Hai ngày và mãi mãi (trích)
Minh họa: Đặng Tiến
...Còn lại một mình trong khoang tàu, Hồ Chủ tịch đi lại bên cửa sổ, đứng dõi mắt nhìn ra hai bên bờ sông. Tàu đang đi sâu vào sông Cấm. Dòng sông kỳ nước cường. Một làn nước đục ngầu mênh mang đầy ắp dòng sông, duềnh lên hai bên bờ. Bên trái tàu đang vào là cảng Sáu Kho, lác đác mấy chiếc tàu buôn đậu im lìm dưới dòng sông, còn trên bờ dăm ba chiếc cần cẩu đứng chơ vơ. Nhưng đằng sau sự im lìm, chơ vơ ấy là cả một cuộc chiến âm thầm, dai dẳng không kém phần quyết liệt, diễn ra không chỉ ở bến chính Sáu Kho, mà cả bến Cấm, bến Tam Bạc cũng luôn xảy ra những cuộc đấu tranh đòi quyền kiểm soát thuế quan xuất nhập hàng hóa qua cảng, giữa ta và Pháp. Có lần ở trạm thuế Tam Bạc đã xảy ra bắn nhau ác liệt, chỉ vì một chiếc thuyền buôn chở chưa đến trăm tấn hàng từ Hồng Kông sang, nhưng thuế quan Pháp nổ súng bắt phải vào cho họ kiểm soát, chứ không được vào trạm kiểm soát thuế quan của Việt Nam. Chỉ mỗi chuyện giành quyền kiểm soát thuế quan thông qua cảng Hải Phòng, mà hơn một năm nay vẫn giằng co quyết liệt. Nhưng dẫu quyết liệt thế, chứ quyết liệt nữa, cũng nhất quyết không nhượng bộ. Bởi suy cho cùng, đây không chỉ là vấn đề thuế quan qua cảng, mà thực chất là bảo vệ độc lập chủ quyền đất nước. Vì thế, nếu hai bên không khéo giữ hòa khí, thì rất dễ xảy ra “cuộc chiến thuế quan”, như một cái cớ để Pháp gây sự, làm bùng lên ngọn lửa chiến tranh, như vết dầu loang lan ra các tỉnh.
Hồ Chủ tịch ngắm nhìn dòng sông Cấm và bến cảng Sáu Kho mà đăm chiêu suy nghĩ. Có lúc Bác Hồ đưa mắt nhìn sang bên kia, phía tay phải con tàu đang đi tới, một vùng bãi bồi rực màu phù sa, xanh rừng lau sú, vẹt, bần, chạy dài tít tắp từ ngang bến Sáu Kho sang Thủy Nguyên, ra tới cửa Bạch Đằng giang mênh mang sóng nước. Hồ Chủ tịch cứ chăm chú dõi nhìn, như thu vào tròng mắt cả một vùng sông nước bãi bồi, như muốn nhìn thấy dưới lớp phù sa trong rừng sú vẹt bên cửa sông kia, nơi đâu vẫn còn bãi cọc Hưng Đạo Đại vương dựng lên, chỗ nào những chiến thuyền quân Nguyên- Mông hãi hùng khiếp vía tháo chạy va đập, chất chồng lên nhau, còn chìm sâu dưới ba thước nước...
