50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nhìn lại hiệu quả thực hiện 5 lời thề thiêng liêng

Việt Hoàng lược ghi 03/09/2019 09:20

Giá trị trường tồn của “Bức thư để lại cho đồng bào, đồng chí”

Bác Hồ về thăm Cảng Hải Phòng. (Ảnh tư liệu)

 Bản di chúc của Bác viết  lần đầu tính đến ngày nay là 54 năm lịch sử chứ không phải 50 năm, vì Bác viết từ ngày 10-5-1965 tại Thủ đô Hà Nội, trong nhà sàn của Bác, khi đó bác 75 tuổi. Vì thế nếu tính lịch sử viết bản di chúc, chúng ta phải tính Bác viết từ năm 1965 đến lúc Bác mất ngày 2-9-1969, Đảng ta công bố di chúc của Bác, mà Người gọi đó là “Bức thư để lại cho đồng bào, đồng chí”, “Mấy lời dặn trước lúc đi xa”. Nói về bản di chúc linh thiêng này có một số sự kiện quan trọng mà chúng ta cùng nhau thống nhất trong nhận thức. Một là, Bác viết di chúc vào sinh nhật, đây là điều rất kỳ diệu,  thể hiện bản lĩnh văn hóa của Người. Sinh nhật  là biểu tượng của sự sống, mà viết di chúc  lúc đó người ta cảm nhận thấy thời hạn cuối cùng của sự sống. Ở bản di chúc đầu, bên lề trái Bác ghi là tài liệu tuyệt đối bí mật. Viết di chúc vào dịp sinh nhật, chọn thời điểm lúc 9 giờ để viết di chúc và trong suốt 4 năm nghiền ngẫm (1965-1969), giờ đó cũng là giờ Bác sửa di chúc. Toàn bộ bản di chúc đều nói lên chiều sâu trong thế giới nội tâm của Bác, bản lĩnh văn hóa của Bác, lấy sự sống vượt lên cái chết.

Tư tưởng Hồ Chí Minh được phản ánh trong di chúc, trước hết thể hiện rõ quyết tâm chiến lược của Đảng, nhân dân và các lực lượng vũ trang ta trong việc đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Khẳng định niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng là giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, Nam - Bắc sum họp một nhà. Người đặt niềm tin vào sự tất thắng đó trên cơ sở khoa học, nắm vững xu thế vận động của lịch sử: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là  điều chắc chắn”. Tiếp đó, điều  Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm là căn dặn Đảng ta phải chăm lo củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, thường xuyên đổi mới và chỉnh đốn Đảng để có đủ sức mạnh và uy tín của người cầm lái, dẫn đường cho quần chúng hướng theo...

Đạo đức Hồ Chí Minh là điểm nổi bật cả trong tư tưởng và phong cách Hồ Chí Minh. Đạo đức mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập trong di chúc là đạo đức cách mạng với hệ chuẩn mực giá trị “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Cuối bản di chúc lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành những dòng tâm sự đề cập về “việc riêng” một cách hết sức khiêm tốn, giản dị. Người viết: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Những dòng chữ này càng phản ánh sâu sắc phẩm chất đạo đức cao quý của một con người, một lãnh tụ cách mạng suốt đời phấn đấu, hy sinh vì dân, vì nước.

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng luôn gắn liền với đạo đức, tư tưởng đạo đức trở thành hành động đạo đức, thể hiện một cách cảm động qua hành vi, lối sống và trở thành phong cách nổi bật của Người. Phong cách Hồ Chí Minh bao gồm một chỉnh thể thống nhất, từ phong cách tư duy, phong cách diễn đạt, phong cách làm việc, phong cách ứng xử, phong cách sinh hoạt. Những đặc trưng phong cách đó, được phản ánh cô đọng, sâu sắc trong di chúc của Người.

5 lời thề thiêng liêng của toàn Đảng, toàn quân và dân ta

50 năm qua, việc thực hiện di chúc của Bác trở thành vấn đề thiêng liêng, kết tinh ở 5 lời thề lúc Người mất. 9 giờ sáng ngày 9-9-1969 bắt đầu cử hành lễ truy điệu mà đến giờ chót bản điếu văn mới được Bộ Chính trị thông qua vì chúng ta đề nghị phải có bản điếu văn cảm động nhất và xứng đáng nhất với Bác. Bản điếu văn được đồng chí Tổng Bí thư đọc với giọng đầy truyền cảm, nhất là đoạn thể hiện 5 lời thề thực hiện Di chúc của Bác.

50 năm qua, chúng ta thực hiện Di chúc của Bác chính là thực hiện 5 lời thề này. Lời thề thứ nhất: nén đau thương biến thành sức mạnh, sốc tới chiến trường miền Nam, tiếp tục thực hiện độc lập dân tộc và CNXH, quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam, đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược để Nam-Bắc sum họp một nhà để thỏa lòng mong ước của Người. Lời thề thứ hai là kiên trì lý tưởng mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH là cả sự nghiệp vĩ đại của Đảng, của Bác và quyết tâm xây dựng thành công CNXH trên đất nước Việt Nam, gắn liền độc lập dân tộc với CNXH, đưa lá cờ “bách chiến, bách thắng” của Hồ Chí Minh tới cuối cùng. Lời thề thứ 3 chính là về Đảng: giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Sức mạnh đoàn kết của Đảng là nhân tố quyết định năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, cũng là động lực thúc đẩy đoàn kết toàn dân tộc và góp phần vào đoàn kết quốc tế. Đảng ta hứa với Bác làm đúng lời của Bác, hết sức mình củng cố tình đoàn kết quốc tế trên cơ sở Mác-Lê nin có nghĩa có tình. Lời thề thứ 4 là làm tất cả vì hạnh phúc của nhân dân: cơm ăn, áo mặc, nhà ở, học hành, chữa bệnh...của nhân dân. Lời thề ấy chính là để thực hiện hoài bão, khát vọng của Người: “Cả đời tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là nước nhà được độc lập, dân tộc tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc...”. Vì thế, Đảng ta nguyện làm tất cả vì hạnh phúc của nhân dân, thực hiện đổi mới với mục tiêu cao quý như thế. Lời thề thứ 5 là toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nguyện học tập, làm theo đạo đức trong sáng mẫu mực của Chủ tịch Hồ Chí Minh với 4 chữ “cần-kiệm-liêm-chính”.

Năm 2019 diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước: 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kỷ niệm 50 năm Ngày mất của Người, cũng tròn 70 năm tác phẩm “Cần-kiệm-liêm-chính” Bác viết tháng 6-1949, Bác lấy tên là Lê Quyết Thắng. Lời thề thứ 5 này Đảng ta “nói” và “làm được” suốt 50 năm qua nhờ giữ được đạo đức cách mạng xây dựng tổ chức trong sạch, vững mạnh.

Việt Hoàng lược ghi