Quy hoạch khu công nghiệp, cụm công nghiệp đến năm 2050: Phát triển thêm 9 khu công nghiệp mới
Trong đó, có 5 khu vực chính, gồm: khu vực công nghiệp Đình Vũ - Cát Hải (gắn với cảng biển thuộc Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải): giữ lại KCN Đình Vũ, Nam Đình Vũ, Nam Tràng Cát, Lạch Huyện; bổ sung thêm các KCN: đảo Cái Tráp, Lạch Huyện mở rộng. Khu vực này ưu tiên phát triển các loại hình công nghiệp điện tử, điện gia dụng, cơ khí chế tạo, công nghiệp phụ trợ vận tải biển, công nghệ… Khu vực công nghiệp phía Bắc: giữ lại KCN Thuỷ Nguyên - VSIP, cụm công nghiệp Bến Rừng, Minh Đức - Tràng Kênh; bổ sung thêm KCN Nam sông Giá, Bến Rừng 2; bỏ các CCN Gia Minh, Gia Đức. Khu vực này khuyến khích áp dụng công nghệ sạch đối với CCN cũ, phát triển công nghiệp đa ngành ứng dụng công nghệ cao… Khu vực công nghiệp phía Tây (dọc quốc lộ 10): giữ lại KCN Nam Cầu Kiền, Nomura, An Hưng - Đại Bản, An Dương, Tràng Duệ, Cầu Cựu; bổ sung thêm KCN Tràng Duệ giai đoạn 3 để ưu tiên phát triển loại hình công nghiệp cơ khí chế tạo các sản phẩm cơ khí phục vụ các ngành kinh tế mũi nhọn, cơ khí chính xác, sản xuất linh kiện, phụ tùng máy cơ khí có ứng dụng công nghệ kỹ thuật cao… Khu vực công nghiệp phía Tây Nam (chung quanh thị trấn Vĩnh Bảo), giữ lại KCN An Hòa, Giang Biên 2, các CCN Dũng Tiến, Tiên Thanh, Vinh Quang - Vĩnh Bảo; bổ sung thêm KCN thị trấn Vĩnh Bảo để ưu tiên phát triển công nghiệp đa ngành hỗ trợ các ngành công nghiệp mũi nhọn, chế biến ứng dụng công nghệ cao... Khu vực công nghiệp phía Đông Nam (dọc sông Văn Úc và tuyến cao tốc ven biển): giữ lại KCN Vinh Quang, Sao Mai - Tiên Lãng, Ngũ Phúc - Kiến Thuỵ, các CCN Tiên Lãng, Tân Trào, Chiến Thắng, An Thọ; bổ sung thêm KCN: Tam Cường-Vĩnh Bảo, công nghiệp sân bay Tiên Lãng để ưu tiên phát triển công nghiệp đa ngành, cơ khí chế tạo các sản phẩm cơ khí siêu trường, siêu trọng, tàu thuỷ, công nghiệp hỗ trợ ngành hàng không, vật liệu mới, IT, công nghệ sinh học... Theo KTS. Phạm Thị Nhâm, Phó viện trưởng Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn quốc gia- đơn vị tư vấn xây dựng quy hoạch, việc định hướng phân bổ không gian công nghiệp trên được xác định trên cơ sở phân tích hiện trạng, xu hướng phát triển và định hướng phát triển thành phố theo Nghị quyết 45 của Bộ Chính trị và Chương trình hành động số 76 của Ban Thường vụ Thành ủy. Đồng thời phù hợp với chiến lược phát triển công nghiệp toàn quốc; quy hoạch phát triển công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ. Một điểm nhấn trong chiến lược phát triển trên là Hải Phòng sẽ là cửa ngõ tiếp nhận công nghệ mới, đồng thời là nơi những công nghệ “made in Vietnam” được hình thành và xuất khẩu ra thế giới. Công nghiệp Hải Phòng trong tương lai ưu tiên lựa chọn các ngành công nghiệp có giá trị tăng cao dựa vào tiềm năng cảng nước Lạch Huyện, sân bay mới Tiên Lãng, trung tâm động lực mới và các ngành công nghiệp hiện hữu. Bên cạnh đó, thúc đẩy công nghiệp công nghệ thông tin trở thành ngành kinh tế mũi nhọn… Trong khi đó, thực tế hiện nay, dù giá trị sản xuất và chỉ số công nghiệp của thành phố liên tục tăng, nhưng không có nhiều lợi thế cạnh tranh về công nghiệp đa ngành cần nhiều lao động so với các tỉnh khác như: Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc…
Phân bố các KCN, CCN phân tán, gây khó khăn cho công tác quản lý kiểm soát ô nhiễm môi trường từ công nghiệp đến đô thị; giao thông kết nối vận tải hàng hóa hiện đang xung đột với giao thông đô thị… Định hướng phát triển trên khắc phục được những bất cập trong phát triển KCN, CCN hiện nay. Đồng thời, hình vành đai công nghiệp dọc quốc lộ 10, sông Bạch Đằng, sông Văn Úc trên địa bàn các huyện: Thuỷ Nguyên, An Dương, An Lão, Kiến Thuỵ, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, bảo đảm nguyên tắc phân bố việc làm cho các địa phương, tính liên kết vùng, phát triển bền vững và bảo đảm môi trường; phát huy được lợi thế hệ thống hạ tầng giao thông như cảng cửa ngõ quốc tế đường biển, cảng hàng không quốc tế, đường cao tốc…; huy động hiệu quả mọi nguồn lực các thành phần kinh tế, thế mạnh của thành phố; gắn kết sản xuất với phát triển dịch vụ công nghiệp… Qua đó, từng bước hiện thực hóa mục tiêu trước năm 2025, thành phố Hải Phòng phát triển công nghiệp xanh dựa trên nền tảng kinh tế tri thức, có trình độ khoa học công nghệ và nguồn nhân lực có trình độ cao, lựa chọn các ngành công nghiệp sạch. Đến năm 2035, phát triển công nghiệp gắn với khoa học công nghệ, các trung tâm nghiên cứu, thiết kế chế tạo thử nghiệm sản phẩm mới và văn phòng của các tập đoàn sản xuất lớn.