Đề án về cơ chế hỗ trợ kinh phí thủy lợi nội đồng trên địa bàn thành phố Hải Phòng

09/06/2019 11:06

A. THÔNG TIN CHUNG

1. Tên đề án: Đề án Hỗ trợ kinh phí thủy lợi nội đồng trên địa bàn thành phố Hải Phòng.

2. Cơ quan chủ trì: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

3. Cơ quan quản lý: UBND thành phố Hải Phòng

4. Cơ quan phê duyệt: HĐND thành phố Hải Phòng

5. Thời gian thực hiện đề án: Đến năm 2025

B. NỘI DUNG ĐỀ ÁN PHẦN MỞ ĐẦU


I. Tổng quan về hệ thống thủy lợi Hải Phòng

Hệ thống thủy lợi là hệ thống bao gồm các công trình thuỷ lợi có liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định. Địa hình thành phố Hải Phòng bị chia cắt bởi 6 tuyến sông chính là chi lưu của hệ thống sông Thái Bình đổ ra vịnh Bắc Bộ, các công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố vì vậy mà bị chia cắt thành 06 hệ thống độc lập nhau, bao gồm 5 hệ thống trên đất liền và 1 hệ thống trên đảo: hệ thống thủy lợi Vĩnh Bảo, hệ thống thủy lợi Tiên Lãng, hệ thống thủy lợi Đa Độ, Hệ thống thủy lợi An Hải, hệ thống thủy lợi Thủy Nguyên và hệ thống thủy lợi trên huyện đảo Cát Hải.

Hệ thống các công trình thủy lợi Hải Phòng có nhiệm vụ: Tích trữ, điều hòa, chuyển, phân phối, cấp, tưới, tiêu và thoát nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối; kết hợp cấp, tiêu, thoát nước sinh hoạt và các ngành kinh tế khác; góp phần phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm an ninh nguồn nước.

Đến nay, hệ thống các công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố được đầu tư xây dựng tương đối hoàn chỉnh từ công trình đầu mối đến mặt ruộng, năng lực thiết kế công trình cơ bản đáp ứng nhu cầu tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh trên địa bàn.

Toàn thành phố hiện có 685 trạm bơm điện tưới, tiêu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, 383 cống dưới đê, 3.833 tuyến kênh chìm từ cấp 3 trở lên với tổng chiều dài 4.059,2 km; 1296 km kênh cứng sau trạm bơm điện; 9.299 cống đầu kênh của các tổ chức hợp tác dùng nước (điểm giao nhận sản phẩm dịch vụ thủy lợi); 15.510 tuyến kênh nội đồng sau điểm giao nhận có tổng chiều dài 4.818,6 km. Các công trình thủy lợi đang phục vụ tưới, tiêu hơn 100.000 ha diện tích nông nghiệp và thủy sản, cung cấp hơn 90 triệu m3 nước thô mỗi năm cho các nhà máy sản xuất nước sạch trên địa bàn thành phố.

Các hệ thống thủy lợi trên địa bàn thành phố đều chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ thuỷ triều vịnh Bắc Bộ, nên có đặc điểm chung là hệ thống đồng bộ giữa tưới và tiêu, đều có kênh trục chính tưới, tiêu kết hợp, các khu tưới và tiêu đều có công trình đầu mối, kênh chính dẫn nước riêng không chồng chéo và không ảnh hưởng xấu đến nhau. Hướng tưới và hướng tiêu được xác định cụ thể trong từng hệ thống, từng khu vực, từng mùa vụ, quy trình vận hành hợp lý, rõ ràng.

Mặc dù được đầu tư hoàn chỉnh từ công trình đầu mối đến mặt ruộng. Tuy nhiên, do công trình được xây dựng đã lâu, sau thời gian dài đưa vào vận hành khai thác bị xuống cấp. Hệ thống kênh chủ yếu là kênh đất thường xuyên bị bồi lắng, tình trạng lấn chiếm lòng kênh gây ách tắc dòng chảy, hạn chế khả năng dẫn và trữ nước thường xuyên xảy ra.

