Nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội và một số chính sách trợ giúp xã hội khác trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2020-2025

02/11/2019 21:43

Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Văn Tùng cùng đại diện lãnh đạo các Sở, ngành, địa phương thăm tặng quà gia đình bà Hoàng Thị Uông tại quận Lê Chân. Ảnh minh họa

Phần 1. MỞ ĐẦU

I. Sự cần thiết xây dựng Đề án

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách chăm lo đời sống các đối tượng bảo trợ xã hội, góp phần ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11 xác định: “Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo; cải thiện điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân”.

Đến nay, nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc trợ giúp, chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội được xây dựng, ban hành như: Luật Người cao tuổi, Luật Người khuyết tật, Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21-10-2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội…

Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Ban Thường vụ Thành ủy ban hành Chương trình số 18-CT/TU ngày 6-12-2012 thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TU của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa 11) về “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020”; UBND thành phố ban hành Kế hoạch số 4220/KH-UBND ngày 17-6-2013 thực hiện Chương trình 18-CT/TU của Ban Thường vụ Thành ủy và nhiều văn bản chỉ đạo thực hiện nội dung liên quan đến công tác an sinh xã hội nói chung, trợ giúp xã hội nói riêng.

Để đáp ứng nhu cầu thực tiễn đời sống xã hội của người dân thành phố; đồng thời từng bước tiếp cận xu hướng phát triển hệ thống an sinh xã hội của quốc tế, thực hiện Quyết định số 488/QĐ-TTg ngày 14-4-2017 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Đổi mới, phát triển trợ giúp xã hội giai đoạn 2017-2025 và tầm nhìn đến năm 2030”, UBND thành phố ban hành Kế hoạch số 249/KH-UBND ngày 30-11-2017 về việc thực hiện Đề án “Đổi mới, phát triển trợ giúp xã hội giai đoạn 2017-2025 và tầm nhìn đến năm 2030” trên địa bàn thành phố Hải Phòng, trong đó có nội dung xây dựng Đề án thực hiện một số chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2018-2025 trình HĐND thành phố xem xét, quyết định.

II. Căn cứ xây dựng Đề án

1. Cơ sở lý luận:

- Chính sách trợ giúp xã hội là một căn cứ quan trọng để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và các chính sách kinh tế - xã hội khác. 

- Bảo đảm an sinh xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của các cấp, các ngành, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Tạo điều kiện để người dân nâng cao khả năng tự bảo đảm an sinh, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, bảo đảm công bằng, ổn định xã hội và phát triển bền vững.

- Trợ giúp xã hội phải đa dạng về mô hình, toàn diện cả vật chất và tinh thần phù hợp với vòng đời con người, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân; bảo đảm người dân gặp rủi ro được hỗ trợ kịp thời.

- Việc xây dựng chính sách trợ giúp xã hội ở cấp tỉnh, thành phố phụ thuộc vào các yếu tố chủ yếu là:

+ Điều chỉnh nâng mức trợ giúp xã hội phải phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế của địa phương, phù hợp với khả năng cân đối ngân sách để thực hiện chính sách an sinh xã hội đã thiết kế cho đối tượng bảo trợ xã hội.

+ Đối với mỗi chính sách trợ giúp xã hội đã được ban hành, quy mô nguồn lực để thực hiện chính sách phụ thuộc vào sự điều chỉnh mức trợ giúp xã hội và mở rộng đối tượng thụ hưởng trợ giúp xã hội của địa phương.

2. Căn cứ pháp lý:

a) Các văn bản của Trung ương:

- Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015; Luật Ngân sách nhà nước năm 2015;

- Luật Người cao tuổi năm 2009; Luật Người khuyết tật năm 2010; Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015;

- Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 1-6-2012 của Ban Chấp hành Trung ương khóa 11 về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020;

- Quyết định số 488/QĐ-TTg ngày 14-4-2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đổi mới, phát triển trợ giúp xã hội giai đoạn 2017-2025 và tầm nhìn đến năm 2030”;

- Tại Khoản 3 Điều 4 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21-10-2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội có nêu: “Căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Chủ tịch UBND cấp tỉnh) được quyết định mức trợ cấp xã hội, mức trợ cấp nuôi dưỡng, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng và các mức trợ giúp xã hội khác cao hơn các mức tương ứng quy định tại Nghị định này”.

