Luật Tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền tại một số địa phương còn chậm, chưa đúng trình tự, thủ tục. Tỷ lệ giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền đạt thấp hơn so với mục tiêu đề ra. Hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra trách nhiệm trong chấp hành pháp luật tiếp dân, khiếu nại tố cáo còn thấp. Trình độ năng lực một số cán bộ trực tiếp tham gia tiếp công dân xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo còn hạn chế, phân loại xử lý đơn thư còn lúng túng, nhầm lẫn giữa các loại đơn. Việc ứng dụng công nghệ thông tin và thực hiện chế độ thông tin, báo chí có nơi chưa nghiêm túc, chất lượng hạn chế. Tổng thanh tra Chính phủ Lê Minh Khái cho biết, vẫn còn tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu quyết tâm trong việc tiếp công dân, đối thoại với dân, xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là các vụ việc có tính chất phức tạp.
Báo cáo thẩm tra về nội dung này, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Nguyễn Khắc Định nhấn mạnh, nội dung khiếu nại, tố cáo cơ bản không có nhiều thay đổi so với các năm trước; khiếu nại vẫn chủ yếu về đất đai; tố cáo vẫn chủ yếu là tố cáo cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái trong quản lý, thực thi công vụ, bao che cho cấp dưới gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; một số trường hợp người khiếu nại chuyển sang tố cáo do kết quả giải quyết không đáp ứng được mong muốn...
Báo cáo kết quả giám sát việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến Quốc hội từ 16- 8- 2017 đến 15- 8- 2018 doTrưởng ban Dân nguyện Nguyễn Thanh Hảitrình bày cho thấy, tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo của các bộ, ngành, địa phương có sự chuyển biến tốt hơn so với một số năm trước. Chính phủ và nhiều địa phương dành nhiều sự quan tâm cho công tác xây dựng thể chế, ban hành nhiều văn bản chấn chỉnh, tăng cường công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tính công khai minh bạch trong các hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo tiếp tục được nâng cao, các thông báo, kết luận tiếp công dân và kết quả giải quyết đã được nhiều tỉnh, nhiều cấp công bố trên cổng thông tin điện tử. Công tác thanh tra, kiểm tra trong các hoạt động này được tăng cường, một số tỉnh đã nghiêm túc và kiên quyết trong xử lý các vi phạm.
Tuy nhiên, nhiều vụ việc có thời gian nghiên cứu kéo dài, khi trả lời thường rất chung chung, không nêu rõ lộ trình giải quyết, nên khó báo tin cho công dân gửi đơn. Một số vụ việc khiếu nại được giải quyết còn chưa bảo đảm thời hạn, trình tự và hình thức giải quyết; công tác thụ lý, xác minh nội dung khiếu nại, tố cáo của cơ quan chuyên môn còn chậm, chất lượng tham mưu, đề xuất chưa cao, nhiều trường hợp áp dụng quy định pháp luật trong giải quyết còn thiếu chính xác dẫn đến vụ việc khó được giải quyết dứt điểm. Việc đối thoại của người có thẩm quyền tại một số nơi còn hình thức, chưa được coi trọng đúng mức, việc ủy quyền đối thoại trong một số trường hợp gây bức xúc cho người khiếu nại nên khó tạo được sự đồng thuận. Cán bộ làm công tác tiếp công dân, tham mưu về giải quyết khiếu nại, tố cáo nhiều nơi còn hạn chế về nghiệp vụ, năng lực chuyên môn; tỷ lệ cán bộ có bằng chuyên ngành luật còn thấp...
Công tác tiếp dân còn chưa được quan tâm đúng mức
Các đại biểu Quốc hội đều đồng tình với các báo cáo, đánh giá nỗ lực của các cơ quan trong giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân và tham gia nhiều ý kiến.
Đại biểu Tô Văn Tám (Kon Tum) cho rằng, một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng khiếu nại, tố cáo gia tăng là chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo còn hạn chế. Ở một số nơi, chính quyền chưa quan tâm đúng mức, nhất là cấp huyện, xã. Những nơi này chưa làm hết trách nhiệm của mình, chưa xem xét giải quyết vấn đề từ gốc và có hiện tượng cán bộ thách thức người dân khiếu kiện dẫn đến khiếu nại, tố cáo vượt cấp. Do đó, đại biểu Tô Văn Tám đề nghị, báo cáo của Chính phủ cần đánh giá thêm về vấn đề này.
Đề cập giải pháp, đại biểu nhấn mạnh đến công tác đối thoại. Theo ông, đối thoại phải được coi như nguyên tắc của giải quyết khiếu nại, tố cáo. Việc đối thoại phải được thực hiện nghiêm túc, cầu thị chứ không theo kiểu chiếu lệ, làm cho xong chuyện.
Đại biểu Lý Tiết Hạnh (Bình Định) phản ánh, ở nhiều nơi, người dân bức xúc đôi khi không phải do vụ việc của mình chưa được giải quyết mà do thái độ của cán bộ tiếp dân không đúng mực.