Bỗng có tiếng còi tàu âm âm u u dội vang trên sông nước. Hồ Chủ tịch chợt quay nhìn vào bờ. Bến Ngự đây ư. Một bến cảng nhỏ, chiều ngang chỉ vài trăm mét dài, chiều dọc nhiều chỗ còn hẹp hơn, nhưng lại chạy dài cả về hai phía, trên và dưới bến, nên từ dưới tàu nhìn lên Bến Ngự vẫn có cái rộng dài, thon gọn, chứ không lè phè như những cảng khác. Nhưng điều làm Hồ Chủ tịch xốn xang cõi lòng là cảnh tấp nập, nhộn nhịp trên Bến Ngự. Chiều đang nhạt dần. Ánh nắng chỉ còn yếu ớt. Nhưng trên bến cảng lại rực lên một màu đỏ tươi của cờ, hoa, biểu ngữ, cũng được may cắt chỉ bằng hai màu đỏ và vàng. Thôi thì đủ các loại cờ to, cờ nhỏ, bằng vải, bằng giấy, cầm tay giơ cao, phất đều... Một rừng người vẫy tay reo hò, hô vang khẩu hiệu, và một rừng cờ phất phới tung bay, tưởng không bao giờ dứt. Hòa trong rừng người và cờ là những tấm biểu ngữ, cũng màu đỏ tươi, chữ cắt giấy vàng, nổi bật những dòng khẩu hiệu: “Nhiệt liệt chào mừng Hồ Chủ tịch về nước”, “Hồ Chủ tịch muôn năm!”, “Tuyệt đối tin tưởng vào Chính phủ Hồ Chí Minh”, “Việt Minh muôn năm!”, “Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa muôn năm!”. Hồ Chủ tịch trầm ngâm nhìn lên trên bến, mà lòng không nén được xúc động. Sau bốn tháng hai mươi ngày xa Tổ quốc, hôm nay trở về trong lòng Mẹ hiền Việt Nam, thỏa lòng mong ước bấy lâu! Nét mặt rạng rỡ niềm vui và nụ cười tươi trên môi, Hồ Chí Minh đi nhanh sang khoang tàu hạm trưởng và ban tham mưu chiến hạm Đuy-mông Đuyếc-vin. Hạm trưởng Ô-nây dường như cũng đang định sang chào Hồ Chủ tịch, nhưng thấy Chủ tịch sang, liền cất giọng trang nghiêm, hồ hởi:
- Thưa Chủ tịch, cuộc hành trình của thông báo hạm Đuy-mông Đuyếc-vin, sau bốn mươi nhăm ngày, kể từ khi rời quân cảng Tu-lông, đến đây là tới đích an toàn. Thay mặt sĩ quan, thủy thủ trên tàu, tôi, trung tá, hạm trưởng Ô-nây, kính chúc Chủ tịch về nước mạnh khỏe, tươi vui để lãnh đạo nhân dân Việt Nam mau chóng tiến lên con đường tự do, no ấm.
Hồ Chủ tịch nắm chặt tay Ô-nây:
- Tôi rất cảm ơn về chuyến đi dài ngày nhưng hết sức thú vị này. Qua hạm trưởng, tôi gửi lời cảm ơn và chúc sức khỏe tới toàn thể sĩ quan, thủy thủ trên chiến hạm Đuy-mông Đuyếc-vin. Tôi cũng trân trọng mời trung tá, hạm trưởng và thiếu tá, phó hạm trưởng cùng anh em sĩ quan trên tàu lên Hà Nội thăm Thủ đô nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa non trẻ của chúng tôi vào một ngày gần đây, sau khi tôi về tới Hà Nội. – Đoạn, Hồ Chủ tịch đưa cả hai tay ra nắm tay Ô-nây, rồi Xtô-ren-li, nói với cả hai người bằng giọng thân mật và xởi lởi – Các bạn luôn luôn là khách quý của Việt Nam.
Cả hạm trưởng Ô-nây và phó hạm trưởng Xtô-ren-li đều để bàn tay mình trong tay Hồ Chủ tịch thật lâu, như không muốn rời, như lời hẹn ước nhất định gặp lại tại Thủ đô nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.
Từ khoang tàu ban tham mưu đi ra, Hồ Chủ tịch bước nhanh sang các khoang của thủy thủ và nhân viên tàu. Đến đâu Hồ Chủ tịch cũng niềm nở nói lời cảm ơn và thân mật bắt tay chào từ biệt mọi người. Khi Hồ Chủ tịch đang bước lại phía cửa để xuống khoang thợ máy dưới hầm tàu, thì cả Ô-nây và Xtô-ren-li đều đi nhanh tới. Ô-nây vội nói:
- Thưa Chủ tịch, thời gian không còn nhiều, trên bờ mọi người đang ngóng chờ Chủ tịch. Xin Chủ tịch quay lại để mọi người khỏi mong. Tôi và thiếu tá Xtô-ren-li sẽ chuyển lời chào chia tay của Chủ tịch tới anh em thợ máy dưới kia sau.