- Căn cứ chỉ đạo và hướng dẫn của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội tại Công văn số 2144/LĐTBXH-BTXH ngày 1-6-2017 về việc triển khai thực hiện Đề án “Đổi mới, phát triển trợ giúp xã hội giai đoạn 2017-2025 và tầm nhìn đến năm 2030” trong đó có nội dung: “Nghiên cứu, trình cấp có thẩm quyền căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội, khả năng nguồn lực của địa phương xem xét, quyết định mở rộng đối tượng hưởng trợ giúp cấp xã hội hằng tháng, tăng mức trợ giúp cấp xã hội dựa trên nhu cầu tối thiểu của con người, theo vòng đời; trợ giúp khẩn cấp dựa trên mức độ thiệt hại, mức độ tổn thương, hoàn cảnh cụ thể và khả năng khắc phục rủi ro của cá nhân, hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa, dịch bệnh, tác động của biến đổi khí hậu, tai nạn giao thông, nạn nhân bạo lực gia đình, phụ nữ và trẻ em bị mua bán...”.

b) Các văn bản của thành phố:

- Chương trình hành động số 76-CTr/TU ngày 8-7-2019 của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24-1-2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong nội dung nhiệm vụ chủ yếu có nêu: “Phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, nâng cao hiệu quả trợ giúp xã hội: huy động sự tham gia của các tầng lớp nhân dân, cộng đồng xã hội thực hiện các chính sách an sinh xã hội; mở rộng đối tượng thụ hưởng, nâng mức trợ cấp xã hội thường xuyên phù hợp với khả năng ngân sách của thành phố và nâng cấp hệ thống các cơ sở bảo trợ xã hội phù hợp với xu thế phát triển mới;...”

- Kế hoạch số 09/KH-HĐND ngày 30-9-2019 của Thường trực HĐND thành phố về việc chuẩn bị kỳ họp thứ 11 HĐND thành phố khóa 15.

3. Căn cứ thực tiễn:

a) Một số tỉnh, thành phố khác:

Đến nay, đã có nhiều địa phương trong cả nước ban hành chính sách riêng như: Mở rộng đối tượng hưởng trợ giúp cấp xã hội hằng tháng, tăng mức trợ cấp xã hội, tăng mức hỗ trợ mai táng phí... cao hơn mức chuẩn quy định của Trung ương. Cụ thể như: Thành phố Hồ Chí Minh ban hành mức chuẩn trợ giúp xã hội của địa phương là 380.000 đồng (tăng cao hơn mức chuẩn của quốc gia 41%). Thành phố Hà Nội ban hành mức chuẩn trợ giúp xã hội của địa phương là 350.000 đồng (tăng cao hơn mức chuẩn của quốc gia 30%). Thành phố Đà Nẵng ban hành mức chuẩn trợ giúp xã hội của địa phương là 350.000 đồng (tăng cao hơn mức chuẩn của quốc gia 30%); mở rộng một số đối tượng được hưởng trợ giúp cấp xã hội (trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ, nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha không có nguồn nuôi dưỡng thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo; trẻ em bị nhiễm HIV; Người bị nhiễm HIV thuộc hộ cận nghèo không còn khả năng lao động mà không có lương hưu; trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng, trợ cấp ưu đãi người có công cách mạng hằng tháng; trợ cấp hằng tháng khác; người cao tuổi thuộc hộ cận nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ giúp cấp xã hội hằng tháng). Tỉnh Quảng Ninh ban hành mức chuẩn trợ giúp xã hội của địa phương cho các đối tượng sống tại cộng đồng là 350.000 đồng (tăng cao hơn mức chuẩn của quốc gia 30%); cho các đối tượng bảo trợ xã hội nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội tỉnh là 500.000 đồng (tăng cao hơn mức chuẩn của quốc gia 85%); mở rộng một số đối tượng được hưởng trợ giúp cấp xã hội là người thuộc hộ nghèo (thuộc một trong các trường hợp sau: trẻ em dưới 16 tuổi; người từ đủ 16 tuổi đến 22 tuổi đang học tại các cơ sở giáo dục: giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học văn bằng thứ nhất; Người cao tuổi từ đủ 60 tuổi trở lên không còn khả năng lao động; người khuyết tật không còn khả năng lao động; người bệnh nặng, ốm đau thường xuyên, người mắc bệnh hiểm nghèo (được cơ sở y tế có thẩm quyền xác nhận) không còn khả năng lao động); nâng mức hỗ trợ mai táng phí với 2 mức là 6 triệu đồng/người và 9 triệu đồng/người (tăng cao hơn mức chuẩn của quốc gia là 11%). Tỉnh Bình Dương ban hành mức chuẩn trợ giúp xã hội của địa phương là 340.000 đồng (tăng cao hơn mức chuẩn của quốc gia 26%). Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ban hành mức chuẩn trợ giúp xã hội của địa phương là 320.000 đồng (tăng cao hơn mức chuẩn của quốc gia 19%); mở rộng một số đối tượng hưởng trợ cấp là đối tượng thuộc hộ cận nghèo theo chuẩn quốc gia và hộ nghèo theo chuẩn của tỉnh. Tỉnh Đồng Nai ban hành mức chuẩn trợ giúp xã hội của địa phương là 300.000 đồng (tăng cao hơn mức chuẩn của quốc gia 11%),...