II. Căn cứ pháp lý để xây dựng Đề án

Căn cứ Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14 ngày 19-6-2017;

Căn cứ Nghị định số 67/2018/NĐ- CP ngày 14-5-2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thủy lợi;

Căn cứ Thông tư số 05/2018/TT-BNNPTNT ngày 15-05-2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định chi tiết một số điều của Luật Thủy lợi;

Căn cứ Nghị định số 77/2018/NĐ-CP ngày 16-5-2018 của Chính phủ quy định hỗ trợ phát triển thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng và tưới tiên tiến, tiết kiệm nước;

Căn cứ Nghị định số 96/2018/NĐ-CP ngày 30-6-2018 của Chính phủ quy định chi tiết về giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi và hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm dịch vụ thủy lợi;

Căn cứ Quyết định số 601/2017/QĐ-UBND ngày 20-3-2017 của UBND thành phố về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 1464/2009/QĐ-UBND ngày 31-7-2009 về việc phân cấp quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố Hải Phòng;

Căn cứ Quyết định số 371/QĐ-UBND ngày 23-3-2012 của UBND thành phố về việc giao quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố Hải Phòng;

Căn cứ Quyết định số 549/QĐ-UBND ngày 14-3-2018 của UBND thành phố về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 371/QĐ-UBND ngày 23-3-2012 của UBND thành phố về giao quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố Hải Phòng;

PHẦN I: SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

I. Hiện trạng hệ thống thủy lợi Hải Phòng

1.1. Hiện trạng công trình thủy lợi 

Công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố Hải phòng được chia làm 6 hệ thống (5 hệ thống trên đất liền và 1 hệ thống trên huyện đảo Cát Hải) các hệ thống thủy lợi hoàn toàn độc lập với nhau do bị chia cắt bởi 6 tuyến sông là chi lưu của sông hệ thống sông Thái Bình. Trên 5 hệ thống thủy lợi trên đất liền có 14 tuyến kênh trục chính, tổng chiều dài 260,2km, 135 kênh cấp I với tổng chiều dài 526,6km, 6 cống đầu mối có khẩu độ 20   42m; 363 cống có khẩu độ dưới 5.0m; 41 cống đầu mối có khẩu độ 5   20m; 337 cống có khẩu độ dưới 5,0m; 678 trạm bơm tưới có tổng công suất 746.960m3/h; 7 trạm bơm đầu mối tiêu có công suất từ 17.500   80.000m3/h. Các hệ thống thủy lợi trên có nhiệm vụ tiêu nước hơn 100.000 ha, cấp nước tưới  58.253ha đất canh tác, cấp nước  sinh hoạt đô thị, khu vực nông thôn, khu công nghiệp và 213 nhà sản xuất nước sạch với khối lượng nước thô hơn 90 triệu m3 mỗi năm.

Bảng 01: Tổng hợp công trình thủy lợi trên toàn thành phố

1.2. Chất lượng công trình thủy lợi

Theo kết quả đánh giá chất lượng công trình thủy lợi trước mùa mưa bão năm 2019 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Phòng, hiện tại các công trình thủy lợi trong phạm vi từ công trình đầu mối đến điểm giao nhận sản phẩm dịch vụ thủy lợi có chất lượng tương đối tốt, cơ bản đáp ứng nhu cầu phục vụ tưới, tiêu nước trong điều kiện bình thường. Tuy nhiên, trong trường hợp ứng phó với các tình huống mưa, bão toàn thành phố hiện còn 74,025 km kênh mương cần nạo vét;  62 cống đầu mối xung yếu cần đầu tư xây dựng mới, 4 trạm bơm tiêu cần nâng cấp, cải tạo.

Đối với các công trình thủy lợi nội đồng (công trình nằm trong phạm vi từ điểm giao nhân dịch vụ thủy lợi đến mặt ruộng), theo kết quả khảo sát năm 2019 của Trung tâm Tư vấn xây dựng Thủy lợi thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Chi cục Thủy lợi và Phòng chống thiên tai thực hiện, toàn thành phố hiện có 9.283 điểm giao nhận sản phẩm dịch vụ thủy lợi; 15.509 tuyến kênh nội đồng sau điểm giao nhận; tổng chiều dài kênh nội đồng là 4.816km. Hiện tại, có trên 50% các tuyến kênh nội đồng tương đương với chiều dài khoảng 2.500km kênh nội đồng đang trong tình trạng bị nông đầy, bồi lắng làm hạn chế khả năng dẫn nước; 60% số điểm giao nhận dịch vụ thủy lợi chưa có cống điều tiết.

1.3. Phân cấp quản lý công trình thủy lợi

Tham gia quản lý các công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố hiện có 5 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước (Công ty TNHH một thành viên Khai thác công trình thủy lợi) với tổng số 25 cụm, trạm thủy nông trực thuộc; 221 đơn vị dùng nước bao gồm UBND các xã, phường, thị trấn; Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp.