Đại biểu Nguyễn Hồng Vân (Phú Yên) thẳng thắn chỉ rõ, tiếp công dân định kỳ của Chủ tịch UBND các cấp còn ít và bất cập, chưa coi trọng việc đối thoại của người có thẩm quyền với người khiếu nại, tố cáo. Đại biểu đề nghị Chính phủ chỉ đạo địa phương thực hiện nghiêm chế độ tiếp công dân và đối thoại với công dân. Theo đại biểu Dương Minh Tuấn (Bà Rịa-Vũng Tàu), tâm lý người đi khiếu kiện là mong muốn được gặp người đứng đầu, người có thẩm quyền để họ trình bày sự việc, dù có thể giải quyết được hay không. Tuy nhiên, tình trạng khá phổ biến hiện nay là lãnh đạo ủy quyền cho cấp phó hoặc thanh tra.
Đại biểu Nguyễn Văn Pha (Nam Định) nhận định, những tồn tại, hạn chế trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thời gian qua có phần trách nhiệm củachính quyền một số địa phương.Chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo ở nhiều nơichưa được quan tâm đúng mức, đặc biệt là một số cấp huyện, cấp xã; điều này gây nên tình trạng khiếu kiện vượt cấp. Theo đại biểu, nếu khiếu nại, tố cáo được giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, có tình có lý ngay từ cơ sở thì người dân sẽ đồng tình chấp thuận. Ngược lại sẽ phức tạp và đơn thư vượt cấp.
Cần thiết ban hành Luật Kiến trúc
Thảo luận về dự thảo Luật Kiến trúc, đa số đại biểu cơ bản tán thành với sự cần thiết ban hành Luật Kiến trúc, đồng thờinhấn mạnh việc xây dựng Luật Kiến trúc đã được cơ quan quản lý nhà nước và giới kiến trúc sư đề xuất từ hơn 20 năm trước nhằm khắc phục các hạn chế, khó khăn, vướng mắc, đáp ứng yêu cầu quản lý, phát triển kiến trúc; góp phần hình thành đội ngũ kiến trúc sư có đức, có tài, xây dựng nền kiến trúc Việt Nam hiện đại, giàu bản sắc dân tộc.
Quan tâm đến chính sách của nhà nước về kiến trúc, đại biểu Nguyễn Trường Giang (Đăk Nông) đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, quy định cụ thể hơn trong dự thảo Luật. Cụ thể, phân định rõ hai nhóm chính sách ưu tiên là hỗ trợ và khuyến khích; nghiên cứu bổ sung các mục nhà nước hỗ trợ, ưu tiên bố trí kinh phí cho một số hoạt động kiến trúc như bảo vệ, phát huy các di sản, các công trình kiến trúc có giá trị, tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức và nhân cao nhận thức của cộng đồng về kiến trúc. Đại biểu chỉ rõ, các quy định này nếu được bổ sung sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo của các kiến trúc sư, tạo tiền đề phát triển cho kiến trúc Việt Nam.
Đại biểu Nguyễn Trường Giang đề cập đến vấn đề quản lý kiến trúc và đề nghị dự thảo Luật cần quy định cụ thể, chặt chẽ hơn về quy chế, nội dung, trình tự, thủ tục lập, thẩm đinh, phê duyệt, điều chỉnh, tổ chức thực hiện quy chế; quy định thẩm quyền phê duyệt quy chế kiến trúc chung và chi tiết.
Đại biểu Nghiêm Vũ Khải (Hải Phòng): kiến trúc là một hoạt động đặc thù, vừa là hoạt động kinh tế, vừa là hoạt động mang tính chất nghệ thuật, sáng tạo rất cao, đồng thời có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng cũng như cá nhân. Hơn nữa, nền kiến trúc phát triển còn tạo ra sự hấp dẫn và hình ảnh văn hóa của một đất nước. Với quan niệm như vậy,đại biểu đề nghị cần bổ sung một điều về chính sách của nhà nước về kiến trúc hay về hoạt động kiến trúc.
Về quy chế quản lý kiến trúc, đề nghị, để bảo đảm việc quản lý kiến trúc được khoa học, hợp lý và bền vững cần quy định chi tiết hơn yêu cầu, nguyên tắc, nội dung, quy trình xây dựng, phê duyệt và thực hiện quy chế. Việc điều chỉnh quy hoạch, quy chế thường xuyên sẽ gây ra nhiều hệ lụy, làm mất tính ổn định, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân. Việc phân cấp, phê duyệt quy chế phải nâng lên một cấp so với dự thảo Điều 11 của luật. Cụ thể là quy chế quản lý kiến trúc của đô thị loại đặc biệt, đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương phải do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, điều chỉnh. Còn lại, quy chế kiến trúc của các đô thị loại 1, 2, 3, 4 do UBND cấp tỉnh phê duyệt và điều chỉnh.