Hải Phòng đoàn kết, sáng tạo, đi đầu trong phong trào thi đua yêu nước xây dựng thành phố (1955 - 1965)

Ga Hải Phòng xưa. (Ảnh tư liệu)
Thực hiện lời dạy của Bác, với quyết tâm cao, cán bộ, đảng viên và nhân dân Hải Phòng - Kiến An đã khẩn trương bắt tay vào hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Phong trào thi đua yêu nước ở Hải Phòng - Kiến An diễn ra sôi nổi trên khắp các nhà máy, xí nghiệp, công nông trường, hợp tác xã nông nghiệp, cơ quan, trường học... Nội dung thi đua gắn liền với nội dung công tác và kế hoạch sản xuất của từng ngành, từng đơn vị, phù hợp trong từng thời kỳ.
Kết quả, 2 ngày sau giải phóng, tàu hỏa Hải Phòng - Hà Nội được khôi phục, chạy 2 chuyến ngày. Bảy ngày, Cảng Hải Phòng đón những chuyến tàu đầu tiên. Sau 4 tháng, nhà máy Ximăng lại nhả khói. Cơn bão lớn thế kỷ, 26-9-1955, gây tổn thất lớn về người và của cũng được khắc phục. Sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phục hồi, kết quả đạt xấp xỉ trước chiến tranh thế giới thứ 2. Sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế của chế độ mới được xác lập. Qua cải cách ruộng đất, giai cấp địa chủ bị đánh đổ, người nông dân để thực hiện ước mơ ngàn đời “người cày có ruộng”. Nhân dân nội thành được giải quyết việc làm. Công nhân trở lại bến Cảng, nhà máy. Cuộc sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện.
Sau 3 năm, những thắng lợi của sự nghiệp khôi phục kinh tế, bước đầu phát triển văn hoá đã tạo tiền đề cho công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công và tư bản tư nhân, phát triển kinh tế tập thể và quốc doanh; xác lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Thời Pháp thuộc, thành phố Hải Phòng vốn là trung tâm kỹ nghệ – thương mại, có các thành phần kinh tế tư bản tư nhân trên các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ, vận tải... Họ đều là những tư sản nhỏ, vốn liếng ít ỏi, địa vị xã hội non kém. Vận dụng đường lối, chủ trương của Đảng, Hải Phòng - Kiến An từng bước tiến hành thắng lợi công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế tư bản, tư nhân. Từ cuối năm 1958, Hải Phòng - Kiến An diễn ra cao trào hợp tác hoá. Từ đầu năm 1960 đã có 92,9% số thợ thủ công, 76% số hộ đánh cá, 96% số hộ làm muối và đại bộ phận người làm nghề vận tải thô sơ gia nhập các hình thức hợp tác xã. Nhiều hợp tác xã thủ công nghiệp ra đời trong thời kỳ này. Về nông nghiệp, từ cuối năm 1956 đến đầu năm 1958, Hải Phòng - Kiến An xây dựng các tổ đổi công, cuối năm 1958 tổ chức thí điểm hợp tác xã nông nghiệp ở một số địa phương. Từ cuối năm 1959, cuộc vận động nông dân vào hợp tác xã trở thành cao trào sôi nổi. Nếu năm 1958, hai tỉnh, thành phố mới có 2 hợp tác xã thì cuối năm 1960, hơn 82% số hộ nông dân đã vào hợp tác xã (1.200 hợp tác xã bậc thấp, 62 hợp tác xã bậc cao...). Ngoài ra còn có 56% hộ ngư dân, 26% hộ diêm dân vào hợp tác xã. Hầu hết các xã thành lập hợp tác xã mua bán và tín dụng.