Nhưng Hồ Chủ tịch cũng chưa thể quay lại để lên bờ, mà sau khi nhờ Ô-nây và Xtô-ren-li chuyển lời chào anh em thợ máy và những người làm việc dưới hầm tàu, Hồ Chủ tịch đi thẳng đến khoang dành cho vợ chồng trung tá, phái viên Tuy-tan. Vừa thấy Hồ Chủ tịch xuất hiện trên khung cửa, phu nhân phái viên đã nói như reo:
- Ôi, tới Việt Nam rồi, thưa Chủ tịch!
Hồ Chủ tịch nói mấy lời ngắn gọn thăm hỏi sức khỏe phu nhân và căn dặn đôi điều về thời tiết, khí hậu Việt Nam mùa này để phu nhân lưu ý mỗi khi ra ngoài. Đoạn, Hồ Chủ tịch nhìn cả hai vợ chồng phái viên, nói với giọng xúc động:
- Rất tiếc là chúng ta phải chia tay nhau, vì tôi về Hà Nội còn có nhiều công việc đang chờ. Tôi đã nói với trung tá, mời phu nhân và trung tá lên ở với một gia đình trên thành phố...
Không để Hồ Chủ tịch nói hết câu, phu nhân trung tá dáng nhanh nhẹn, hoạt bát, giọng xúc động, nói ngay:
- Anh Tuy-tan đã nói rồi. Chủ tịch chu đáo quá!
Chia tay vợ chồng phái viên, Hồ Chủ tịch vừa quay về khoang tàu, thì bỗng vang lên tiếng còi tàu âm âm u u kéo dài tưởng không bao giờ dứt. Và gần như đồng thời, từ phía Nhà hát lớn thành phố cũng vang lên hồi còi vút cao, lanh lảnh ngân nga như reo hò, chào đón. Hòa cùng tiếng còi ngân vang là tiếng vỗ tay hò reo vang dậy của hàng nghìn người ra đón Hồ Chủ tịch trên Bến Ngự, và của hàng vạn người dân đang đứng chật hai bên đường phố, trên quảng trường Nhà hát lớn, nơi chỉ lát nữa đoàn xe đưa Hồ Chủ tịch sẽ đi qua. Với thói quen của một thủy thủ lão luyện mỗi khi tàu cập bến, Hồ Chủ tịch lướt nhìn đồng hồ: 16 giờ 17 phút (ngày 20 tháng 10 năm 1946). Đoạn, Người bước nhanh ra boong tàu, tay tỳ trên lan can chăm chú nhìn lên bến, vẻ mặt mừng vui, xúc động, thoáng chút trầm tư.
Giữa lúc trên bến, dưới tàu tưng bừng không khí hân hoan, thì từ chỗ đoàn đại biểu Trung ương xuống đón Hồ Chủ tịch, có một người tầm thước, ăn mặc dáng sĩ quan liên lạc, đi nhanh xuống bến. Trong những người ra đón Hồ Chủ tịch còn đứng trên bến, nhiều người biết người đàn ông trong trang phục sĩ quan liên lạc kia là Nguyễn Văn Cáp, người đã bao năm được ở gần Bác Hồ, đi với Bác từ Quảng Tây (Trung Quốc) về Pác Bó (Cao Bằng) tháng 2-1941, rồi tháng 5-1945 lại được đi với Bác Hồ khi Bác rời căn cứ Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang), chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa toàn quốc. Nguyễn Văn Cáp vừa đi nhanh đến bến, thì chiếc cầu tàu cũng vừa lao xong. Anh theo người sĩ quan liên lạc Pháp ra đón dẫn vào khoang mà Hồ Chủ tịch vừa từ boong tàu trở vào. Vừa vào tới khoang tàu, Cáp không khỏi xúc động đứng sững lại. Nhưng Bác Hồ lại nói ngay: “Thời gian không có nhiều, Bác chỉ hỏi chú, công việc Bác giao cho, ở nhà chú làm đến đâu rồi?”