Khẳng định vai trò động lực phát triển kinh tế-xã hội thành phố

Thanh Thủy thực hiện 18/09/2019 19:47

Xưởng chế biến của Công ty CP Chế biến thủy sản xuất khẩu Hạ Long.


-Nghị quyết số 45 ngày 24-1-2019 của Bộ Chính trị nêu rõ quan điểm: “Chú trọng đầu tư phát triển KH-CN, đổi mới sáng tạo, giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố Hải Phòng”. Vậy định hướng hoạt động KH-CN để đáp ứng yêu cầu này trong thời gian tới là gì, thưa đồng chí?

-Thực hiện nghị quyết số 45 của Bộ Chính trị, trong thời gian tới, hoạt động KH- CN của thành phố tập trung vào một số định hướng trọng tâm sau: Đẩy mạnh công tác nghiên cứu ứng dụng, nhất là trong phát triển nông nghiệp an toàn, nông nghiệp công nghệ cao, thích ứng với biến đổi khí hậu; ưu tiên tập trung triển khai nghiên cứu, ứng dụng phát triển công nghệ cho ngành công nghiệp điện tử, công nghiệp công nghệ cao; công nghiệp sạch, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; phát triển các ngành công nghiệp cơ khí chế tạo, điện tử gắn với phát triển công nghiệp hỗ trợ thành phố. Thúc đẩy công nghệ thông tin trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn, tăng trưởng nhanh và bền vững, góp phần đưa Hải Phòng trở thành thành phố công nghiệp theo hướng hiện đại, bắt kịp cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Thứ hai, xây dựng và thực thi các cơ chế, chính sách hỗ trợ, thúc đẩy các hoạt động đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo. Thúc đẩy phát triển năng lực đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp, đưa nhanh kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ vào đời sống sản xuất. Thứ ba, thực hiện tốt việc thẩm định, có ý kiến về công nghệ trong các dự án đầu tư theo quy định của pháp luật. Kiên quyết không chấp nhận các dự án có công nghệ lạc hậu, ô nhiễm môi trường; hạn chế các dự án sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên, tiêu tốn năng lượng... Thứ tư, làm tốt công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực: Thẩm định và giám định công nghệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, sở hữu trí tuệ, an toàn bức xạ hạt nhân, thông tin KH-CN, thanh tra KH-CN để hỗ trợ các doanh nghiệp và người dân tiếp cận nhiều hơn với KH-CN, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và phát triển bền vững. Thứ năm, tăng cường huy động nguồn lực xã hội cho KH-CN, nhất là từ doanh nghiệp, phát huy quỹ phát triển KH-CN của doanh nghiệp.

- Đồng chí cho biết giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt, cán bộ, chuyên viên quản lý KH-CN để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới?

-Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ trong giai đoạn mới, nhất là trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp 4.0, đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý KH- CN của thành phố phải nắm vững mọi chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật nói chung và am hiểu chính pháp luật về các lĩnh vực KH- CN nói riêng; có trình độ chuyên môn sâu trong lĩnh vực quản lý; có khả năng dự báo và hoạch định chính sách KH- CN; thông thạo ngoại ngữ; kỹ năng và phương pháp làm việc khoa học... Theo đó, Sở KH- CN Hải Phòng tiếp tục quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng quản lý, trình độ lý luận chính trị, ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ quản lý KH- CN. Hằng năm, Sở KH- CN thường xuyên tổ chức các hội nghị phổ biến, giới thiệu chính sách, pháp luật mới trong lĩnh vực KH- CN tới cán bộ quản lý KH- CN công tác tại Sở, cán bộ phụ trách KH- CN tại các quận, huyện, sở, ngành trên địa bàn thành phố. Đồng thời, cử cán bộ tham gia các lớp tập huấn nghiệp vụ, kỹ năng quản lý, các lớp đào tạo lý luận chính trị, ngoại ngữ do Bộ KH-CN và các cơ quan, đơn vị tổ chức, giúp cán bộ làm công tác quản lý nâng cao trình độ mọi mặt, cập nhật kỹ năng quản lý KH- CN tiên tiến, hiện đại của khu vực và thế giới.