Phong trào thi đua sản xuất, phát huy sáng kiến phát triển mạnh mẽ trên khắp các ngành công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng cơ bản, giao thông vận tải... Thành phố đã hoàn thành tốt kế hoạch Nhà nước năm 1960 và kế hoạch 3 năm 1958-1960. Giá trị tổng sản lượng công nghiệp và thủ công nghiệp từ năm 1957 đến năm 1960 tăng 116,1%, bình quân hằng năm tăng gần 30%. Sản xuất ximăng phát triển mạnh, năm 1960 vượt sản lượng 32,6% so với năm 1959. Công nghiệp cơ khí sản xuất nhiều loại máy nhỏ và vừa. Nhà máy Xi măng, Cảng được củng cố và mở rộng. Hàng loạt nhà máy mới được xây dựng: Thuỷ Tinh, Sắt tráng men, nhựa Thiếu niên Tiền phong, Cá hộp... bước vào sản xuất. Cảng được mở rộng hoạt động, sản lượng bốc xếp năm 1960 cao hơn năm 1957 là 141,6% và vượt năm 1938 (trước chiến tranh thế giới 2) là 46,73%. Khối luợng vận chuyển thuỷ bộ của địa phương năm 1960 tăng 224,66% so với năm 1957 (tính theo tấn/km), bình quân hằng năm tăng gần 56%... Những thành quả xây dựng và sản xuất góp phần củng cố những thành tựu cải tạo mới giành được. Đời sống nhân dân bước đầu được cải thiện.
Ngày 3-2-1958, đoàn chiến sĩ thi đua của Hải Phòng tham dự Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc tại Thủ đô Hà Nội, vinh dự được vào thăm Bác tại Phủ Chủ tịch. Bác hỏi thăm sức khỏe cụ Nguyễn Văn Đĩnh, công nhân nhà máy ximăng cao tuổi nhất đoàn và biếu cụ bộ quần áo lụa. Dịp khác, Anh hùng lao động Phùng Văn Bằng, công nhân đốt đèn hướng dẫn tàu ra vào Cảng Hải Phòng, vinh dự dược gặp Bác. Bác thân mật hỏi chuyện mọi người. Bỗng Bác hỏi: Chú nào là chú Bằng? Sau những lời thăm hỏi, Bác căn dặn: Chú về cố gắng và đảm bảo ánh sáng tốt hơn. Có thế tàu bè nước ngoài ra vào cảng mới tốt được. Đừng để lúc nào đèn tắt. Đèn tắt là nguy hiểm lắm đấy! Hình ảnh Bác và những lời căn dặn của Bác được toàn thể đội ngũ công nhân, lao động Hải Phòng thấm nhuần, ra sức thi đua sản xuất, xây dựng thành phố, đất nước.
Những năm thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Bác theo dõi sát sao và động viên kịp thời phong trào thi đua yêu nước ở Hải Phòng - Kiến An. Công nhân, biên chức, lao động trong các nhà máy, xí nghiệp, công nông trường, hợp tác xã nông nghiệp, cơ quan, trường học... đẩy mạnh phong trào thi đua lao động sản xuất, công tác , học tập. Nội dung thi đua gắn liền với nội dung công tác và kế hoạch sản xuất của từng ngành, từng đơn vị. Mọi người phát huy tinh thần làm chủ, tham gia quản lý, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong sản xuất và xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Đó là những điển hình tốt đẹp của tinh thần lao động dũng cảm và sáng tạo của của các tầng lớp nhân dân lao động Hải Phòng - Kiến An. Tiêu biểu là phong trào xây dựng Tổ đội Lao động xã hội chủ nghĩa, mà con chim đầu đàn là tổ Đá nhỏ ca A nhà máy xi măng; hội thi thao diễn kỹ thuật của nhà máy cơ khí Duyên Hải. Những điển hình tiên tiến này đã được Hồ Chủ tịch phát động thành phong trào “Sóng Duyên Hải”, xây dựng Tổ đội Lao động xã hội chủ nghĩa trên toàn miền Bắc. Đầu năm 1962, khi về thăm Hải Phòng, Bác phát động phong trào thi đua giành danh hiệu “Ti-tốp” và cuối năm, toàn thành phố có 14 nghìn người giành được danh hiệu Ti-tốp. Chị Trương Thị Len, công nhân tổ đá nhỏ ca A nhà máy xi măng, chiến sĩ thi đua toàn quốc, đại biểu Quốc hội (khóa 2) trẻ nhất, vinh dự được 7 lần gặp Bác và Bác gọi là “Bé Len Hải Phòng”.