b) Đối với thành phố Hải Phòng:

Đến nay, thành phố Hải Phòng chưa có chính sách riêng về thực hiện các chính sách xã hội cho các đối tượng bảo trợ xã hội. Hiện tại thành phố vẫn đang áp dụng mức trợ giúp xã hội theo mức chuẩn của Trung ương là 270.000 đồng để thực hiện các chính sách bảo trợ xã hội cho các đối tượng theo quy định tại Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21-10-2013 của Chính phủ.

Thành phố Hải Phòng là đô thị loại 1, trực thuộc Trung ương, hiện nay có tốc độ tăng trưởng RGDP khá cao, gấp hai lần so với mức tăng trung bình của cả nước, quy mô được mở rộng, cơ cấu chuyển dịch đúng hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đặc biệt là trong thời gian gần đây, nguồn thu ngân sách của thành phố đã được cải thiện nhiều. Tăng trưởng kinh tế đã tạo thêm nhiều nguồn lực để thành phố thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội nói chung, chính sách trợ giúp xã hội nói riêng, tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, hộ cận nghèo, người gặp rủi ro, người dân có hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống… được hỗ trợ kịp thời, được cải thiện cuộc sống cả về vật chất và tinh thần. Việc xây dựng chính sách trợ giúp xã hội riêng ngoài việc thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội trên địa bàn thành phố, còn góp phần tích cực hỗ trợ cho công tác giảm nghèo bền vững.

Việc xây dựng chính sách trợ giúp xã hội riêng của thành phố nhằm thể hiện sự quan tâm của Đảng bộ, chính quyền thành phố đối với các đối tượng bảo trợ xã hội, người dân có hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống, đồng thời thể hiện rõ sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố trong thời gian qua, định hướng phát triển của thành phố đến năm 2030 sẽ trở thành trọng điểm phát triển kinh tế biển của cả nước, tương xứng với vị thế của thành phố đô thị loại 1 cấp quốc gia.

III. Đối tượng, phạm vi, thời gian thực hiện Đề án

1. Đối tượng áp dụng:

Đối tượng điều chỉnh của Đề án là: Các đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21-10-2013 của Chính phủ và người cao tuổi từ đủ 75 tuổi trở lên đến dưới 80 tuổi không có lương hưu và trợ cấp của Nhà nước sống ở vùng núi, vùng hải đảo.

2. Phạm vi điều chỉnh:

Phạm vi điều chỉnh của Đề án được thực hiện trên địa bàn thành phố Hải Phòng, nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội, mở rộng đối tượng trợ cấp xã hội, nâng mức hỗ trợ mai táng phí trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2020-2025.

3. Thời gian:

Thực hiện chính sách trợ giúp xã hội cho các đối tượng điều chỉnh của Đề án từ năm 2020 - 2025.

