Quần thể di tích quốc gia đặc biệt
* Đền chính thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: Đền được xây sau khi Trạng Trình mất (1585) với diện tích hơn 4 ha, gồm 3 gian được lập trên nền nhà cũ, nơi đặt tượng và bài vị của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tượng Nguyễn Bỉnh Khiêm được làm bằng gỗ, trong tư thế ngồi trên ngai, mặc áo rồng vua ban, đầu đội mũ cánh chuồn, tay phải cầm cuốn tập giơ lên như đang giảng đạo thơ cho các học trò. Phía trước đền là hồ Thái Nhâm rộng khoảng 1.000 m², trên khoảng đất giữa hồ có cầu bắc qua, còn tấm bia đá làm năm Vĩnh Hựu nhà Lê (1736) ghi lại quá trình và tên những người đóng góp xây dựng đền.

Toàn cảnh Khu di tích Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (trước là đền chính, phía sau là đền thờ song thân).

Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
* Đền thờ song thân Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: được xây dựng sau này trong quần thể các di tích gắn với thân thế, sự nghiệp của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Khu đền nằm phía sau đền thờ chính, nên còn được gọi là Đền Sau, là nơi thờ cụ Nhữ Thị Thục (thân mẫu) và cụ Nguyễn Văn Định (thân phụ) của Trạng Trình. Trong quần thể di tích còn có phần mộ cụ Nguyễn Văn Định, thân phụ của Trạng Trình, Nhà trưng bày về thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Đền thờ song thân Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
* Am Bạch Vân: Được tái dựng vào năm 2004 với kiến trúc 3 gian nhà lợp cói, mô phỏng Am Bạch Vân, nơi Nguyễn Bỉnh Khiêm sau khi từ quan về quê nhà dạy học, làm thơ. Am được nhiều học giả xưa nay đánh giá là trường đại học tư thục lớn nhất, một thi xã tiêu biểu của đất nước đương thời. Tại đây, Nguyễn Bỉnh Khiêm đào tạo nhiều Trạng nguyên như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Dữ, Đinh Thời Trung, Trương Tuân, Nguyễn Quyện… Am Bạch Vân cũng là nơi hội tụ nhiều danh sĩ, thi nhân. Tại đây, Trạng Trình tiếp kiến sứ giả các thế lực phong kiến lúc bấy giờ. Quần thể vườn tượng trước sân của Am Bạch Vân và trong các vườn cây với những tượng người, con vật có kích thước tương đương thật, diễn tả lại cuộc đời, cảnh dạy học khi xưa của Trạng Trình, tạo nên khung cảnh gần gũi và sống động.

Am Bạch Vân
* Quảng trường và Tượng đài Nguyễn Bỉnh Khiêm: Đây là nơi diễn ra các hoạt động lễ hội, tôn vinh học sinh, sinh viên tiêu biểu của thành phố hằng năm nằm. Tượng đài Nguyễn Bỉnh Khiêm cao 5,7 m, nặng 8,5 tấn được làm bằng chất liệu đá granit, trong tư thế ngồi tay cầm bút, tay cầm sách, y phục nhà Nho, cốt cách giản dị. Phía sau tượng có hai bức phù điêu được thiết kế khá công phu, hoàn chỉnh, mỗi bức cao khoảng hơn 5m, dài hơn 20m. Bức thứ nhất diễn tả lại cuộc đời, sự nghiệp của Trạng Trình từ lúc còn bé đến cuối đời; bức thứ hai diễn tả giai đoạn lịch sử của địa phương từ khi thực dân Pháp xâm lược cho đến nay.

