Ngày làm việc thứ 19, kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa 14: Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư dự án quan trọng quốc gia
Giữ nguyên một số quy định hiện hành trong Luật Đầu tư công (sửa đổi)

Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng tham gia biểu quyết thông qua Luật Đầu tư công (sửa đổi). Ảnh: TTXVN
Trong phiên làm việc buổi sáng 13- 6, với 90,7% số đại biểu tán thành, Quốc hội thông qua Luật Đầu tư công (sửa đổi).
Trước khi biểu quyết thông qua dự luật, các đại biểu nghe Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính- Ngân sách của Quốc hội Nguyễn Đức Hải trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật. Theo đó, về tiêu chí phân loại dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B, C, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) tiếp thu theo kết quả phiếu xin ý kiến của đa số đại biểu Quốc hội và giữ nguyên tiêu chí phân loại dự án như quy định của Luật Đầu tư công hiện hành.
Về thời gian trình và phê duyệt kế hoạch đầu tư công trung hạn, UBTVQH tiếp thu theo kết quả phiếu xin ý kiến của đa số đại biểu Quốc hội, theo đó quy định, Quốc hội khóa trước chuẩn bị kế hoạch đầu tư công trung hạn để Quốc hội khóa mới quyết định tại kỳ họp đầu của nhiệm kỳ.
Về thẩm quyền xem xét, quyết định danh mục dự án kế hoạch đầu tư công trung hạn, theo kết quả lấy ý kiến đại biểu Quốc hội ngày 3-6-2019, do không có phương án nào được trên 50% số đại biểu Quốc hội lựa chọn, nên UBTVQH đề nghị Quốc hội cho giữ cơ bản như quy định của Luật Đầu tư công hiện hành; đồng thời, chỉnh lý một số chi tiết để bảo đảm đồng bộ với Luật Ngân sách nhà nước (NSNN).
Về thẩm quyền của Quốc hội, luật mới giữ quy định Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư đối với chương trình mục tiêu quốc gia; dự án quan trọng quốc gia theo khoản 1 Điều 17 của Luật Đầu tư công hiện hành.
Về quy trình, thời gian trình, phê duyệt và giao kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách nhà nước, luật mới giữ nguyên quy trình, thủ tục như quy định tại Điều 65 của Luật Đầu tư công hiện hành, chỉ chỉnh lý về mặt thời gian để phù hợp với quy định Quốc hội khóa mới quyết định kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn mới.
91,32% số đại biểu Quốc hội tán thành thông qua Luật Quản lý thuế
Tiếp tục chương trình làm việc, các đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Quản lý thuế với 91,32% tổng số đại biểu có mặt tán thành.
Luật Quản lý thuế (sửa đổi) gồm 17 chương, 152 điều, quy định về việc quản lý các loại thuế, các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước.
Đối tượng áp dụng gồm người nộp thuế; cơ quan quản lý thuế; công chức quản lý thuế và cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2020. Riêng các quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử của luật có hiệu lực từ ngày 1-7-2022. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân được khuyến khích áp dụng quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử của luật này trước ngày 1-7-2022.
Tại báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi) được trình bày trước khi Quốc hội biểu quyết thông qua dự án luật, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính- Ngân sách của Quốc hội Nguyễn Đức Hải nêu, có ý kiến cho rằng, việc quy định tiền chậm nộp ở mức 0,03%/ngày là thấp hơn so với lãi suất ngân hàng, dẫn đến việc các doanh nghiệp cố tình chây ỳ, chậm nộp tiền thuế để giảm chi phí, do đó đề nghị nghiên cứu tăng mức tính tiền chậm nộp ở mức cao hơn.
Về nội dung này, UBTVQH giải trình, trong giai đoạn vừa qua, do biến động của nền kinh tế, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn vì lý do khách quan, nên để nuôi dưỡng nguồn thu, tạo điều kiện và tháo gỡ vướng mắc, khó khăn cho doanh nghiệp, Quốc hội nhiều lần điều chỉnh giảm mức tiền chậm nộp (từ 0,07% xuống 0,05% và hiện nay là 0,03%/ngày).
Về trường hợp được xóa nợ, tiền chậm nộp, tiền phạt, Điều 85 của luật quy định xóa nợ đối với 3 đối tượng: doanh nghiệp, hợp tác xã bị tòa án tuyên bố phá sản mà không còn tài sản để nộp thuế; cá nhân đã chết, mất năng lực hành vi dân sự mà không có tài sản để nộp thuế; các khoản tiền thuế nợ quá 10 năm mà cơ quan quản lý thuế đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhưng không có khả năng thu hồi.
Tại điều này cũng quy định các trường hợp được xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định, trong đó có các doanh nghiệp (thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 85 của luật) có khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt dưới 5 tỷ đồng.