Phần 2. NỘI DUNG

I. Khái quát tình hình đối tượng cần trợ giúp xã hội trên địa bàn thành phố

1. Thực trạng đối tượng cần trợ giúp xã hội:

Hiện nay, số người cần trợ giúp xã hội trên địa bàn thành phố tương đối  nhiều, trong đó có khoảng 247.100 người cao tuổi, hơn 40.200 người khuyết tật, hơn 4.000 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, 8.223 hộ nghèo, 14.902 hộ cận nghèo, hơn 7.640 người nhiễm HIV/AIDS, khoảng 6.700 người nghiện ma tuý, khoảng 4.300 nạn nhân bị bạo lực, bạo hành trong gia đình; khoảng 74.000 đối tượng bảo trợ xã hội thuộc diện hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước và một số nhóm đối tượng cần trợ giúp khác.

2. Công tác trợ giúp xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng:

Trong những năm vừa qua, công tác trợ giúp xã hội trên địa bàn thành phố đã đạt được những thành quả tích cực trong việc trợ giúp cấp xã hội hàng tháng và trợ giúp xã hội khác cho đối tượng; mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội đã tổ chức tốt công tác nuôi dưỡng, chăm sóc nhiều đối tượng bảo trợ xã hội không có khả năng tự lo liệu được cuộc sống như người cao tuổi, người khuyết tật đặc biệt nặng, trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi,....

Các chế độ trợ cấp, trợ giúp cho đối tượng bảo trợ xã hội sống tại cộng đồng cũng như các đối tượng bảo trợ xã hội được nuôi dưỡng, chăm sóc tại các cơ sở bảo trợ xã hội được thực hiện kịp thời, công bằng, công khai, minh bạch, đúng đối tượng và đúng chế độ chính sách. Trong 6 tháng đầu năm 2019, thành phố đã thực hiện chi trả trợ cấp cho 74.825 đối tượng. Kinh phí chi trả cho các đối tượng là 170.699 triệu đồng, bình quân hằng tháng mỗi đối tượng được nhận mức hỗ trợ là 381.000 đồng/tháng/người. Như vậy, với mức hỗ trợ bình quân hằng tháng như trên là còn rất thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của đối tượng hiện nay.

Riêng mức trợ cấp mai táng phí khi chết đối với đối tượng bảo trợ xã hội trong cơ sở trợ giúp xã hội công lập của thành phố thực hiện còn khó khăn. Từ năm 2015 đến nay, có tổng số 132 đối tượng bảo trợ xã hội bị chết, trong đó có 55 người phải chi mai táng phí là 15 triệu đồng/người và 77 người phải chi hỗ trợ mai táng phí là 5,4 triệu đồng/người. Trong khi đó, thực tế cần chi cho hỏa táng một người khi chết khoảng 12 triệu đồng - 15 triệu đồng.

Bên cạnh các khoản trợ cấp hằng tháng, đối tượng bảo trợ xã hội sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội thuộc Nhà nước quản lý còn được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí theo quy định pháp luật về bảo hiểm y tế; hỗ trợ chi phí mai táng khi chết; cấp vật dụng phục vụ cho sinh hoạt thường ngày, chăn, màn, chiếu, quần áo mùa hè, quần áo mùa đông, quần áo lót, khăn mặt, giày, dép, bàn chải đánh răng, thuốc chữa bệnh thông thường; cấp sách, vở, đồ dùng học tập đối với đối tượng đang đi học và các chi phí khác theo quy định; được hỗ trợ giáo dục, đào tạo và tạo việc làm...

3. Xu hướng đối tượng cần trợ giúp xã hội đến năm 2025:

Do xu hướng già hóa dân số, tình trạng rủi ro do tự nhiên (biến đổi khí hậu, hán hạn, ngập lụt…), do tác động của môi trường (ô nhiễm khí và đất, khai thác quá nhiều tài nguyên), rủi ro về sức khỏe (tai nạn, ốm đau), sự tác động của nền kinh tế thị trường, quá trình đô thị hóa…, trong giai đoạn tới, số lượng và cơ cấu đối tượng cần trợ giúp xã hội tiếp tục có sự biến động và có xu hướng gia tăng.

