Thông qua Luật Bảo vệ bí mật nhà nước Thảo luận về 2 dự án luật

15/11/2018 21:40

Luật Bảo vệ bí mật nhà nước có hiệu lực thi hành từ 1-7-2020

Đại biểu Bùi Thanh Tùng (Hải Phòng) phát biểu thảo luận về dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi).

Sau khi nghe báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo Luật với 444 đại biểu tán thành, chiếm 91,55% tổng số đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết.

Luật Bảo vệ bí mật nhà nước gồm 5 chương, 28 điều. Phạm vi điều chỉnh của Luật quy định về bí mật nhà nước, hoạt động bảo vệ bí mật nhà nước và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1 -7 - 2020. Các quy định của luật liên quan đến lập, thẩm định, ban hành danh mục bí mật nhà nước, thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 19, gia hạn thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2019. Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước số 30/2000/PL-UBTVQH10 hết hiệu lực kể từ ngày Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước có hiệu lực thi hành.

Luật khẳng định rõ, thông tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước phải là thông tin quan trọng, chưa được công khai, nếu bị lộ, bị mất có thể gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc thuộc 15 lĩnh vực. Theo đó, trong lĩnh vực chính trị bao gồm:chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đối nội, đối ngoại;hoạt động của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và lãnh đạo Đảng, Nhà nước;chiến lược, đề án về dân tộc, tôn giáo và công tác dân tộc, tôn giáo liên quan đến bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội;thông tin có tác động tiêu cực đến tình hình chính trị, kinh tế - xã hội.Thông tin về bảo vệ sức khỏe lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước cũng thuộc diện mật trong lĩnh vực y tế.

Luật cấm hành vilàm lộ, chiếm đoạt, mua, bán bí mật nhà nước; làm sai lệch, hư hỏng, mất tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước; mang trái pháp luật tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ; truyền đưa bí mật nhà nước trên phương tiện thông tin, viễn thông trái với quy định của pháp luật về cơ yếu; đăng tải, phát tán bí mật nhà nước trên phương tiện thông tin đại chúng, mạng internet, mạng máy tính và mạng viễn thông...

Căn cứ tính chất quan trọng của nội dung thông tin, mức độ nguy hại nếu bị lộ, bị mất, bí mật nhà nước được phân loại thành 3 độ mật: tuyệt mật, tối mật và mật.

Đề nghị làm rõ nhiều vấn đề về giáo dục

Tại phiên thảo luận, các đại biểu Quốc hội cơ bản đồng tình nhiều nội dung trong báo cáo của Chính phủ cũng như báo cáo thẩm tra của Ủy ban Văn hóa. Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng. Các đại biểu Quốc hội cho rằng, dự thảo Luật Giáo dục (sửa đổi) lần này sửa đổi nhiều quy định không còn khả thi; đồng thời bổ sung những quy định phù hợp, bám sát quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về giáo dục đã đề ra.

Tuy nhiên, theo các đại biểu, nhiều quy định trong dự thảo luật vẫn chung chung. Theođại biểu Nguyễn Thanh Hiền (Nghệ An),một số nội dung cần được quy định cụ thể nhưng dự án luật quy định chung chung, mang tính định hướng, dẫn tới khó tổ chức thực hiện. Do vậy, đại biểu đề nghị, Ban soạn thảo tiếp tục rà soát, sắp xếp, sửa đổi bảo đảm quy định rõ ràng, cụ thể để giải quyết các vấn đề mà yêu cầu thực tiễn đang đòi hỏi.

Nhấn mạnh triết lý giáo dục,đại biểu Phạm Trọng Nhân (Bình Dương)cho rằng, triết lý giáo dục vốn được xem là kim chỉ nam trong toàn bộ hoạt động giáo dục xây dựng trên 4 trụ cột chính: đối tượng, mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục. Đại biểu dẫn chứng: triết lý giáo dục của Phần Lan là phải có niềm tin vào con người; nền giáo dục Nhật Bản vận hành theo triết lý  người học sẽ trở thành  cá nhân hoàn thiện đạo đức. Vậy triết lý giáo dục của ViệtNamlà gì? So sánh mục tiêu, nội dung và phương pháp của dự án luật lần này với Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua cách đây 20 năm, đại biểu cho rằng, dường như không thay đổi nhiều. Có thể thấy, “cỗ máy giáo dục” với những tư duy, nội dung, phương pháp giáo dục vẫn chưa có nhiều thay đổi để thích ứng với gia tốc ngày càng nhanh của xã hội.  