Đối với các công trình thủy lợi lớn, công trình đòi hỏi quy trình vận hành phức tạp, quy mô phục vụ liên xã (phần lớn là những công trình nằm trọng phạm vi từ công trình đầu mối đến điểm giao nhận dịch vụ thủy lợi)  UBND thành phố Hải Phòng ban hành các Quyết định số 1464/2009/QĐ-UBND ngày 31-7-2009 về việc phân cấp quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố Hải Phòng; Quyết định số 371/QĐ-UBND ngày 23-3-2012 về việc giao quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố Hải Phòng; Quyết định số 601/2017/QĐ-UBND ngày 20-3-2017 về việc sửa đổi, điều chỉnh, bổ sung một số điều của Quyết định số 1464/2009/QĐ-UBND ngày 31-7-2009 về việc phân cấp quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố Hải Phòng; Quyết định số 549/QĐ-UBND ngày 14-3-2018, về việc  sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 371/QĐ-UBND về việc giao quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố Hải Phòng.

Theo nội dung các Quyết định trên, UBND thành phố giao các Công ty TNHH một thành viên Khai thác công trình thủy lợi quản lý 335 cống dưới đê; 1511 tuyến kênh bao gồm các tuyến kênh liên xã, kênh hút và kênh cấp 1 sau trạm bơm điện;  2749 công trình trên kênh.

Các công trình thủy lợi còn lại (chủ yếu là công trình thủy lợi nội đồng) hiện đang được UBND các xã, phường, thị trấn; Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp quản lý, khai thác.

Bảng 02: Bảng tổng hợp công trình thủy lợi theo các đối tượng quản lý

II. Hiện trạng thủy lợi nội đồng

2.1. Số lượng công trình thủy lợi nội đồng

Toàn thành phố có 15.510 tuyến kênh nội tổng chiều dài 4.818,6 km; 9.299 cống đầu kênh là các điểm giao nhận sản phẩm, dịch vụ thủy lợi; 79 trạm bơm điện tưới. Toàn bộ các công trình thủy lợi nội đồng là những công trình có quy mô nhỏ bao gồm:

- Các cống đầu các tuyến kênh nội đồng (điểm giao nhận sản phẩm, dịch vụ thủy lợi;

- Các tuyến kênh cấp 2, cấp 3, cấp 4 có phạm vi phục vụ trong phạm vi một thôn, một xã. Số các công trình này chủ yếu là các tuyến kênh có quy mô nhỏ, chiều rộng đáy kênh dưới 5m.

- Các trạm bơm điện có tổng công suất máy bơm dưới 500m3/h, chủ yếu là trạm bơm dầu, trạm bơm không cố định.

- Các cống dưới đê bao, đê bối phục vụ cho phạm vi nhỏ.

2.2. Chất lượng công trình thủy lợi nội đồng

Theo kết quả thống kê, rà soát các công trình thủy lợi nội đồng trên địa bàn thành phố: Trong số 4818,6 km kênh mương nội đồng hiện nay có tới trên 90% là kênh có kết cầu bằng đất đắp; 50% số công trình với chiều dài tương ứng khoảng 2.500 km đang trong tình trạng nông đầy, mặt kênh bị bao phủ bởi bèo, rác không bảo đảm năng lực dẫn nước theo thiết kế.

Phần lớn các điểm giao nhận sản phẩm dịch vụ thủy lợi hiện nay đều chưa có cống điều tiết, dẫn đến tình trạng không kiểm soát được mực nước tại khu vực canh tác theo yêu cầu sinh trưởng và phát triển của cây trồng.

Các trạm bơm điện nhỏ thuộc công trình thủy lợi nội đồng do các tổ chức thủy lợi cơ sở quản lý hiện tại hầu hết cũng đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng.

Tình trạng công trình thủy lợi nội đồng bị xuống cấp, nông đầy, nguồn nước trong kênh thiếu luân chuyển dẫn đến nhiều tuyến kênh bị ô nhiễm nghiêm trọng. Tình trạng ô nhiễm ngày càng tăng do hầu hết các tuyến kênh nội đồng đều là nơi trực tiếp tiếp nhận nguồn nước thải từ các khu dân cư, khu đất canh tác nông nghiệp mang theo chất hữu cơ và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.