. Mới nghe Cáp đã hiểu ngay. Trước ngày lên đường đi Pháp, Bác Hồ đã giao cho anh trở lại căn cứ Việt Bắc lập xưởng quân khí. Khi giao nhiệm vụ, Bác đã nói dù hoàn cảnh nào, chiến tranh hay hòa bình, thì khí giới đối với bộ đội, dân quân, tự vệ cũng không thể thiếu. Bác luôn luôn nghĩ tới nhiệm vụ trang bị cho lực lượng vũ trang và bán vũ trang có đủ vũ khí và vũ khí tốt để đánh địch, bảo vệ nhân dân, bảo vệ cách mạng. Chấp hành chỉ thị của Bác, mấy tháng nay Cáp đã cùng cơ quan quân khí tích cực xây dựng cơ sở sản xuất súng đạn trên núi rừng Việt Bắc, vừa để bảo đảm bí mật, vừa để tạo lập khu căn cứ, nếu lần thứ hai cơ quan đầu não lại phải lên rừng. Anh báo cáo với Bác là dù có nhiều khó khăn về nguyên vật liệu và đường sá đi lại, nhưng xưởng sản xuất khí giới ở X. đã đi vào hoạt động. Nghe Cáp báo cáo xong, Bác nói ngay: “Thôi chú về đi. Về ngay đi! Phải nhanh chóng tổ chức làm thật nhiều vũ khí, nhất là mìn và lựu đạn. Tình hình rất khẩn trương. Chiến sự sẽ nổ ra. Chứ chúng không chịu để chúng ta bình yên dâu. Không chần chừ được nữa. Mọi việc phải hết sức khẩn trương”. Cáp nghe Bác nói như thấy hết tính cấp bách của tình hình, bỗng nhớ tới nhận định của Ban Thường vụ Trung ương Đảng tại cuộc họp ngày 19-10-1946: “Không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh nó”, chứ đừng có nhẹ dạ cả tin vào cái hiệp định 14-9 mà lơ là chuẩn bị đối phó là mắc mưu địch. Bác quả là một vĩ nhân, có tầm nhìn xa thấy rộng. Dù Bác ở xa Tổ quốc, nhưng những họp bàn, nghị quyết và công việc ở trong nước đều diễn ra như những gì Bác đã lường định. Nghe giọng nói ngắn gọn và dứt khoát của Bác, Cáp giơ tay chào Bác đúng kiểu chào của sĩ quan liên lạc, rồi quay gót vào bến. Anh đi thẳng tới chỗ đại biểu trung ương, nói gì đó với mấy người đang đứng, rồi đi thẳng ra cổng cảng đông nghịt những người là người.
Khi Cáp vừa bước chân xuống khỏi đầu cầu, thì một đoàn ba người cũng bước chân lên cầu dẫn vào tàu. Đi đầu là Thứ trưởng Bộ Nội vụ Hoàng Hữu Nam, rồi Chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hải Phòng, bác sĩ Nguyễn Xuân Nguyên, đến chỉ huy trưởng quân đội Pháp ở Hải Phòng, đại tá Đép-bơ. Thư ký của Bác, đại tá Vũ Đình Huỳnh và hạm trưởng Ô-nây đón đoàn ở ngay đầu cầu tàu, rồi dẫn vào khoang dành riêng cho Hồ Chủ tịch. Bác tiếp ba người trên bến xuống ngay tại bàn khách trong khoang tàu. Nghi lễ gọn nhẹ và giản dị. Sau cái bắt tay và những lời giới thiệu, Hồ Chủ tịch chủ động hỏi Hoàng Hữu Nam:
- Chắc là đoàn xuống để thống nhất chương trình. Vậy thì chú Nam hay chú Nguyên nói trước thì nói đi. Ngắn gọn thôi, rồi lên, kẻo trên bến mọi người đang chờ.