Đại biểu Phạm Trọng Nhân cũng chỉ ra một thực trạng đáng buồn, đó là không ít trường hợp người tốt nghiệp đại học không soạn thảo nổi một văn bản đạt yêu cầu, hay nhiều doanh nghiệp than phiền khi  tuyển dụng kỹ sư vừa ra trường vào đơn vị làm việc. Dường như việc chưa dành nhiều thời gian để đào tạo kỹ năng mềm từ nhà trường và tính chưa tự giác của người học đã cho ra đời những sản phẩm giáo dục khó đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng và xã hội. Việc cắp sách đến trường mới chỉ dừng lại ở nghĩa vụ, chưa phải là niềm vui, niềm khao khát được hướng dẫn để tiếp cận kho tàng tri thức của nhân loại. Một trong những mục tiêu của giáo dục là hội nhập quốc tế nhưng toàn bộ dự án luật không có bất cứ điều khoản nào quy định ngoại ngữ là công cụ bắt buộc, hình thành nền tảng cơ bản nhất cho hội nhập. Tuy học sinh được học tiếng Anh từ rất sớm nhưng nhiều trường hợp không thể sử dụng được tiếng Anh sau khi tốt nghiệp THPT.

Về trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo, Điều 72 quy định: có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm hoặc có bằng tốt nghiệp đại học và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên trung học cơ sở… Băn khoăn về quy định này,đại biểu Hứa Thị Hà (Tuyên Quang)cho rằng, người học ngành sư phạm phần lớn đều có tình cảm và khả năng trong ngành nghề này, được đào tạo kiến thức chuyên môn nghiệp vụ một cách bài bản trong nhiều năm. Trong khi đó, người tốt nghiệp đại học ngành khác và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm trong vòng 3 tháng liệu có nắm bắt và hình thành kỹ năng nghiệp vụ sư phạm hay không? Học sinh THCS là đối tượng có sự phát triển mạnh mẽ về tâm sinh lý rất phức tạp, giáo viên ngoài kiến thức chuyên môn cần có tác phong và nghiệp vụ sư phạm được đào tạo bài bản. Nếu chính sách này được triển khai, sẽ dẫn tới ngành sư phạm không những không tuyển được người giỏi vào ngành sư phạm mà có thể nảy sinh tiêu cực trong tuyển dụng vào ngành sư phạm. Do đó, ban soạn thảo cần cân nhắc quy định này- đại biểu Hứa Thị Hà đề nghị.

Đề cập vấn đề được cử tri và dư luận quan tâm là học phí,đại biểu Trần Thị Hiền (HàNam)lo lắng, nếu không được quy định cụ thể trong dự thảo luật, sẽ không giải quyết được những bất cập như đã xảy ra thời gian vừa qua.

Theo quy định của dự thảo Luật, học phí là giá của dịch vụ đào tạo. Đại biểu Trần Thị Hiền băn khoăn về việc quy định chính sách học phí theo hướng này. Trong khi Nghị quyết 29 -NQ/TW quy định, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư phát triển giáo dục- đào tạo, ngân sách nhà nước (NSNN) chi tối thiểu 20% trong tổng chi ngân sách. Cũng theo đại biểu, NSNN đầu tư cho giáo dục là sử dụng tiền thuế của dân đóng góp; giờ theo lộ trình, dồn hết các khoản chi phí tiền lương, chi phí quản lý… vào học phí thì có hợp lý hay không, nhất là tình trạng lạm thu trong nhà trường còn xảy ra phổ biến- đại biểu đặt vấn đề.

Từ những bất cập trong thời gian qua về tình trạng lạm thu, đại biểu cho rằng, với đa số bậc phụ huynh, khái niệm học phí không còn ý nghĩa bởi sự tồn tại của một khái niệm trở nên rất ám ảnh đối với họ, đó là “tiền trường” cùng với các khoản thu mang danh nghĩa tự nguyện như “phí bổ trợ”, “phí nâng cao cơ sở vật chất”. Do đó, để có sự cân bằng hợp lý, cần luật hóa một số nguyên tắc xác định như mức thu học phí phải phù hợp điều kiện kinh tế của từng địa bàn dân cư và khả năng đóng góp thực tế của người dân. Quy định như vậy, cử tri cũng yên tâm hơn về khuôn khổ, lộ trình tính đúng, tính đủ học phí và Chính phủ có cơ sở quy định chi tiết.  