2.3. Hiện trạng quản lý công trình thủy lợi nội đồng

Theo Quyết định số 1464/QĐ-UBND ngày 31-7-2009 của UBND thành phố Hải Phòng về việc phân cấp quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố, các tổ chức hợp tác dùng nước được giao nhiệm vụ quản lý các công trình thủy lợi còn lại (ngoài công trình giao các Công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi), bao gồm các tuyến kênh cấp 2, cấp 3, cấp 4 phục vụ trong phạm vi một thôn, một xã; các trạm bơm điện có công suất máy bơm nhỏ hơn 500m3/h. Toàn bộ các công trình này đều nằm trong phạm vi công trình thủy lợi nội đồng.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay tại nhiều địa phương chưa thành lập được tổ chức dùng nước hoặc Hợp tác xã nông nghiệp có làm dịch vụ thủy lợi. Một số địa phương có tổ hợp tác nhưng làm ăn không hiệu quả, thu không đủ bù chi đã tự giải thể, dẫn đến việc UBND các xã phải trực tiếp quản lý các công trình thủy lợi nội đồng. Tổng hợp kết quả khảo sát tình hình quản lý các công trình nội đồng tại các địa phương như sau:

Bảng 3: Tổng hợp tình hình quản lý công trình thủy lợi nội đồng

III. Tình hình tài chính phục vụ quản lý, khai thác thủy lợi nội đồng

Kinh phí phục vụ quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi nội đồng được thu từ đóng góp của tổ chức, cá nhân sử dụng sản phẩm, dịch vụ thủy lợi và nguồn hỗ trợ từ ngân sách thành phố.

Nguồn thu từ ngân sách thành phố cấp hỗ trợ: Giai đoạn 2007-2008 mức hỗ trợ là 2.000 đồng/sào/vụ tương đương với 55.555 đồng/ha/vụ. Giai đoạn 2008-2015, mức hỗ trợ là 4.000 đồng/sào/vụ, tương đương 111.111đồng/ha/vụ.

Nguồn thu từ đóng góp của người dân: Thực tế tại các địa phương việc thu tiền làm thủy lợi nội đồng của người dân gặp rất nhiều khó khăn do các nguyên nhân: Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp của các hộ dân còn ở mức thấp, trong khi đó ngoài khoản thu cho chi phí thủy lợi nội đồng còn có nhiều khoản thu khác; quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa dẫn tới biến động về cơ cấu lao động sản xuất nông nghiệp; lao động nông nghiệp chủ yếu tập trung vào các đối tượng người lớn tuổi và người già, dẫn đến khả năng đóng góp khó được đáp ứng.

Tại nhiều địa phương như các phường thuộc quận Kiến An; phường Anh Dũng, Hòa Nghĩa quận Dương Kinh; phường Tràng Cát quận Hải An; thị trấn An Lão huyện An Lão; các xã Lâm Động, Dương Quan huyện Thủy Nguyên không tổ chức thu hoặc không thu được kinh phí làm thủy lợi nội đồng. Tại các phường, xã còn lại có tổ chức thu nhưng kinh phí thu được phục vụ cả công tác làm thủy lợi nội đồng, bảo vệ đồng ruộng, diệt chuột...

Thực tế tại các địa phương, tổng hợp các nguồn thu quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi nội đồng đều không đủ chi, dẫn đến các tổ chức thủy lợi cơ sở hoạt động không bền vững, công trình không được duy tu, bảo dưỡng thường xuyên, nhiều công trình xuống cấp nghiêm trọng, không bảo đảm khả năng phục vụ sản xuất.

IV. Một số chính sách hỗ trợ thủy lợi nội đồng đã ban hành và kết quả thực hiện

4.1. Các chính sách đã ban hành

Nghị quyết số 10/2007/NQ-HĐND ngày 25-9-2007 của HĐND thành phố khóa 13 về cơ chế chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, thủy sản thành phố Hải Phòng đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; theo đó tại điểm a, khoản 7 Điều 1 quy định: “Giảm 70% thủy lợi phí cho các đối tượng chịu thủy lợi phí. Giao UBND thành phố quyết định mức giảm ở từng khâu cụ thể để bảo đảm chất lượng dịch vụ và trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ và người được hưởng lợi”;

Nghị quyết số 14/2010/NQ-HĐND ngày 9-12-2010 của HĐND thành phố về cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, thủy sản thành phố Hải Phòng giai đoạn 2011-2015, theo đó tại khoản 1 Điều 1 quy định: “Tiếp tục thực hiện một số cơ chế chính sách đã quy định tại Nghị quyết số10/2007/NQ-HĐND ngày 25-9-2007 của HĐND thành phố khóa 13”;

Nghị quyết số 151/2016/NQ-HĐND ngày 13-12-2016 của HĐND thành phố Hải Phòng về việc thông qua Kế hoạch thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2017-2020; Theo phụ lục 6 ban hành kèm theo Nghị quyết: Kinh phí hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2017-2020, trong đó hỗ trợ 100% phí dịch vụ thủy lợi nội đồng, mức hỗ trợ 15.000 đồng/sào/vụ.

