Phiên họp thứ 37 Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Cân nhắc quy định về tiêu chuẩn hòa giải viên, đối thoại viên

Theo TTXVN 14/09/2019 20:39

Cơ chế hòa giải tranh chấp dân sự khẳng định tính ưu Việt

Quang cảnh phiên họp

Trình bày tờ trình về dự án luật, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình khẳng định, hòa giải thành công, đối thoại thành công giúp giải quyết triệt để, hiệu quả các tranh chấp mà không phải mở phiên tòa xét xử; kết quả hòa giải thành công, đối thoại thành công phần lớn được các bên tự nguyện thi hành; vụ việc không phải trải qua thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm theo quy định của các luật tố tụng; tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức của các bên liên quan và Nhà nước; hạn chế tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, gây bức xúc trong dư luận.

“Với Tòa án, đổi mới, tăng cường và nâng cao hiệu quả hòa giải, đối thoại là giải pháp căn cơ, giúp giải quyết khối lượng công việc ngày càng nặng nề, trong bối cảnh hằng năm các tranh chấp, khiếu kiện không ngừng tăng lên cả về số lượng và tính chất phức tạp” - Chánh án Nguyễn Hòa Bình nhấn mạnh.

Thực hiện kết luận của Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương, Tòa án nhân dân tối cao triển khai thí điểm về đổi mới, tăng cường hòa giải, đối thoại trong giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính tại 16 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (thời gian thí điểm từ tháng 11-2018 đến tháng 9-2019).

Qua sơ kết việc đổi mới công tác hòa giải, đối thoại tại Tòa án ở 16 tỉnh, thành phố, kết quả hòa giải, đối thoại thành công đạt 74,08%, khẳng định tính ưu việt của cơ chế mới này, góp phần hạn chế các vụ, việc phải đưa ra xét xử; nhanh chóng giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn của người dân; tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức của các bên liên quan và Nhà nước.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Nguyễn Khắc Định trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội.

Cân nhắc quy định về tiêu chuẩn hòa giải viên, đối thoại viên

Tại phiên họp, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Lê Thị Nga cho biết, Ủy ban Tư pháp nhấn mạnh rằng phạm vi và đối tượng hòa giải, đối thoại được quy định trong dự án luật này phải bảo đảm không trùng lặp, không mâu thuẫn, không thay thế các cơ chế hòa giải, đối thoại hiện có; đồng thời bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực hòa giải viên, đối thoại viên.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cũng nhất trí về sự cần thiết xây dựng và ban hành dự án luật. Tuy nhiên, về tiêu chuẩn hòa giải viên, Chủ tịch Quốc hội đề nghị cân nhắc về quy định dưới 70 tuổi hay quy định phải có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ hòa giải, đối thoại của Tòa án.

Theo Chủ tịch Quốc hội, hoà giải viên cần là người có kinh nghiệm, có uy tín, có quá trình công tác tại các cơ quan pháp luật, không nên chú trọng tuổi. "Có những người hoà giải không có chứng chỉ hành nghề, trên 70 tuổi nhưng rất có uy tín và hòa giải hiệu quả cao, thành công” - Chủ tịch Quốc hội nêu rõ. Chủ tịch Quốc hội cũng đề nghị làm rõ thế nào là người có uy tín trong xã hội, bởi đây là vấn đề rất khó định lượng.

Về lệ phí hòa giải, đối thoại tại Tòa án (Điều 7 dự thảo luật) hiện tại có hai luồng quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng nhà nước có trách nhiệm bảo đảm kinh phí cho hoạt động hòa giải, đối thoại tại Tòa án; không thu lệ phí hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Thực tiễn thí điểm cho thấy, việc giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải, đối thoại tại Tòa án làm giảm khoảng 80% chi phí so với mức chi để xét xử một vụ việc theo thủ tục sơ thẩm. Quan điểm thứ hai đồng tình về việc cần có chính sách tài chính hỗ trợ, khuyến khích các bên lựa chọn hòa giải, đối thoại để giải quyết tranh chấp, khiếu kiện. Tuy nhiên, quan điểm này cho rằng cũng cần quy định thu lệ phí đối với một số trường hợp cụ thể với mức thu hợp lý để chia sẻ gánh nặng với ngân sách nhà nước.

Giải trình thêm tại phiên họp về nội dung này, Chánh án Nguyễn Hòa Bình cho biết, Tòa án nhân dân tối cao đồng tình quan điểm thứ nhất, dự án luật sẽ thiên về xu hướng nhà nước có trách nhiệm bảo đảm kinh phí để có lợi cho người dân. 

Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu điều hành phiên họp. 

Đề nghị sửa đổi, bổ sung 11/102 điều của Luật Tổ chức Quốc hội hiện hành

Chiều 14-9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội.

Việc sửa đổi, bổ sung luật này nhằm kịp thời thể chế hóa Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2018 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa 12) về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và Nghị quyết số 56/2017/QH14 ngày 24-11-2017 của Quốc hội về việc tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đồng thời khắc phục những vướng mắc, bất cập trong quá trình thi hành luật thời gian qua.

Nghị quyết số 18-NQ/TW của Trung ương đề cập 4 vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của Quốc hội, đó là: Tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách, giảm hợp lý số lượng đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm công tác ở các cơ quan hành pháp; quy định số lượng với tỷ lệ hợp lý giữa lãnh đạo, Ủy viên thường trực, Ủy viên chuyên trách của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội theo hướng giảm số lượng cấp phó và Ủy viên thường trực; sắp xếp, cơ cấu lại tổ chức bên trong của Văn phòng Quốc hội theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu quả; nghiên cứu thực hiện hợp nhất Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Văn phòng HĐND và Văn phòng UBND thành một văn phòng tham mưu giúp việc chung.

Trình bày Tờ trình dự án Luật, Tổng Thư ký Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc cho biết, lần này sửa đổi, bổ sung 11/102 điều của Luật Tổ chức Quốc hội hiện hành.

Trong đó, việc sửa đổi quy định về tỷ lệ đại biểu chuyên trách là vấn đề được đặt ra và còn có hai loại ý kiến khác nhau. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, Luật Tổ chức Quốc hội hiện hành quy định số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ít nhất là 35% tổng số đại biểu Quốc hội, tuy nhiên quy định này không hạn chế việc có thể bố trí số đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách nhiều hơn tỷ lệ nói trên. Do đó, để thực hiện yêu cầu về tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách thì không cần thiết phải sửa đổi quy định của luật mà tùy theo đề án bầu cử đại biểu Quốc hội của từng nhiệm kỳ sẽ xác định hợp lý tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách phù hợp với yêu cầu và khả năng đáp ứng của bộ máy. Điều này cũng phù hợp với chỉ đạo của Bộ Chính trị.

Loại ý kiến thứ hai đề nghị sửa quy định của Luật Tổ chức Quốc hội theo hướng nâng tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách lên mức cao hơn (37-40% hoặc 50%) để có cơ sở phấn đấu, sắp xếp cán bộ và quy định cơ cấu đại biểu Quốc hội một cách hợp lý, giảm số lượng đại biểu Quốc hội là người kiêm nhiệm các chức danh trong khối các cơ quan hành pháp, tư pháp để tạo cơ sở pháp lý mạnh mẽ hơn cho việc thực hiện yêu cầu mà Trung ương  đề ra.

Ban soạn thảo cho rằng, hiện tại tuy Luật  quy định rõ tối thiểu 35% tổng số đại biểu Quốc hội là đại biểu hoạt động chuyên trách nhưng trên thực tế, mặc dù  có nhiều cố gắng trong việc quy hoạch, chuẩn bị nguồn nhân sự từ sớm, song đến nay vẫn chưa đạt được con số này. Quốc hội khóa 14 hiện  có 167 đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách trong tổng số 484 đại biểu Quốc hội (chiếm 34,5%) tổng số đại biểu Quốc hội.

Thẩm tra dự án Luật, Thường trực Ủy ban Pháp luật tán thành loại ý kiến thứ nhất và cho rằng cách quy định tỷ lệ tối thiểu như Luật hiện hành không ảnh hưởng đến việc thực hiện chủ trương tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách của Đảng mà tùy thuộc yêu cầu, điều kiện cụ thể của từng nhiệm kỳ, sẽ xác định mức tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách một cách hợp lý trong các đề án bầu cử đại biểu Quốc hội, có thể là 37% và cao hơn nữa.

Thảo luận về vấn đề này, Phó chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển cho rằng, phải quy định tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách tối thiểu đạt 35%, bởi việc nâng tỷ lệ đại biểu chuyên trách là xu hướng chung của thế giới.

Đối với vấn đề giảm số lượng cấp phó và Ủy viên thường trực tại Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, nhiều ý kiến đề nghị cần cân nhắc thấu đáo. 

Theo TTXVN