Bài thơ "Mời trầu" hay truyện tình giả tưởng của Hồ Xuân Hương

MAI NGỌC PHÁT 02/05/2020 10:50

Mời trầu – Tranh minh họa của họa sĩ Nguyễn Sơn.

TÔI được bà nội dạy cho bài thơ này sớm lắm, khoảng cuối năm học cấp 1 thì phải. Từ ấy tôi thuộc nằm lòng “Mời trầu” của Hồ Xuân Hương. Sau này mới biết theo bản khắc năm 1921, bài thơ có tên “Mời ăn trầu”. Do dấu ấn sâu đậm về bài thơ từ nhỏ, tôi xin gọi tên bài thơ là “Mời trầu”. Và quả thực, tôi không thích chữ “ăn” đặt trong tiêu đề bài thơ này. “Mời trầu” nằm trong tâm trí tôi ngay thuở đầu đời, thuở làm quen với đời sống quanh mình. Hồi ấy tôi có nghe lỏm được một số bài thơ khác của Hồ Xuân Hương như “Đánh đu”, “Ốc nhồi”, “Quả mít”, “Trống thủng”, “Vịnh cái quạt”... Khi chưa bước qua ngưỡng “nữ thập tam nam thập lục”, có lẽ “Mời trầu” là vừa đủ và hợp với tâm trạng tôi khi ấy. Hợp, bởi cái tình trong bài thơ vừa đủ bén, nồng đượm mà e ấp, cả tin xen lẫn với xét đoán, nghi ngờ. Còn đủ, bởi hình ảnh quả cau, lá trầu luôn là nơi nương tựa chốn quê, gần gũi da diết, và cô lẻ âm thầm. Đúng là khi ấy tôi đâu biết đến nghệ thuật thi ca, hay khai phá câu chữ, cũng như chưa minh định được tài năng của Hồ Xuân Hương đã Việt hóa thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật thế nào. Đọc bài thơ, tôi chỉ cảm thấy bóng hình cô Xuân Hương trẻ trung, mang quyền uy choán hết cả không gian. Nỗi ám ảnh ấy sau này mỗi lần nhớ đến “Mời trầu” tôi lại hình dung nữ sĩ chính là ông Tơ, bà Nguyệt, một hình tượng độc đáo trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam (có nguồn gốc từ điển tích văn học cổ điển Trung Quốc).

“Lòng tôi yêu trộm nhớ thầm

Trách ông Nguyệt lão se lầm duyên ai

Duyên tôi còn thắm chưa phai

Hay là người đã nghe ai dỗ dành"

Điển tích ông Tơ, bà Nguyệt se duyên là vậy, nhưng rõ ràng nội lực, sức mạnh của trái tim người khao khát yêu thương trong ca dao không thể so sánh được với người con gái trong “Mời trầu” của Hồ Xuân Hương. “Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi”. Câu thơ đầu trong bài vọng ra tiếng thưa nhỏ nhẹ như bao thôn nữ hiền thục, dịu dàng. Trong ca dao, dân ca, nhất là những khúc hát ru của người Việt xưa, những tính từ đi liền với “trầu” thường mang màu sắc sặc sỡ như vàng, xanh, thắm… Còn “quả cau”, “miếng trầu” trong thơ Hồ Xuân Hương lại khác. Hình ảnh câu thơ đầu trong “Mời trầu” hiện lên trước mắt bạn đọc giống như đỉnh một đợt sóng lớn nhấp nhô phía xa đang tiến lại gần bờ. Và con sóng ấy “sinh sự” ngay trong câu thơ tiếp theo: “Này của Xuân Hương mới quệt rồi”. Hai câu thơ đầu trong bài như cách bày biện, xếp đủ những quân cờ cho ván cờ của kiếp hồng nhan. Tôi cho rằng đến đây, toàn bộ không gian trong bài thơ được hiển lộ, nhưng mọi vật thể trong đó chưa được chuyển dịch, vẫn ở trạng thái tĩnh. Đến câu thơ thứ ba, “Có phải duyên nhau thì thắm lại” kích hoạt mọi chuyển động trong không gian vừa ngưng đọng ấy. Câu thơ vang lên như một khẩu lệnh, tiếng gọi kết duyên của ông Tơ, bà Nguyệt. Chữ “thắm” trong câu thơ này nặng “cân” nhất trong “Mời trầu”. Câu thơ cuối trong “Mời trầu” được coi như một giả thiết, ướm hỏi, nhưng ý tứ lại nghiêng về phía hiện thực mà chính Xuân Hương thấp thoáng nhìn thấy: “Đừng xanh như lá, bạc như vôi”. Vẫn đang câu chuyện của miếng trầu, nhưng nhà thơ mở ra cái kết bất ngờ. Hồ Xuân Hương đặt chữ “Đừng” ngay đầu câu thơ mang tính giả định thay lời khuyên, cũng là lời bày tỏ. Tôi coi bài thơ “Mời trầu” là một truyện tình giả tưởng. Nhân vật Xuân Hương xưng danh, xuất hiện từ đầu đến cuối câu chuyện, chủ động trong cuộc thoại. Nhưng còn một nhân vật nữa, đó là người được Xuân Hương mời trầu. Theo tôi, đó mới là nhân vật chính của truyện siêu ngắn (mini) này. Người ấy có thể là đấng nam nhi, một hiền nhân quân tử, hoặc đại diện giai cấp thống trị. Bóng dáng nhân vật nam ấy khi ẩn khi hiện, im lặng từ đầu đến kết thúc truyện, nhưng bạn đọc vẫn nhìn rõ những khoảng tối. “Người ăn trầu” ấy là ai trong thời đại của Hồ Xuân Hương, cả thời nay và mãi sau này? Diện mạo nhân vật ấy thế nào tùy thuộc vào suy đoán của mỗi người bạn đọc.J

MAI NGỌC PHÁT