4.2. Kết quả thực hiện

Tổng kinh phí ngân sách thành phố hỗ trợ thủy lợi nội đồng trên địa bàn thành phố giai đoạn từ 2008 đến nay là 84.782,389 triệu đồng, trong đó:

a) Giai đoạn 2008-2016

Thực hiện các chính sách của HĐND và UBND thành phố về hỗ trợ thủy lợi phí  các tổ chức hợp tác dùng nước để phục vụ  hoạt động của tổ hợp tác dùng nước tính từ vị trí cống đầu kênh của tổ chức hợp tác dùng nước đến mặt ruộng (thủy lợi nội đồng), theo đó hỗ trợ 50% mức tối đa của khung mức quy định: 2.000 đồng/sào/vụ (năm 2008) và 4.000 đồng/sào/vụ (năm 2009-2016), tổng kinh phí hỗ trợ thủy lợi nội đồng từ ngân sách thành phố cấp cho 11 quận, huyện có diện tích sản xuất nông nghiệp giai đoạn này là 84.782.389 nghìn đồng (theo số liệu Báo cáo của Thanh tra thành phố tại Báo cáo số 121/BC-TTTP ngày 17-9-2018), trong đó số kinh phí hỗ trợ theo các năm cụ thể như sau:

b). Giai đoạn 2017 đến nay

Theo quy định tại Nghị quyết số 151/2016/NQ-HĐND ngày 13-12-2016 của HĐND thành phố (Nghị quyết số 151), hỗ trợ 100% phí dịch vụ thủy lợi nội đồng, với mức hỗ trợ 15.000 đồng/sào/vụ.

Tuy nhiên, theo quy định tại Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25-11-2015 có hiệu lực từ ngày 1-1-2017, danh mục phí các loại sản phẩm dịch vụ công ích thủy lợi chuyển sang giá dịch vụ do Nhà nước định giá và được áp dụng từ ngày 1-1-2017. Đồng thời, Luật Thủy lợi có hiệu lực từ ngày 1-7-2018, trong đó quy định kinh phí thuỷ lợi nội đồng là mức đóng góp để bảo đảm chi trả tiền sản phẩm, dịch vụ thủy lợi theo quy định được các thành viên của tổ chức thủy lợi cơ sở thống nhất. Đối tượng, hỗ trợ phí thủy lợi nội đồng trong Nghị quyết số 151 chỉ bao gồm các xã xây dựng nông thôn mới, trong thực tế, các phường, thị trấn cũng có thủy lợi nội đồng.

Như vậy, Nghị quyết số 151 không phù hợp quy định của Luật Giá, Luật Phí và Lệ phí và Luật Thủy lợi. Đây là khó khăn trong quá trình triển khai Nghị quyết. Dẫn đến từ năm 2017 đến nay, vẫn chưa thực hiện được việc hỗ trợ phí thủy lợi nội đồng đối với người nông dân.

V. Tồn tại hạn chế trong quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi nội đồng

5.1. Tồn tại trong phân cấp quản lý

Nguyên tắc của quản lý công trình thủy lợi là: Quản lý thống nhất theo hệ thống công trình thủy lợi từ công trình đầu mối đến công trình thủy lợi nội đồng; phù hợp mục tiêu, nhiệm vụ của hệ thống, đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng nước phục vụ sản xuất, dân sinh và các ngành kinh tế.

Để bảo đảm nguyên tắc trên, UBND thành phố ban hành các Quyết định phân cấp quản lý công trình thủy lợi, theo đó các Công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi 100% vốn nhà nước quản lý các công trình: Cống qua đê, các tuyến kênh sau cống qua đê; các tuyến kênh chìm phục vụ liên xã; các trạm bơm điện tưới, tiêu và các tuyến kênh hút, kênh tưới cấp 1 sau trạm bơm tưới có công suất máy bơm từ 500m3/giờ trở lên. Các công trình thủy lợi còn lại được giao cho các tổ chức thủy lợi cơ sở quản lý.

Tuy nhiên, việc phân cấp quản lý không xác định được vị trí cống đầu kênh (điểm giao nhận sản phẩm, dịch vụ thủy lợi) dẫn đến tình trạng mặc định các công trình do tổ chức thủy lợi cơ sở quản lý là công trình thủy lợi nội đồng. Trong khi đó, chính sách cấp bù thủy lợi phí theo quy định của Chính phủ chỉ cấp bù cho những công trình trong phạm vi từ công trình đầu mối đến điểm giao nhận sản phẩm, dịch vụ thủy lợi. Như vậy, toàn bộ công trình do địa phương quản lý, trong đó có những công trình lớn không được hưởng nguồn kinh phí từ cấp bù do miễn thủy lợi phí.

