Ngày làm việc thứ 6, kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa 14: Nâng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách gắn với tính chuyên nghiệp
Đổi mới mạnh mẽ thủ tục hành chính về bảo vệ môi trường

Quang cảnh Quốc hội phiên họp sáng 26-5.
Trong phiên làm việc sáng 26-5, Quốc hội nghe Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà trình bày Tờ trình về dự án Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi).
Theo Bộ trưởng Trần Hồng Hà, dự thảo luật cải cách mạnh mẽ, cắt giảm trên 40% số thủ tục hành chính, giảm thời gian thực hiện các thủ tục hành chính từ 20-75 ngày, thu hẹp khoảng 20% số đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường; tích hợp các thủ tục hành chính vào giấy phép môi trường; không duy trì chế độ quan trắc môi trường định kỳ đối với doanh nghiệp tuân thủ tốt pháp luật về bảo vệ môi trường.
Trình bày báo cáo thẩm tra dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi), Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Phan Xuân Dũng đánh giá, hồ sơ dự án luật được chuẩn bị công phu, đầy đủ và đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến.
Nâng tỷ lệ đại biểu chuyên trách lên ít nhất 40%
Quốc hội thảo luận trực tuyến về dự án Luật Tổ chức Quốc hội (sửa đổi).
Qua thảo luận, phần đông ý kiến đồng tình nâng tỷ lệ tối thiểu đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách là 40%. Các đại biểu cho rằng việc này giúp các hoạt động của Quốc hội chuyên nghiệp và hiệu quả cao hơn.
Đại biểu Dương Xuân Hòa (Đoàn Lạng Sơn) đề nghị dự thảo luật có cơ chế dành ít nhất 5% cơ cấu đại biểu hoạt động chuyên trách là chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý… hội tụ đủ các điều kiện sức khỏe, kinh nghiệm, năng lực công tác và uy tín tham gia đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách mà không giữ các chức vụ lãnh đạo hoặc quản lý trong các cơ quan của Quốc hội.
Đại biểu Phạm Văn Hòa (Đoàn Đồng Tháp) cho rằng, việc quy định Quốc hội có ít nhất 40% số đại biểu hoạt động chuyên trách sẽ tăng cường tính chuyên nghiệp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động Quốc hội. Đại biểu đề nghị: cơ quan liên quan nghiên cứu giảm đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm công tác ở cơ quan hành pháp, công an, quân sự để tăng đại biểu chuyên trách ở trung ương, địa phương; có tỷ lệ hợp lý, tối đa 5% số đại biểu Quốc hội là các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý sắp đến tuổi nghỉ hưu nhưng còn sức khỏe, năng lực, tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội chuyên trách mà không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
Trong khi đó, đại biểu Nguyễn Thanh Thủy (Đoàn Hậu Giang) cho rằng, còn không ít đại biểu Quốc hội trong suốt nhiệm kỳ ngại phát biểu tại hội trường và tại tổ. Một số đại biểu phát biểu chưa đúng trọng tâm, chưa đúng tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, chưa đúng tầm của đại biểu Quốc hội. Do đó, việc chọn đại biểu Quốc hội phải thể hiện ý chí, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, là người có đủ tâm, đủ tầm để tham gia hoạt động của Quốc hội.
Về địa vị pháp lý của Đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu: Hoàng Đức Thắng (Đoàn Quảng Trị), Thạch Phước Bình (Đoàn Trà Vinh), Bùi Văn Phương (Đoàn Ninh Bình) nêu thực tế, do luật chưa quy định cụ thể nên hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội hiện chưa rõ nét, thậm chí lúng túng trong hoạt động, điều hành. Do đó, các đại biểu đề nghị dự thảo luật bổ sung rõ quy định, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu bên trong, mối quan hệ công tác với các cơ quan của Quốc hội và địa phương.
Công bố Danh mục hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài
Chiều 26-5, Quốc hội thảo luận dự án Luật Đầu tư (sửa đổi). Báo cáo về dự án Luật Đầu tư (sửa đổi), Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh cho biết, dự thảo luật nêu rõ phạm vi điều chỉnh cũng như nguyên tắc áp dụng của Luật Đầu tư và các luật liên quan ( Luật Xây dựng, Luật Đầu tư công, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, dự thảo Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư). Dự thảo Luật Đầu tư (sửa đổi), bổ sung 10 nhóm quy định cụ thể để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành.