* Chùa Song Mai: Chùa nằm kế bên đền thờ chính, tương truyền là nơi Nguyễn Bỉnh Khiêm thường đến lễ và từng trả lời sứ giả Chúa Trịnh, rằng: "Giữ chùa, thờ Phật thì được ăn oản" (ý nói không nên thoán đoạt ngôi Vua nhà Lê). Trước chùa trồng hai cây mai nên được gọi là chùa Song Mai. Đây cũng là nơi người vợ thứ ba của Trạng Trình là bà Minh Nguyệt tu hành. Cạnh chùa là nhà thờ bà Minh Nguyệt, người có công cùng Trạng lập nên chùa này. Chùa Song Mai được thiết kế những cột đá vuông. Trước sân là Thiên đài Song Mai tự tạo dựng vào năm 1700 thời vua Lê Hy Tông.

Chùa Song Mai
* Quán cổ Trung Tân: Quán cổ Trung Tân được Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm dựng vào năm 1542 tại thôn Trung Am - quê ngoại ông, bên dòng sông Tuyết Giang. Quán do ông thiết kế, bỏ tiền và đôn đốc học trò xây dựng. Tại đây, ông dựng bia đá, khắc bài văn bia bất hủ “Trung Tân quán bia ký”. Theo Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trung là đạo trung, còn Tân là bến để đậu. Biết chỗ bến đậu đúng thì là bến chính. Quán cổ Trung Tân là 1 trong 14 cổ tích của xứ Đông, thu hút đông đảo sĩ phu các triều đại đến thăm và đọc bia. Đời Cảnh Hưng (1740-1786), quán bị hư hại, bia mờ. Năm 2001, quán và bia được phục dựng như ngày nay.

Quán cổ Trung Tân
* Tháp bút Kình Thiên: Tương truyền tháp được học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm xây dựng với ngụ ý ca ngợi công đức Trạng Trình như cột trụ chống trời.

Tháp bút Kình Thiên
* Cụm di tích quê ngoại Trạng Trình: Cụm di tích nằm trên quê ngoại của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tại thôn Nam Tử, xã Kiến Thiết, huyệnTiên Lãng bao gồm đình Đông, khu nhà thờ họ Nguyễn Nhữ, khu Mả Nghè (phần mộ vợ chồng Tiến sĩ Thượng thư Nhữ Văn Lan và con gái Nhữ Thị Thục), nhà thờ họ Nhữ tộc liền kề. Ngoài ra còn có chùa cổ Bảo Khánh là nơi thủa nhỏ Nguyễn Bỉnh Khiêm được mẹ gửi vào nhờ các sư thầy dạy bảo. Các di tích này đều được gìn giữ, bảo tồn, phát huy giá trị mỗi dịp lễ hội, kỷ niệm ngày sinh, ngày mất của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và những người thân trong gia đình Trình Quốc công.

Mộ phần bà Nhữ Thị Thục (thân mẫu Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm) trong khu Mả Nghè tại xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng.

Chùa Bảo Khánh tại xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng.

Từ đường họ Nguyễn Nhữ trong cụm di tích quê ngoại Trạng Trình tại thôn Nam Tử, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng.
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) có tên chữ là Hanh Phủ, tên hiệu là Bạch Vân cư sĩ, sinh ra trong gia đình vọng tộc tại thôn Cổ Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương (nay là huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng). Năm 1535, ông thi đỗ Trạng nguyên và ra làm quan cho nhà Mạc, giữ chức Tả thị lang. Năm 1543, trước cảnh quan thần lộng quyền, Nguyễn Bỉnh Khiêm dâng trảm sớ đối với 18 đình thần biến chất, mưu phản song không được nhà vua chấp thuận. Ông bèn cáo quan về ở ẩn nơi quê nhà, lập Am Bạch Vân, mở trường dạy học, làm thơ, nghiên cứu kinh sử. Học trò của ông nhiều người trở thành danh tướng, Trạng nguyên như: Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Quyền... Nguyễn Bỉnh Khiêm còn là nhà triết học lớn của Việt Nam. Ông cũng tinh thông về thuật số, được dân gian truyền tụng và suy tôn là “nhà tiên tri” số một của Việt Nam với hàng loạt những lời tiên tri cho hậu thế mà người đời gọi là “Sấm Trạng Trình”.
T.L tổng hợp