Thực tế có một số công trình giao cho các Công ty TNHH một thành viên Khai thác công trình thủy lợi quản lý có quy mô công trình, diện tích phục vụ rất nhỏ nhưng vẫn được sử dụng kinh phí cấp bù thủy lợi phí, để phục vụ quản lý, khai thác. Trong khi đó, một số công trình do tổ chức thủy lợi cơ sở quản lý lại có quy mô, diện tích phục vụ lớn nhưng phải thu kinh phí từ người dân để quản lý, khai thác. Tình trạng này vừa làm tăng gánh nặng đóng góp vừa làm cho nhân dân tại một số địa phương hiểu sai về chính sách miễn thủy lợi phí và muốn giao toàn bộ công trình thủy lợi các Công ty TNHH một thành viên Khai thác công trình thủy lợi quản lý để không phải đóng góp làm thủy lợi nội đồng.

5.2. Tồn tại trong chính sách hỗ trợ

a) Giai đoạn 2008-2016

Trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2016, HĐND thành phố  đã ban hành các Nghị quyết số 10/2007/HĐND ngày 25-9-2007 và Nghị quyết số 14/2010/NQ-HĐND ngày 9-12-2010; UBND thành phố Hải Phòng ban hành các Quyết định số 677/QĐ-UBND ngày 25-4-2008 và Quyết định số 943/QĐ-UBND ngày 26-5-2009, trong đó quy định kinh phí thủy lợi nội đồng được ngân sách thành phố hỗ trợ 50%, các hộ dân dùng nước sản xuất nông nghiệp phải đóng góp 50% theo mức tối đa của khung quy định (năm 2008, mức hỗ trợ thủy lợi nội đồng là 2.000 đồng/sào/vụ; giai đoạn 2009 đến 2016, mức mức hỗ trợ thủy lợi nội đồng là 4.000 đồng/sào/vụ).

Việc quy định mức trần phí thủy lợi nội đồng và mức hỗ trợ của thành phố trong giai đoạn này là quá thấp, chưa phù hợp tình hình thực tế do giá vật tư, nhiên liệu và giá nhân công ngày một tăng trong khi mức hỗ trợ của thành phố không thay đổi. Vì vậy, nguồn thu không đủ để các tổ chức thủy lợi cơ sở thực hiện bảo dưỡng, nạo vét kênh mương, chi trả tiền công dẫn nước. Điều này làm nhiều tổ chức thủy lợi cơ sở không hoạt động hoặc giải thể, công trình xuống cấp, hư hỏng nhanh do không được duy tu, bảo dưỡng và không phát huy hiệu quả.

Để bảo đảm nguồn chi cho thủy lợi nội đồng tại một số địa phương đã phải thu vượt mức trần quy định của thành phố, thu quá khả năng đóng góp của người dân dẫn sai phạm và khiếu kiện kéo dài.

b) Giai đoạn 2017 đến nay

Ngày 13-12-2016, HĐND thành phố ban hành Nghị quyết số 151/2016/NQ-HĐND về việc thông qua Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2017 – 2020 (Nghị quyết số 151), trong đó quy định: hỗ trợ 100% kinh phí thủy lợi nội đồng, với mức hỗ trợ là 15.000 đồng/sào/vụ; đối tượng áp dụng là 139 xã xây dựng nông thôn mới trên địa bàn các huyện. Với mức hỗ trợ này cơ bản sẽ đáp ứng được nhu cầu cho công tác quản lý, khai thác các công trình thủy lợi nội đồng.

Tuy nhiên, từ ngày 1-1-2017, Luật Giá, Luật Phí và Lệ phí có hiệu lực thi hành, một số loại phí được chuyển sang giá, trong đó có phí thủy lợi nội đồng. Luật Thủy lợi có hiệu lực từ ngày 1-7-2018, trong đó quy định kinh phí thuỷ lợi nội đồng là mức đóng góp để bảo đảm chi trả tiền sản phẩm, dịch vụ thủy lợi theo quy định được các thành viên của tổ chức thủy lợi cơ sở thống nhất. Như vậy, việc hỗ trợ thủy lợi nội đồng theo Nghị quyết số 151/2016/NQ-HĐND không phù hợp, nên từ năm 2017 đến nay không thực hiện được việc hỗ trợ.