Cùng với các xí nghiệp lớn do trung ương quản lý, Hải Phòng hình thành nền công nghiệp địa phương tương đối hoàn chỉnh, với nhiều ngành nghề phong phú: cơ khí chế tạo, cơ khí sửa chữa, hoá chất dân dụng, bột nhẹ, chế biến gỗ, chế biến thực phẩm, đồ dùng sinh hoạt gia đình... Công nghiệp Trung ương và địa phương ở Hải Phòng sản xuất nhiều mặt hàng mới, đẹp, chất lượng bảo đảm và có giá trị xuất khẩu. Ngành cơ khí từ chuyên sửa chữa tiến tới chế tạo dụng cụ và các chi tiết máy phức tạp trước đây phải chờ cung cấp. Ngành đóng tàu phát triển với tốc độ nhanh, từ chuyên sửa chữa đã tiến tới đóng hoàn chỉnh các loại tàu sông, tàu ven biển, ca nô, sà lan, phà và tàu thuyền đánh cá. Nhiều mặt hàng mới do công nghiệp Hải Phòng sản xuất, phục vụ cho sản xuất đời sống và xuất khẩu như máy cắt đột, đập, đúc ống nước, chân vịt tàu thủy, cân các loại, sắt tráng men, đồ nhựa, nhôm, thuỷ tinh, len, thảm len, thảm chiếu cói, bột nhẹ, giày vải, hàng mỹ nghệ... Quan hệ giữa công nghiệp với nông nghiệp và các ngành kinh tế ngày càng mở rộng. Đến năm 1965, công nghiệp bắt đầu phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp cách mạng chung của cả nước.
Những năm 1960-1965, nông nghiệp Hải Phòng Kiến An đã có nhiều biến đổi sâu sắc. Quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa được xác lập. Khối công nông liên minh được củng cố trên cơ sở kinh tế - xã hội mới nên đã thay đổi về chất. Tuyệt đại bộ phận nông dân gia nhập hợp tác xã. Từ 2 hợp tác xã thí điểm đầu năm 1958 hết năm 1962, phát triển tới 900 hợp tác xã. Quy mô hợp tác xã mở rộng, số hợp tác xã bậc cao ngày càng nhiều (năm 1962 có 196 hợp tác xã bậc cao và đến năm 1965 phát triển tới 754 hợp tác xã bậc cao). Cuộc vận động “cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật” ở các hợp tác xã nông nghiệp có tác động tới các ngành công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng cơ bản...
Giao thông vận tải là ngành quan trọng trong nền kinh tế của Hải Phòng, với những hoạt động đa dạng về đường biển, sông, sắt, bộ... Giao thông vận tải gắn liền với sự phát triển của Cảng và hoạt động của các ngành kinh tế. Về đường biển, Hải Phòng đứng đầu miền Bắc, đường sông chiếm 80% tổng số hàng hoá toàn miền Bắc (riêng vận tải địa phương chiếm 1/3). Trong chặng đường đầu tiên xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, Cảng Hải Phòng thường xuyên tiếp nhận một khối lượng hàng hoá rất lớn. Lượng hàng qua Hải Phòng hằng năm đạt 2 triệu tấn.
Lĩnh vực văn hoá - xã hội, 10 năm sau ngày giải phóng, đã có những bước tiến dài. Từ một nền văn hoá nô dịch, Hải Phòng đã nhanh chóng trở thành trung tâm văn hoá, giáo dục, y tế lớn sau Thủ đô Hà Nội. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện. Hải Phòng – Kiến An được Hồ Chủ tịch giành sự quan tâm đặc biệt vì vị trí chiến lược kinh tế và quốc phòng, vì những sáng tạo, năng động của những người lao động Hải Phòng trong công cuộc xây dựng và giải phóng miềnNam, thống nhất đất nước.