Thứ trưởng Bộ Nội vụ Hoàng Hữu Nam báo cáo ngắn gọn với Hồ Chủ tịch về nghi lễ đón tiếp diễn ra ngay trên Bến Ngự, chỉ lát nữa thôi. Bác nghe chăm chú, khi thấy có nhiều nghi thức, nào là chào cờ, duyệt binh, lại còn tặng hoa, chào hỏi, đã từ tàu lên bến rồi lại xuống tàu, Bác bảo: “Đơn giản thôi, đừng để mọi người đứng ngoài bến cảng thế kia mãi”. Hồ Chủ tịch vừa dứt lời, hạm trưởng Ô-nây trang trọng đứng nghiêm, đưa tay lên mũ chào tiễn biệt. Hồ Chủ tịch chào đáp lễ trung tá, hạm trưởng, và cũng là chào từ biệt sĩ quan, thủy thủ trên thông báo hạm Đuy-mông Đuyếc-vin sau 45 ngày đêm cùng Bác lênh đênh qua mấy đại dương. Đoạn, Bác quay sang nói với Hoàng Hữu Nam, Nguyễn Xuân Nguyên, Đép-bơ, và những người có mặt trong khoang tàu: “Nào, chúng ta lên bờ!”. Rồi Bác bước nhanh đi trước. Khi thấy Bác trong bộ ka-ki bạc trắng với dáng chủ động, nhanh nhẹn bước lên cầu tàu, lập tức mọi người trên bến như bỗng vỡ òa tiếng reo hò, tiếng vỗ tay và dậy vang tiếng hô: “Hồ Chủ tịch muôn năm!”, “Hồ Chủ tịch muôn năm!”... Cảng Bến Ngự như cuộn trào sóng vỗ, mà có lẽ từ ngày lập bến đến nay chưa bao giờ sôi động, nhộn nhịp trào dâng đến thế.
Khi Hồ Chủ tịch vừa bước chân lên bến, lễ đón tiếp lập tức được cử hành. Hai mươi mốt phát đại bác ầm vang trên bến cảng. Quốc thiều hai nước Việt Nam và Pháp vang lên. Sau lễ chào cờ, Hồ Chủ tịch cùng ban đón tiếp của thành phố và đại diện Chính phủ, Mặt trận Việt Minh Trung ương đi duyệt đội danh dự Quân đội quốc gia Việt Nam và quân đội Pháp. Đội danh dự Quân đội quốc gia Việt Nam trong quân phục giản dị màu xanh, đội mũ ca lô, súng cắm lưỡi lê, nghiêm trang chào đón Hồ Chủ tịch. Đội danh dự quân đội Pháp trong lễ phục màu trắng, lá cờ ba sọc cầm tay hạ ngang chào Hồ Chủ tịch. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, đội danh dự quân đội hai nước Việt Nam và Pháp cùng đứng trên một địa điểm, cùng nghe cử hành quốc thiều hai nước, cùng trang nghiêm đứng chào Vị nguyên thủ Quốc gia, lại là quốc gia mà mới cách đây một năm hai tháng còn bị đặt dưới cái gọi là “Liên hiệp Pháp”. Thật là một sự kiện có một không hai trong lịch sử, kể từ năm 1870, Pháp đặt chân chiếm Nam Kỳ, và năm 1872, Pháp mang quân ra chiếm Hải Phòng.
Sau nghi lễ, Hồ Chủ tịch đi chào và cảm ơn đại biểu đại diện các cơ quan Trung ương, các tỉnh, thành phố và đồng bào Hải Phòng không quản nắng gió, có người ở xa hàng ngày đường vẫn về Hải Phòng ăn đợi nằm chờ mấy ngày nay để được đón Bác Hồ. Hai cháu thiếu nhi áo trắng, quần xanh, ôm hoa đến tặng Bác Hồ kính yêu. Bác nhận hoa, ôm hôn các cháu. Rồi lại tiếp tục đi chào các đại biểu và nhân dân ra đón. Bác đi đến đâu, mọi người rưng rưng vẫy tay và hô vang khẩu hiệu chào đón Bác đến đấy. Hồ Chủ tịch nét mặt tươi cười, đưa tay chào mọi người mà lòng dạt dào xúc động. Nhất là khi chiếc xe ô tô con màu đen mang biển số V8 mở cửa, giây phút chia tay đã đến, Hồ Chủ tịch chỉ đưa tay lên vẫy vẫy tạm biệt mọi người, Bác và những người ra đón đều rưng rưng xúc động, không cất lên lời...g
-------------------------------
(Trích Phần 8, tiểu thuyết “Hai ngày và mãi mãi” của nhà văn Cao Năm, NXB Hội Nhà văn năm 2014)