Xứng đáng với sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, sự tin cậy của nhân dân

01/02/2020 22:25

Sự ra đời của Đảng đáp ứng nhu cầu bức thiết của lịch sử

Mùa Xuân năm 1930, từ ngày 6-1 đến 7-2-1930, tại bán đảo Cửu Long, thuộc Hồng Kông (Trung Quốc), dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức. Hội nghị quyết định thống nhất các tổ chức Cộng sản, thành lập một Đảng, lấy tên là Đảng Cộng sản ViệtNam. Sự thành lập Đảng là thành quả của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ViệtNam. Cương lĩnh chính trị đầu tiên được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng xác định mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam là “Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”, “để đi tới xã hội cộng sản”. Việc thành lập Đảng và đường lối cách mạng ViệtNamdo Cương lĩnh chính trị đầu tiên đề ra đã đáp ứng những nhu cầu bức thiết của lịch sử và trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Sau khi ra đời, Đảng  lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến.

Trên cơ sở đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh) nhằm đoàn kết lực lượng của toàn dân tộc để đánh đuổi thực dân, phát xít. Đồng thời, lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng. Hội nghị toàn quốc của Đảng (13-8-1945) ra quyết định Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi cả nước. Tiếp đó, Đại hội đại biểu quốc dân họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) trong hai ngày 16 và 17-8-1945, biểu thị sự đoàn kết nhất trí của toàn thể dân tộc trong giờ phút quyết định vận mệnh của đất nước, biểu thị lòng tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng. Ngay sau Đại hội, lãnh tụ Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chủ động, sáng tạo của các Đảng bộ địa phương, trong khoảng nửa tháng, Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi trên phạm vi cả nước. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo; chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến ở ViệtNam; kết thúc hơn hơn 80 năm nhân dân ta dưới ách đô hộ của thực dân, phát xít. Chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - Nhà nước dân chủ nhân dân ở Đông Nam Á và là Nhà nước của toàn thể dân tộc Việt Nam. Nhân dân ViệtNamtừ thân phận nô lệ, trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Từ đây, đất nước, xã hội, dân tộc và con người ViệtNambước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Không chỉ có giá trị và ý nghĩa to lớn đối với cách mạng Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 còn là sự kiện trọng đại của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trong thế kỷ 20. Đó là đòn quyết định phá tung một mắt xích quan trọng và thúc đẩy sự tan rã nhanh chóng của hệ thống thuộc địa; mở đầu quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ và mở ra hướng đi mới cho phong trào giải phóng dân tộc. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám góp phần làm giàu thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin. Nó chứng tỏ rằng, trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở một nước thuộc địa, do toàn dân nổi dậy, dưới sự lãnh đạo của một Đảng Mác-Lênin, có đường lối đúng đắn hoàn toàn có thể giành thắng lợi.

Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, với tinh thần "... thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ...", toàn thể dân tộc ViệtNammột lần nữa bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ. Sau chín năm kháng chiến, với nhiều hy sinh, gian khổ, nhưng vô cùng anh dũng và tự hào, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng làm nên một Điện Biên lịch sử - “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Với thắng lợi này, "lần đầu trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân ViệtNam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới".

Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, hòa bình được lập lại ở miền Bắc, nhưng miềnNamvẫn bị kẻ thù xâm lược. Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trên cơ sở phân tích sâu sắc tình hình thực tiễn của cách mạng, âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, Đảng hoạch định đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ và sáng tạo, phù hợp với thực tiễn chiến trường.

Cùng với việc giành nhiều thắng lợi vang dội trên mặt trận quân sự, Đảng mở mặt trận tiến công ngoại giao đúng lúc (từ năm 1967), thực hiện thành công nghệ thuật kết hợp đấu tranh quân sự - chính trị - ngoại giao, mở ra cục diện “vừa đánh, vừa đàm”. Tiếp đó, Đảng tổ chức chỉ đạo thành công cuộc Tiến công chiến lược năm 1972, giành thắng lợi quyết định làm thay đổi cục diện chiến tranh, kết hợp chặt chẽ với đấu tranh ngoại giao kiên quyết và khôn khéo, buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Paris, rút hết quân ra khỏi miền Nam, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Cuối cùng, Đảng kịp thời phát hiện thời cơ chiến lược, kiên quyết chỉ đạo, tổ chức thành công cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, kết thúc cuộc chiến đấu 30 năm giải phóng, giành độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc, chấm dứt ách thống trị kéo dài hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta; mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi đó "mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi.

Khởi xướng và lãnh đạo thực hiện thành công đường lối đổi mới toàn diện

Tháng 12-1986, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật và nói rõ sự thật”, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6 của Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện. Trên lĩnh vực kinh tế, Đảng không ngừng đổi mới nhận thức và tư duy lý luận về kinh tế, từ tư duy kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang tư duy kinh tế thị trường định hướng xã hội; mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là bước đột phá lý luận cơ bản và sáng tạo của Đảng, là thành quả lý luận quan trọng của Đảng trên cơ sở tổng kết thực tiễn ViệtNamvà tiếp thu chọn lọc kinh nghiệm của thế giới. Cùng với sự đổi mới trong tư duy lý luận và đường lối kinh tế, trong chỉ đạo thực tiễn, Đảng kịp thời, sáng tạo và linh hoạt điều chỉnh chính sách kinh tế phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế phát triển của thời đại; đồng thời, khơi dậy, phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh của đất nước và các thành phần kinh tế cũng như sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Cùng với những đổi mới về kinh tế, Đảng không ngừng đổi mới tư duy lý luận và đường lối văn hóa, với việc xác định xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Bên cạnh đó, Đảng nhấn mạnh, duy trì tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước đi, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển.

Trên lĩnh vực đối ngoại, thể hiện rõ những đổi mới và sự sáng tạo, linh hoạt trong tư duy lý luận và chỉ đạo thực tiễn của Đảng. Với thông điệp “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực và có trách nhiệm của các tổ chức quốc tế”, tích cực tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương “thực hiện đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế” nhằm hội nhập sâu rộng với thế giới, đồng thời bảo vệ vững chắc lãnh thổ, biên giới, hải đảo, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân; bảo vệ kinh tế, văn hóa dân tộc, bảo vệ sự nghiệp đổi mới.

Nhận thức lý luận của Đảng về công tác xây dựng Đảng được nâng lên một bước. Đảng khẳng định: Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt có ý nghĩa sống còn trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng; tăng cường “đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bên cạnh đó, Đảng chủ trương tăng cường đổi mới hệ thống chính trị, chú trọng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan lập pháp, tư pháp và hành pháp. Đồng thời, đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc ViệtNamvà các đoàn thể quần chúng nhân dân. 

Sau hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, ViệtNamgiành được những thành tựu quan trọng. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên một bước, không khí dân chủ trong xã hội từng bước được phát huy. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường; chính trị, xã hội ổn định, an ninh - quốc phòng được giữ vững. Vai trò, vị thế của ViệtNamtrên trường quốc tế ngày càng nâng cao.

Thực tế phong phú của cách mạng Việt Nam 90 năm qua chứng minh rằng, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, làm nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam được tôi luyện, thử thách và ngày càng trưởng thành, dày dạn kinh nghiệm để ngày càng xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân./.

PGS.TS Nguyễn Danh Tiên, Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)