Bên cạnh đó, Sở KH-CN thường xuyên cử cán bộ đi cơ sở để tiếp cận thực tế, nắm bắt tình hình, qua đó, cán bộ vừa hỗ trợ cơ sở giải quyết những vấn đề vướng mắc phát sinh, vừa kịp thời tham mưu cơ quan quản lý những giải pháp góp phần đưa nhanh tiến bộ KH- CN vào sản xuất và đời sống. Đây cũng là cách rèn luyện, nâng cao năng lực thực tiễn của cán bộ quản lý KH- CN.

-Nghị quyết 45 của Bộ Chính trị xác định nhiệm vụ “xây dựng Hải Phòng trở thành trọng điểm phát triển khoa học - công nghệ biển của cả nước”. Để thực hiện nhiệm vụ này, theo đồng chí, cần tập trung vào những giải pháp gì để KH- CN thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội nói chung và khai thác được thế mạnh kinh tế biển nói riêng của thành phố?

- Để thành phố trở thành trung tâm nghiên cứu, ứng dụng và phát triển KH- CN biển của cả nước vào năm 2025; trung tâm quốc tế về nghiên cứu, ứng dụng và phát triển KH- CN với các ngành, nghề hàng hải, đại dương học, kinh tế biển vào năm 2030, tôi cho rằng nhiệm vụ, giải pháp quan trọng là nghiên cứu quản lý và khai thác có hiệu quả cao các tài nguyên biển; nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới trong phát triển các ngành kinh tế biển quan trọng của thành phố như cảng biển, dịch vụ cảng và hàng hải, du lịch, đóng tàu và phương tiện nổi, dịch vụ hậu cần nghề cá, nuôi trồng, đánh bắt, chế biến hải sản.

Nghiên cứu và có giải pháp bảo vệ môi trường biển, phòng chống suy thoái hệ sinh thái của các khu vực đảo, ven biển, bảo vệ các hệ sinh thái đặc thù, cảnh báo thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, các công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường tiên tiến áp dụng cho vùng kinh tế ven biển cũng không kém phần quan trọng nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp như hiện nay. Đồng thời, thành phố phối hợp với các bộ, ngành Trung ương huy động nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị tiên tiến, hiện đại cho các cơ sở nghiên cứu, các viện, trường đại học, các tổ chức khoa học và công nghệ biển; nâng cấp, phát triển một số cơ sở nghiên cứu khoa học, cơ sở đào tạo về biển ngang tầm trọng điểm quốc gia, từng bước đạt tầm cỡ trong khu vực và quốc tế, như: Viện Tài nguyên và Môi trường biển, Viện Nghiên cứu Hải sản, Viện Y học biển, Trường đại học Hàng hải Việt Nam, Trường đại học Y Dược Hải Phòng và Trường đại học Hải Phòng.

Để khai thác thế mạnh kinh tế biển của thành phố, cần  hình thành các khu hoặc vùng ứng dụng công nghệ, kỹ thuật cao thích hợp với Hải Phòng, đồng thời phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực KH-CN biển, đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu chuyên ngành về biển đạt trình độ khu vực và quốc tế, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu những vấn đề chuyên sâu về KH- CN biển. Theo đó, thành phố cần có chính sách thu hút, trọng dụng, đãi ngộ, sử dụng có hiệu quả đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, nhân lực chất lượng cao, nhất là ở các cơ sở nghiên cứu, cơ sở đào tạo về biển và đa dạng hóa nguồn đầu tư trong và ngoài ngân sách cho KH-CN biển.

-Trân trọng cảm ơn đồng chí!


Thanh Thủy thực hiện