Cần có quy định phù hợp với thực tế quản lý thuế

Thảo luận về dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi), đa số đại biểu Quốc hội đều khẳng định sự cần thiết phải sửa đổi và đóng góp nhiều ý kiến.

Đại biểu Nguyễn Tạo (Lâm Đồng) đề nghị bổ sung vào Điều 18 nghĩa vụ của các cơ quan thuế là cơ quan quản lý thuế phải tổ chức đối thoại với người nộp thuế hằng năm. Ví dụ, tiến hành tổ chức đối thoại của Tổng cục Thuế mỗi năm ít nhất một lần và Cục Thuế ở địa phương ít nhất 1 năm 2 lần. Đại biểu cũng kiến nghị bổ sung chế định về chống trốn thuế cho chặt chẽ, khắc phục lỗ hổng của pháp luật hiện hành, đó là sự phối hợp giữa cơ quan quản lý thuế với các cơ quan chức năng thực hiện hậu kiểm trong quá trình hoạt động của người nộp thuế.

Đại biểu Phạm Thị Thu Trang (Quảng Ngãi) bày tỏ quan điểm về quan hệ giữa kết luận thanh tra thuế và kiến nghị của cơ quan Kiểm toán nhà nước. Tại khoản 3 Điều 119 quy định: Trường hợp quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế về việc thực hiện nghĩa vụ thuế phải nộp, hoàn thuế của người nộp thuế có sự khác biệt với kiến nghị của cơ quan Kiểm toán nhà nước thì thực hiện theo quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế. Đại biểu đề nghị Ban soạn thảo xem xét không đưa quy định này trong dự thảo luật và cần nghiên cứu cho phù hợp để không xung đột hiệu lực giữa kết quả kiểm toán nhà nước và quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế. Vì kiểm toán là cơ quan do Quốc hội thành lập và hoạt động độc lập, chỉ tuân theo pháp luật. Giá trị pháp lý của báo cáo kiểm toán Nhà nước có tính bắt buộc, phải thực hiện đối với các cơ quan, đơn vị được kiểm toán, theo quy định tại khoản 1 Điều 17 của Luật Kiểm toán nhà nước. Như vậy, nếu quy định như dự thảo luật là không phù hợp, dễ dẫn đến xung đột pháp luật.

Về nhiệm vụ của ngân hàng thương mại trong việc quản lý thuế, đại biểu thống nhất quan điểm các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ tham gia trong hoạt động quản lý thuế. Tuy nhiên, đại biểu cũng đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, cần cân nhắc quy định ngân hàng thương mại cung cấp thông tin tài khoản của khách hàng là người nộp thuế mở tại ngân hàng cho cơ quan quản lý thuế bao gồm: thông tin về mở tài khoản, số tài khoản, cùng với mã số thuế của người nộp thuế. Đồng thời, cung cấp thông tin của người nộp thuế theo yêu cầu, gồm thông tin giao dịch qua tài khoản, số dư tài khoản của người nộp thuế được nêu tại khoản 2 Điều 27. Theo đại biểu, quy định như trên là chưa phù hợp vì yêu cầu bảo đảm bí mật thông tin khách hàng là nguyên tắc của ngân hàng theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản tiền gửi, tài sản gửi, các giao dịch của khách hàng tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho tổ chức, cá nhân khác, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và được sự chấp thuận của khách hàng. Do vậy, cần có sự hài hòa giữa hai quy định này để không làm ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động của ngân hàng, để tránh việc lạm dụng trong yêu cầu cung cấp thông tin dẫn đến ngân hàng vi phạm pháp luật

