Phân biệt tranh chấp đất đai với tranh chấp dân sự liên quan đến đất đai
.jpg)
Ảnh minh họa
Về vấn đề này, luật gia Phạm Văn Tuấn cho biết, theo quy định của pháp luật dân sự, pháp luật đất đai hiện hành, có hai loại tranh chấp là tranh chấp đất đai và tranh chấp dân sự liên quan đến đất đai. Mỗi loại tranh chấp được cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo trình tự khác nhau. Trên thực tế, một số cơ quan, đơn vị, cán bộ khi tiếp nhận đơn thư của công dân chưa phân biệt rõ 2 loại tranh chấp trên, nên không thống nhất trong tiếp nhận đơn khiếu nại, dẫn đến kéo dài quá trình giải quyết, phát sinh đơn thư phức tạp kéo dài.
Khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Theo đó, tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất với toàn bộ thửa đất hoặc một phần thửa đất, bao gồm cả tranh chấp ranh giới giữa các thửa đất liền kề. Khi phát sinh tranh chấp đất đai, như một bên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), còn một bên đang trực tiếp sử dụng một phần hoặc toàn bộ đất mà bên kia được GCNQSDĐ, tranh chấp về ranh giới đất liền kề, chủ đất cũ đòi lại đất cho thuê, cho mượn trước đó; cấp trùng GCNQSDĐ về một phần hoặc toàn bộ thửa đất cho 2 người hoặc hộ gia đình, theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai, nếu các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Nếu UBND cấp xã hòa giải không thành trong trường hợp một bên có GCNQSDĐ hoặc có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì khởi kiện tại Tòa án. Trong trường hợp các bên không có GCNQSDĐ hoặc không có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì có thể đề nghị giải quyết tranh chấp tại UBND cấp huyện hoặc khởi kiện tại Tòa án nơi có đất. Theo Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán thì đối với tranh chấp kể trên mà chưa được hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện tại Tòa án. Như vậy, yêu cầu bắt buộc các bên có tranh chấp đất đai phải hòa giải không thành ở UBND cấp xã mới được khởi kiện đến cơ quan Tòa án.
Còn những tranh chấp dân sự liên quan đến đất đai, như tranh chấp di sản thừa kế là đất đai, tài sản chung là quyền sử dụng đất, tranh chấp về chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất, tranh chấp về di sản thừa kế là quyền sử dụng đất, tranh chấp tài sản chung là quyền sử dụng đất giữa vợ và chồng khi ly hôn. Những loại tranh chấp này được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, chỉ khuyến khích các bên hòa giải tranh chấp với nhau, không là điều kiện bắt buộc khi khởi kiện đến cơ quan Tòa án có thẩm quyền hoặc giải quyết theo điều khoản quy định tại hợp đồng.
Thực tế trên đặt ra yêu cầu trong thời gian tới cần hoàn thiện và nâng cao kỹ năng giải quyết hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã, trong đó, tăng cường tập huấn về công tác hòa giải về tranh chấp đất đai, đồng thời đẩy mạnh phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai và nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân thông qua tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, thông qua các hội nghị, qua công tác hòa giải ở cơ sở, qua tủ sách pháp luật, mạng xã hội v.v… UBND cấp xã và Tòa án nhân dân các quận, huyện cần niêm yết tại bộ phận tiếp công dân của cơ quan về trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai và tranh chấp dân sự liên quan đến đất đai. Qua đó, để người dân nâng cao trình độ pháp luật, thực hiện việc khiếu kiện về đất đai đúng quy định, đồng thời nâng cao trách nhiệm cán bộ thực thi công vụ, minh bạch công tác giải quyết tranh chấp đất đai và tranh chấp dân sự liên quan đến đất đai, góp phần phòng ngừa tiêu cực.