Sự biến động số lượng ở mỗi nhóm đối tượng cần trợ giúp xã hội rất khác nhau, trong đó người lang thang kiếm sống, người nghèo có xu hướng giảm nhưng người cao tuổi, người khuyết tật, người nghiện ma tuý, người nhiễm HIV, phụ nữ bị bạo hành, trẻ em bị xâm hại, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em bị sao nhãng, đối tượng cần trợ giúp đột xuất do thảm họa, thiên tai và các đối tượng thuộc diện bảo trợ xã hội có xu hướng tăng. Đối tượng thường tập trung ở các vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao, vùng núi, vùng hải đảo, hay xảy ra thiên tai bão lụt, điều kiện sống khó khăn hơn.

II. Nội dung chính của Đề án nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội và một số chính sách trợ giúp xã hội khác trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2020-2025

1. Mục tiêu của Đề án:

Cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về trợ giúp xã hội; tiếp tục cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân có hoàn cảnh khó khăn; nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội hằng tháng, mức hỗ trợ chi phí mai táng cao hơn mức chuẩn của Trung ương; mở rộng đối tượng người cao tuổi không có lương hưu, trợ cấp của Nhà nước, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, đối tượng đặc thù khác sống ở vùng núi, vùng hải đảo được thụ hưởng chính sách trợ giúp xã hội góp phần bảo đảm công bằng, ổn định xã hội và phát triển bền vững.

2. Nội dung của chính sách:

Nội dung của chính sách gồm: Nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội, mở rộng đối tượng người cao tuổi, nâng mức hỗ trợ mai táng phí sẽ đưa vào dự thảo Nghị quyết của HĐND thành phố, là văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của HĐND thành phố.

a) Chính sách 1: Người cao tuổi từ đủ 75 tuổi đến dưới 80 tuổi không có lương hưu và trợ giúp của Nhà nước sống ở vùng núi, vùng hải đảo trên địa bàn thành phố được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, hưởng trợ cấp hằng tháng và trợ cấp mai táng phí theo quy định.

Dự kiến hằng năm có khoảng 858 người, với tổng mức kinh phí bình quân hằng năm chi cho đối tượng này là 7.585 triệu đồng/năm.

b) Chính sách 2: Mức chuẩn trợ giúp xã hội áp dụng trên địa bàn thành phố như sau:

- Mức chuẩn trợ giúp xã hội thành phố năm 2020 là 380.000 đồng (tăng cao hơn mức chuẩn trợ giúp xã hội của quốc gia 40%), bằng với mức chuẩn trợ giúp xã hội của thành phố Hồ Chí Minh).

- Áp dụng mức chuẩn trợ giúp xã hội của thành phố trong giai đoạn 2021-2025 bằng 1,4 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội quốc gia và được làm tròn số.   

 (Từ năm 2021 trở đi dự báo mức chuẩn trợ giúp xã hội của quốc gia là 370.000 đồng, áp dụng mức chuẩn trợ giúp xã hội của thành phố trong giai đoạn 2021-2025 bằng 1,4 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội quốc gia và được làm tròn số là 520.000 đồng).

Dự báo từ năm 2021 trở đi, trung bình hàng năm có khoảng 81.000 đối tượng, dự báo mức chi ngân sách thành phố tăng thêm bình quân hằng năm là 186.296 triệu đồng/năm.

c) Chính sách 3: Mức trợ cấp mai táng phí khi chết:

- Đối với đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng: Mức trợ cấp mai táng phí khi chết từ năm 2020 trở đi là 25 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội của thành phố (Mức trợ cấp mai táng phí đang áp dụng theo Nghị định 136/NĐ-CP bằng 20 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội của quốc gia).

- Đối với đối tượng bảo trợ xã hội trong cơ sở trợ giúp xã hội công lập của thành phố: Mức trợ cấp mai táng phí theo đơn giá của Công ty cổ phần Phục vụ mai táng Hải Phòng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và không thấp hơn mức trợ cấp mai táng phí khi chết đối với đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng. 

Trung bình hằng năm, thành phố có khoảng 1.637 đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng trợ cấp hằng tháng, khi chết được hỗ trợ tiền mai táng phí, với tổng mức kinh phí bình quân hằng năm là 8.710 triệu đồng/năm.