Đại biểu Bùi Thanh Tùng (Hải Phòng) cũng cho rằng, dự thảo luật còn nhiều nội dung chưa thống nhất, phù hợp với các luật hiện hành, đặc biệt là những nội dung liên quan đến thẩm quyền của các cơ quan như Thanh tra, Kiểm toán nhà nước và các quy định về xử phạt hành chính về thuế, cần được tiếp tục rà soát để bảo đảm  tính đồng bộ của hệ thống pháp luật. Đại biểu đề nghị: Về nguyên tắc quản lý thuế (Điều 5) cần nghiên cứu bổ sung nội dung về áp dụng nguyên tắc “giao dịch độc lập” trong quản lý thuế đối với các phát sinh giao dịch giữa các bên có quan hệ liên kết, nhằm chống chuyển giá và xói mòn nguồn thu từ các doanh nghiệp đa quốc gia; đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung thêm một khoản nghiêm cấm người nộp thuế có phát sinh hoạt động kinh doanh nhưng không chấp hành nghĩa vụ đăng ký, kê khai thuế; bỏ Điều 10 về xây dựng lực lượng quản lý thuế  vì lực lượng quản lý thuế là cán bộ, công chức và các quy định về cán bộ, công chức đã được quy định chi tiết tại Luật Cán bộ, công chức.

Về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm toán, Thanh tra nhà nước và kết quả kiểm tra, kết luận thanh tra thuế của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý thuế, đại biểu cho rằng quy định như dự thảo luật là không phù hợp với Luật Kiểm toán Nhà nước, cũng như Luật Thanh tra, khi cơ quan thuế cũng là một trong những đối tượng được kiểm toán, thanh tra; các nội dung kết luận của Kiểm toán, Thanh tra phải do các cơ quan này chịu trách nhiệm trước pháp luật theo các luật chuyên ngành. Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm giải trình trước các kết luận đó. Trường hợp có sự khác biệt của cơ quan quản lý thuế qua kết quả kiểm tra, thanh tra với kiến nghị, kết luận của các cơ quan Kiểm toán, Thanh tra, thì tùy theo chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan do luật định, Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định hoặc trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét quyết định theo đúng thẩm quyền.

Đại biểu Bùi Thanh Tùng mong muốn có sự thay đổi trong cách tư duy về quản lý thuế để thể hiện tầm nhìn, định hướng trong chính sách quản lý thuế nói chung cũng như đổi mới quan điểm khi sửa đổi các chính sách thuế cụ thể trong thời gian tới đây như Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) sao cho phù hợp với điều kiện thực tế, khi đất nước ta ngày càng hội nhập quốc tế sâu rộng, chính sách quản lý thuế phải khuyến khích được doanh nghiệp trong nước phát triển, đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài.  Theo đại biểu, thuế TTĐB hiện chiếm 60% tổng số thuế phải nộp hằng năm của một doanh nghiệp sản xuất ô tô, là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí và giá bán xe ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước. Các sản phẩm ô tô sản xuất trong nước đang gặp bất lợi về giá thành so với các sản phẩm ô tô nhập khẩu nguyên chiếc, đặc biệt là các sản phẩm từ ASEAN. Thực tế, một số doanh nghiệp sản xuất ô tô trong nước đang dần lớn mạnh, đầu tư bài bản, chuyên nghiệp, có đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế- xã hội, đóng góp tăng thu ngân sách nhà nước, như THACO, VINFAST… Ngành công nghiệp sản xuất ô tô  đang cần chính sách khuyến khích tăng tỷ lệ nội địa hóa để phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ nói riêng, ngành công nghiệp sản xuất ô tô trong nước nói chung, nâng cao năng lực cạnh tranh, tự chủ của các doanh nghiệp sản xuất ô tô trong nước, xây dựng thương hiệu ô tô “Made in Vietnam” phục vụ thị trường trong nước và tiến tới xuất khẩu, đóng góp hiệu quả cao hơn nữa vào nguồn thu ngân sách quốc gia và các địa phương. Đại biểu Bùi Thanh Tùng đề nghị Quốc hội và Chính phủ sớm xem xét “bổ sung đối tượng không chịu thuế TTĐB đối với hàng hóa là ô tô sản xuất trong nước khi đạt tỷ lệ % nội địa hóa nhất định”, hoặc “xác định giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng ô tô dưới 9 chỗ sản xuất trong nước là giá do cơ sở sản xuất bán ra trừ đi giá trị linh kiện, phụ tùng sản xuất trong nước”.