5.3. Tồn tại trong điều hành

Công tác tuyên truyền về chính sách, chế độ hỗ trợ thủy lợi nội đồng đến nhân dân tại một số địa phương còn rất hạn chế. Tại một số địa phương người dân còn hiểu việc hỗ trợ thủy lợi nội đồng là được cấp phát trực tiếp cho các hộ dẫn đến khiếu kiện không đúng.

Việc công khai, dân chủ trong quản lý nguồn thu, chi kinh phí thủy lợi nội đồng chưa được thực hiện nghiêm túc và thống nhất tại các địa phương dẫn đến người dân hiểu nhầm, hiểu không đúng về chính sách hỗ trợ thủy lợi nội đồng.

Do có nhiều mô hình tổ chức quản lý thủy lợi nội đồng, thu, chi kinh phí thủy lợi nội đồng; quản lý, điều hành công trình thủy lợi nội đồng không thống nhất tại các địa phương. Một số địa phương còn thu phí thủy lợi nội đồng chung với kinh phí dịch vụ khác, dẫn đến mức thu vượt trần quy định gây bức xúc trong nhân dân.

Đặc biệt, tại một số địa phương, UBND xã trực tiếp đứng ra khai thác, vận hành công trình thủy lợi nội đồng dẫn đến tình trạng lẫn lộn giữa quản lý nhà nước và quản lý sản xuất. Việc một số xã trực tiếp giao khoán việc dẫn nước, duy tu, bảo dưỡng công trình cho cá nhân, sau đó tự nghiệm thu, thanh toán ảnh hưởng đến hiệu lực quản lý nhà nước, đồng thời gây nghi ngờ, hiểu sai về chính sách hỗ trợ thủy lợi nội đồng trong nhân dân.

VI. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

6.1. Nguyên nhân khách quan

Do số lượng công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố rất lớn, hầu hết công trình thủy lợi nội đồng được đầu tư hoàn chỉnh nhưng không có thiết kế, không xác  định được diện tích phục vụ của từng công trình làm cơ sở cho việc phân cấp quản lý.

Do yếu tố địa hình, nên các công trình thủy lợi nội đồng trên địa bàn thành phố đều làm nhiệm vụ tưới, tiêu kết hợp, các điểm lấy nước của cùng một tuyến công trình nằm tại nhiều nơi, thay đổi theo mùa vụ nên rất khó phân định rõ ràng danh giới phục vụ dẫn đến khó xác định vị trí điểm giao nhận sản phẩm dịch vụ thủy lợi và công trình thủy lợi nội đồng.

Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của đô thị hóa khu vực nông thôn làm cho chi phí quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi nội đồng ngày càng tăng.

Việc phát triển nhanh các khu công nghiệp có thu hồi đất nông nghiệp với diện tích lớn; việc hình thành một số nhà máy sản xuất công nghiệp nằm xen kẽ với khu dân cư, khu sản xuất nông nghiệp dẫn đến công trình thủy lợi nội đồng bị chia cắt, chi phí quản lý công trình trên một đơn vị diện tích ngày càng tăng.

6.2. Nguyên nhân chủ quan

Chậm tổ chức tổng kết, đánh giá các cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển thủy lợi nội đồng đã thực hiện, phát hiện những bất cập, trong thực hiện chính sách để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng thời kỳ. Thiếu hướng dẫn thực hiện các cơ chế chính sách về hỗ trợ thủy lợi nội đồng.

Việc thành lập và hoạt động của tổ chức thủy lợi cơ sở chưa được quan tâm, thiếu sự tham gia chủ động, tích cực của người dân, một bộ phận cán bộ, người dân coi công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi là nhiệm vụ của nhà nước dẫn tới tư tưởng trông chờ ỷ lại vào nhà nước, sử dụng nước lãng phí.

Chính quyền cấp xã và các tổ chức đoàn thể cơ sở chưa quan tâm đến quản lý công trình thủy lợi, mà coi đó là trách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi trên địa bàn. Nhiều công trình thuỷ lợi phân cấp cho xã quản lý nhưng không có chủ quản lý thực sự.

Các chính sách hỗ trợ về thủy lợi nội đồng chưa đủ mạnh; các nguồn thu phục vụ hoạt động của tổ chức thủy lợi cơ sở trực tiếp quản lý, khai thác công trình thủy lợi nội đồng không đủ chi, hoạt động của các tổ chức thủy lợi cơ sở thiếu bền vững

Tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước còn nặng nề, đặt nặng vấn đề đầu tư xây dựng công trình, xem nhẹ quản lý, chưa huy động được sức mạnh toàn xã hội tham gia vào xây dựng, quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi.