3. Tác động và ý nghĩa của Đề án:

Dự báo giai đoạn 2020-2025: Trung bình hàng năm trên địa bàn thành phố có khoảng 858 người cao tuổi từ đủ 75 tuổi trở lên đến dưới 80 tuổi không có lương hưu và trợ cấp của Nhà nước sống ở vùng núi, vùng hải đảo được hưởng trợ cấp hằng tháng, kèm theo chính sách bảo hiểm y tế, trợ cấp mai táng phí khi đối tượng hưởng trợ cấp chết; khoảng 1.637 đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng trợ cấp hằng tháng, khi chết được hỗ trợ tiền mai táng phí và khoảng 81.856 đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định số 136/2013/NĐ-CP và người cao tuổi từ đủ 75 tuổi trở lên đến dưới 80 tuổi không có lương hưu và trợ cấp của Nhà nước sống ở vùng núi, vùng hải đảo được hưởng trợ giúp cấp xã hội hằng tháng.

Mức chi ngân sách thành phố tăng thêm bình quân hằng năm để thực hiện các chính sách trên là: 202.591 triệu đồng/năm.

Tạo điều kiện không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và bảo đảm an sinh xã hội.

III. Nhiệm vụ và giải pháp thực hiện Đề án

1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý của các cấp ủy Đảng, chính quyền, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận của toàn xã hội trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách trợ giúp xã hội. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ các cấp trong chỉ đạo, huy động nguồn lực và thực hiện trợ giúp xã hội.

2. Tuyên truyền, phổ biến quan điểm chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về trợ giúp xã hội, vận động xã hội nhằm thay đổi cách thức trợ giúp xã hội theo hướng tiên tiến, hiệu quả, nâng cao nhận thức về trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và trợ giúp đối tượng trợ giúp xã hội.

3. Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất có lộ trình phù hợp xây dựng mức chuẩn trợ giúp xã hội, mở rộng đối tượng thụ hưởng chính sách bảo trợ xã hội và các hệ số trợ cấp xã hội,... dựa trên nhu cầu tối thiểu của con người, theo vòng đời và bảo đảm hội nhập quốc tế.

4. Tăng cường tuyên truyền, khuyến khích các tổ chức, cá nhân, gia đình, cộng đồng tham gia trợ giúp xã hội; lồng ghép trợ giúp xã hội với các đề án, chương trình, chính sách liên quan ở vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao, vùng núi, vùng hải đảo, hay xảy ra thiên tai bão lụt, điều kiện sống khó khăn hơn; đẩy mạnh xã hội hóa, đa dạng hóa nguồn lực thực hiện trợ giúp xã hội, nhất là trợ giúp khẩn cấp.

5. Tăng cường cải cách thủ tục hành chính theo hướng rút ngắn thời gian, quy trình giải quyết chính sách trợ giúp xã hội dựa vào nhu cầu của người dân bảo đảm công khai, minh bạch.

6. Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, giải quyết, chi trả trợ giúp xã hội, bảo đảm tích hợp các chính sách trợ giúp xã hội với các chính sách an sinh xã hội.

7. Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên làm công tác trợ giúp xã hội.

8. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá thực hiện chính sách trợ giúp xã hội, đặc biệt chính sách trợ cấp xã hội, quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội và các chính sách có liên quan đến hỗ trợ thực hiện.

9. Tập trung phát huy năng lực, hiệu quả của các cơ sở trợ giúp xã hội hiện có, hỗ trợ các cơ sở trợ giúp xã hội công lập có đủ điều kiện trợ giúp toàn diện cho các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

10. Đẩy mạnh nghiên cứu, học tập kinh nghiệm giữa các tỉnh, thành phố trong nước cũng như quốc tế trên các lĩnh vực phòng ngừa, phát hiện, chăm sóc và trợ giúp xã hội cho đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng. Tăng cường hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong việc hỗ trợ kinh nghiệm, nguồn lực để triển khai các hoạt động của Đề án.