Luật cũng quy định, Chủ tịch UBND cấp tỉnh báo cáo tình hình kết quả xóa nợ thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt cho HĐND vào kỳ họp đầu năm. Bộ trưởng Bộ Tài chính tổng hợp tình hình xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt để Chính phủ báo cáo Quốc hội khi tổng quyết toán ngân sách nhà nước.
Quan tâm đến lực lượng dân quân biển
Trong phiên làm việc sáng 13-6, Quốc hội cũng thảo luận tại hội trường về dự thảo Luật Dân quân tự vệ (sửa đổi). Qua thảo luận, các đại biểu cơ bản thống nhất sự cần thiết sửa đổi Luật Dân quân tự vệ năm 2009 nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của lực lượng này trong tình hình mới, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, một số đại biểu băn khoăn về quy định liên quan đến tổ chức tự vệ trong doanh nghiệp như dự thảo Luật liệu có khả thi không. Theo quy định của Hiến pháp, Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan, hiện nay ở nước ta có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nên việc tổ chức tự vệ trong doanh nghiệp, nhất là trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) khó bảo đảm phù hợp với vị trí, chức năng của lực lượng tự vệ “là lực lượng bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước”.
Đại biểu Nguyễn Phi Thường (Đoàn Hà Nội) cho rằng, quy định phụ cấp đối với lực lượng dân quân tự vệ làm nhiệm vụ trên biển là cần thiết, phù hợp với tính chất hoạt động quân sự, quốc phòng. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, dân quân tự vệ biển có vai trò rất quan trọng trong đấu tranh bảo vệ, khẳng định chủ quyền biển đảo, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh trên biển.
Cùng quan điểm trên, đại biểu Tô Văn Tám (Đoàn Kon Tum) tán thành quy định về phụ cấp đặc thù đi biển đối với dân quân tự vệ khi làm nhiệm vụ trên biển; bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với dân quân thường trực trên địa bàn biên giới, ven biển, đảo, trọng điểm quốc phòng.
Phát biểu kết thúc thảo luận, Phó chủ tịch Quốc hội Đỗ Bá Tỵ đề nghị ban soạn thảo tiếp tục rà soát, hoàn chỉnh nội dung dự thảo luật để bảo đảm tính thống nhất, cụ thể, khả thi. Đồng thời, rà soát các quy định về vị trí, chức năng, nhiệm vụ của dân quân tự vệ; quy định về tổ chức, biên chế, vũ khí trang bị của lực lượng dân quân tự vệ, vấn đề tổ chức tự vệ trong doanh nghiệp…
Luật Kiến trúc có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2020
Chiều 13-6, Quốc hội làm việc tại hội trường tiến hành biểu quyết thông qua Luật Kiến trúc với 88,64% số đại biểu tán thành. Luật gồm 5 chương với 41 điều, quy định về quản lý kiến trúc, hành nghề kiến trúc, quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động kiến trúc.
Luật Kiến trúc có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2020 Nội dung được nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm trong quá trình thảo luận là vấn đề về bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc. Luật quy định rõ: Bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc bao gồm đặc điểm, tính chất tiêu biểu, dấu ấn đặc trưng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa, nghệ thuật; thuần phong mỹ tục các dân tộc; kỹ thuật xây dựng và vật liệu xây dựng, được thể hiện trong các công trình kiến trúc, tạo nên phong cách riêng của kiến trúc Việt Nam. Luật Kiến trúc giao UBND cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức, nghiên cứu, khảo sát, đánh giá để quy định về bản sắc văn hóa dân tộc trong Quy chế quản lý kiến trúc. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng Quy chế, UBND cấp tỉnh căn cứ nội dung về bản sắc văn hóa dân tộc trong định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam, nếu thấy cần thiết sẽ xin ý kiến các bộ, ngành Trung ương.
Thảo luận Luật Chứng khoán (sửa đổi)
Trong chiều 13-6, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Chứng khoán (sửa đổi). Dự thảo Luật trình xin ý kiến Quốc hội gồm 3 điều, tập trung sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ giữa Kiểm toán Nhà nước với các cơ quan liên quan; các quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động Kiểm toán Nhà nước, tránh chồng chéo trong quy định về thẩm quyền của Kiểm toán Nhà nước với các cơ quan chức năng. Một điểm mới là Điểm d, Khoản 2, Điều 7 được sửa đổi, bổ sung theo hướng “Báo cáo kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước là căn cứ để cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quyền khiếu nại và giải quyết khiếu nại” nhằm bao quát toàn diện quyền và lợi ích của các tổ chức, cá nhân liên quan. Hôm nay, Quốc hội họp phiên bế mạc.