Phát biểu thảo luận về Luật Đầu tư (sửa đổi), đại biểu Mai Hồng Hải (Đoàn Hải Phòng) có ý kiến về về việc có hay không cấm ngành nghề kinh doanh đòi nợ. Theo đại biểu, hoạt động dân sự, kinh doanh sẽ phát sinh nợ nần, thậm chí rủi ro nợ quá hạn, khó đòi, không đòi được. Bên cạnh dịch vụ đòi nợ, pháp luật quy định nhiều cách thức xử lý nợ khác như: trọng tài kinh tế; xét xử tại tòa; hòa giải đối thoại tại tòa; lập dự phòng mua, bán nợ…,nhưng thực tế các hình thức này mất nhiều thời gian, hiệu quả không cao, kể cả khi bản án có hiệu lực, việc đôn đốc thi hành án vẫn gặp khó khăn. Việc không xử lý được nợ không chỉ ảnh hưởng đến quyền tài sản của chủ nợ mà còn dẫn đến hệ lụy pháp lý phức tạp. Do đó, nhiều cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp tìm đến dịch vụ đòi nợ vì tính tiện dụng và hiệu quả. Trong khi đó, Chính phủ quy định về kinh doanh đòi nợ rất sớm và chặt chẽ tại Nghị định 104/2007/NĐ-CP. Nếu hoạt động theo đúng quy định tại Nghị định 104 sẽ không có hệ lụy phức tạp dẫn đến phải đặt ra vấn đề cấm; nhưng thực tế hoạt động kinh doanh đòi nợ bị lạm dụng, biến tướng, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, thậm chí có màu sắc “xã hội đen”. Vì thế, đại biểu Mai Hồng Hải cho rằng: Luật Đầu tư (sửa đổi) không nên cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ. Tuy nhiên, cơ quan soạn thảo cần chú ý 2 vấn đề: thứ nhất, rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định để phát huy hiệu lực của các biện pháp xử lý nợ khác. Cụ thể, cần có quy trình xét xử về nợ rút gọn tương tự như quy trình xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng theo Nghị quyết 42/2017 của Quốc hội; tăng cường hiệu lực tổ chức thi hành án; sửa đổi, bổ sung Thông tư 228/2009 của Bộ Tài chính về điều kiện xử lý nợ khó đòi; sớm hướng dẫn thi hành Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa (sau khi được thông qua). Thứ hai, tăng cường và bảo đảm hiệu lực quản lý đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh đòi nợ bằng việc sửa đổi Nghị định 104/2007 về kinh doanh đòi nợ. Trong đó, bổ sung điều kiện khoản nợ được thuê đòi phải quá hạn một thời gian nhất định và đã áp dụng một số biện pháp nhưng hiệu quả thấp. Đồng thời, có cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh đòi nợ; xem xét đổi “kinh doanh dịch vụ đòi nợ” thành ngành nghề “kinh doanh thu hồi nợ”. |
Liên quan đến việc cấm đầu tư kinh doanh dịch vụ đòi nợ, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trình 2 phương án để Quốc hội xem xét, quyết định. Theo phương án 1, giữ quy định như dự thảo luật trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 8, theo đó cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ. Vì thời gian qua, mặc dù có quy định về hoạt động kinh doanh dịch vụ đòi nợ nhưng nhiều doanh nghiệp, cá nhân lợi dụng, biến tướng thành các băng nhóm tội phạm nhằm cưỡng đoạt tài sản, gây áp lực đối với con nợ, cho vay nặng lãi, hoạt động tín dụng đen, gây mất trật tự, an toàn xã hội, dẫn tới nhiều hệ quả xấu đối với xã hội.
Phương án 2, không quy định cấm “kinh doanh dịch vụ đòi nợ” tại điểm h khoản 1 Điều 6 mà quy định tại Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện như Luật Đầu tư hiện hành. Vì việc thuê đơn vị trung gian đứng ra thu hồi nợ xuất phát từ nhu cầu thực tế của cuộc sống, đáp ứng nhu cầu của khách hàng khi các công ty kinh doanh dịch vụ đòi nợ sử dụng các công cụ, biện pháp đạt kết quả, phù hợp các quy định của pháp luật. Để hạn chế tiêu cực phát sinh, đề nghị bổ sung quy định điều kiện chặt chẽ đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ để bảo đảm quản lý nhà nước đối với loại hình kinh doanh này.
Về việc bổ sung một số ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp thu, bổ sung quy định cấm đầu tư kinh doanh “bào thai” để phản ánh đầy đủ nội dung cấm của ngành, nghề “Mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người” tại điểm đ khoản 1 Điều 6 dự thảo luật.
Sau khi nghe ý kiến thảo luận của các đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng giải trình một số nội dung liên quan đến dự thảo Luật Đầu tư (sửa đổi)
Hôm 27-5, Quốc hội nghe, thảo luận về báo cáo việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em./.