VII. Sự cần thiết phải xây dựng đề án

Việc duy trì hiệu quả khai thác công trình thủy lợi nội đồng là yếu tố tác động trực tiếp đến hiệu quả phục vụ sản xuất của toàn hệ thống thủy lợi, tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, tới sản phẩm cuối cùng. Hiệu quả khai thác công trình thủy lợi nội đồng quyết định đến hiệu quả sử dụng nước, hiệu quả kinh tế của nước. Mặt khác, để đạt được mục tiêu tái cơ cấu nông nghiệp trên địa bàn thành phố, yêu cầu quản lý công trình thủy lợi nội đồng trong thời gian tới đòi hỏi cao hơn về mọi mặt so với giai đoạn trước đây.

Trên cơ sở đánh giá những vấn đề về hiện trạng công trình, những khó khăn, tồn tại trong quản lý, khai thác, với mục tiêu khai thác hiệu quả hệ thống thủy lợi nội đồng; nhiệm vụ cấp thiết đặt ra là phải có cơ chế hỗ trợ kinh phí làm thủy lợi nội đồng, bảo đảm duy trì hoạt động bền vững của các tổ chức thủy lợi cơ sở hiện có và thành lập được những tổ chức thủy lợi cơ sở thực hiện quản lý, khai thác công trình thủy lợi nội đồng tại tất cả các địa phương trên địa bàn thành phố. Vì vậy việc  xây dựng “Đề án về cơ chế hỗ trợ kinh phí thủy lợi nội đồng trên địa bàn thành phố Hải Phòng” là rất cần thiết và cấp bách.

PHẦN 2: MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ,  NỘI DUNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

I. Mục tiêu

1.1. Mục tiêu chung

Khai thác hiệu quả công trình thủy lợi nội đồng, bảo đảm chủ động tưới, tiêu cho 100% diện tích sản xuất nông nghiệp, đáp ứng các phương thức canh tác tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, đáp ứng linh hoạt yêu cầu của thị trường, nâng cao thu nhập của nông dân.

Khắc phục tình trạng công trình thuỷ lợi bị xuống cấp nhanh, tình trạng ô nhiễm nguồn nước trong công trình thủy lợi, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ thủy lợi, phục vụ tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Hoàn thiện bộ máy tổ chức, củng cố, nâng cao năng lực của tổ chức thủy lợi cơ sở; tạo cơ sở pháp lý để các tổ chức thủy lợi  cơ sở tiếp nhận, quản lý, khai thác công trình thủy lợi trong phạm vi từ đầu mối đến điểm giao nhận sản phẩm dịch vụ thủy lợi để tăng thu nhập.

1.2. Mục tiêu cụ thể

Từ năm 2019, bảo đảm kinh phí cho các tổ chức thủy lợi cơ sở thực hiện việc duy trì thường xuyên hoạt động quản lý, duy tu, sửa chữa bảo dưỡng công trình thủy lợi nội đồng.

Đến năm 2021, toàn bộ các địa phương trên địa bàn thành phố phải thành lập được tổ chức thủy lợi cơ sở, các công trình thủy lợi nội đồng đều được giao cho tổ chức thủy lợi cơ sở quản lý, khai thác và bảo vệ.

II. Nhiệm vụ

Xây dựng và ban hành cơ chế hỗ trợ kinh phí thủy lợi nội đồng, bảo đảm duy trì thường xuyên hoạt động quản lý, duy tu, bảo dưỡng công trình thủy lợi nội đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh.

Rà soát, xây dựng quy định cụ thể về quy mô công trình thủy lợi nội đồng, vị trí điểm giao nhận sản phẩm dịch vụ thủy lợi; xác định rõ danh mục công trình thủy lợi nội đồng.

Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các địa phương thực hiện việc thành lập các tổ chức thủy lợi cơ sở; ban hành các quyết định giao quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi nội đồng cho tổ chức thủy lợi cơ sở quản lý.

III. Nội dung chính sách hỗ trợ

3.1. Căn cứ xây dựng chính sách hỗ trợ

Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14 ngày 19 - 6 - 2017;

Nghị định số 77/2018/NĐ-CP ngày 16-5-2018 của Chính phủ quy định hỗ trợ phát triển thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng và tưới tiên tiến, tiết kiệm nước, theo đó tại Điều 11 quy định: "HĐND cấp tỉnh: ...Ban hành chính sách hỗ trợ đặc thù khác ngoài các chính sách đã quy định tại Nghị định này để hỗ trợ phát triển thủy lợi nhỏ, thu