IV. Tổ chức thực hiện Đề án

1. Kinh phí để thực hiện Đề án:

- Từ ngân sách thu nội địa thành phố, bố trí thực hiện từ năm 2020-2025. Tổng chi ngân sách thành phố tăng thêm bình quân hằng năm khoảng: 202.591 triệu đồng/năm.

- Việc phân bổ, quản lý, sử dụng kinh phí của Đề án thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

2. Phân công trách nhiệm thực hiện Đề án:

a) Sở Lao động, Thương binh và Xã hội:

Là cơ quan thường trực, giúp UBND thành phố tổ chức triển khai thực hiện Đề án.

Chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành, UBND các quận, huyện và các đơn vị liên quan hướng dẫn triển khai thực hiện về việc chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2020-2025 sau khi được ban hành.

Tổng hợp, báo cáo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, UBND thành phố việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội theo hướng dẫn của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội.

b) Sở Tài chính: Phối hợp với Sở Kế hoạch - Đầu tư cân đối nguồn lực ngân sách để thực hiện về việc chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2020-2025 theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

c) Sở Kế hoạch - Đầu tư: Chủ trì, phối hợp với Sở Lao động, Thương binh và Xã hội và các sở, ban, ngành, cơ quan liên quan vận động các nguồn tài trợ cho việc thực hiện Đề án.

d) Các sở, ngành liên quan trình UBND thành phố chỉ đạo, triển khai hoặc phối hợp thực hiện nhiệm vụ, giải pháp của Đề án theo chức năng, nhiệm vụ quản lý.

đ) UBND quận, huyện:

 Tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa của Đề án về chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2020-2025.

Chỉ đạo phòng Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với các đơn vị liên quan, UBND các xã, phường, thị trấn tổ chức triển khai thực hiện về chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2020-2025 bảo đảm kịp thời, đúng đối tượng theo quy định.

e) Ủy ban Mặt trận Tổ quốc ViệtNamthành phố, các hội đoàn thể:

Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố, các đoàn thể trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình chủ động phối hợp với các cấp, các ngành tuyên truyền, vận động các tổ chức, cơ quan, cá nhân và hội viên tham gia hỗ trợ các đối tượng bảo trợ xã hội về vật chất và tinh thần, tạo điều kiện cho các đối tượng bảo trợ xã hội tự tin, vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập cộng đồng.

Phần 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

I. Kết luận:

1. Nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội của thành phố áp dụng: Tất cả đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21-10-2013 của Chính phủ và người cao tuổi từ đủ 75 tuổi trở lên đến dưới 80 tuổi không có lương hưu và trợ cấp của Nhà nước sống ở vùng núi, vùng hải đảo.

Mức chuẩn trợ giúp xã hội thành phố năm 2020 là 380.000 đồng. Giai đoạn 2021-2025 áp dụng mức chuẩn trợ giúp xã hội thành phố bằng 1,4 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội quốc gia và được làm tròn số.   

2. Mở rộng đối tượng người cao tuổi từ đủ 75 tuổi trở lên đến dưới 80 tuổi không có lương hưu và trợ cấp của Nhà nước sống ở vùng núi, vùng hải đảo được hưởng trợ giúp cấp xã hội hằng tháng, cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí theo quy định pháp luật về bảo hiểm y tế, hỗ trợ mai táng phí khi chết.

3. Mức trợ cấp mai táng phí khi chết:

- Đối với đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng: Mức trợ cấp mai táng phí khi chết, từ năm 2020 trở đi là 25 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội của thành phố.

- Đối với đối tượng bảo trợ xã hội trong cơ sở trợ giúp xã hội công lập của thành phố: Mức trợ cấp mai táng phí khi chết thực hiện theo đơn giá của Công ty cổ phần Phục vụ mai táng Hải Phòng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và không thấp hơn mức trợ cấp mai táng phí khi chết đối với đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng. 

II. Kiến nghị:

Đề nghị HĐND thành phố xem xét, quyết nghị thông qua Nghị quyết về nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội và một số chính sách trợ giúp xã hội khác trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2020-2025 vào kỳ họp thứ 11 HĐND thành phố khóa 15 để UBND thành phố tổ chức triển khai thực hiện kịp thời, phấn đấu bắt đầu từ quý 1 năm 2020.