Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa 14: Xem xét quy trình thẩm định sách giáo khoa
(HPĐT)- Ngày 4-11, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa 14 thảo luận tại hội trường về tình hình kinh tế - xã hội năm 2020, kế hoạch năm 2021; mục tiêu chủ yếu và một số nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2025; chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác để thực hiện Dự án hồ chứa nước sông Than, Bản Mồng.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu. Ảnh: TTXVN
Boăn khoăn chỉ tiêu phát triển kinh tế- xã hội năm 2021
Tại phiên thảo luận, một số đại biểu Quốc hội thể hiện sự băn khoăn về tính khả thi của các chỉ tiêu phát triển kinh tế- xã hội năm 2021 trong bối cảnh đại dịch COVID-19 vẫn diễn biến phức tạp và hậu quả nặng nề do thiên tai gây ra ở các tỉnh miền Trung.
Đại biểu Trần Văn Tiến (Đoàn Vĩnh Phúc) cho rằng, mục tiêu tăng trưởng GDP 6% của năm 2021 là cao và đề nghị xem xét lại chỉ tiêu này cho hợp lý. Cũng theo đại biểu Trần Văn Tiến, chỉ tiêu về quy mô GDP thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 3.700 USD là quá cao vì năm 2020 mới đạt 2.750 USD.
Trong khi đó, đại biểu Nguyễn Thị Yến ( Đoàn Bà Rịa - Vũng Tàu) kiến nghị Quốc hội, Chính phủ có các kịch bản, phương án, giải pháp cụ thể để giảm thiểu thiệt hại từ đại dịch COVID-19 trong điều kiện bình thường mới; tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối kinh tế, cũng như việc khắc phục bão, lũ, sạt lở ở miền Trung.
Bày tỏ lo lắng về thiệt hại do thiên tai, bão lũ thời gian qua tại miền Trung, các đại biểu Phạm Thị Thu Trang (Đoàn Quảng Ngãi), Đỗ Thị Phương Linh (Đoàn Bình Thuận) cho rằng, việc phòng, chống biến đổi khí hậu có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế và ổn định an sinh xã hội. Các đại biểu đề nghị Chính phủ cần phân tích, đánh giá và công bố những nguyên nhân khách quan, chủ quan về biến đổi khí hậu, thiên tai để làm căn cứ xây dựng, hoạch định các chính sách phát triển kinh tế- xã hội.
Trong khi đó, đại biểu Vũ Thị Nguyệt (Đoàn Hưng Yên) nêu thực trạng, ô nhiễm nước thải sinh hoạt tại các dòng sông hiện trở thành nỗi ám ảnh của người dân nhiều khu vực nông thôn, trong đó chủ yếu xuất phát từ nước thải sinh hoạt và nước thải chăn nuôi. Đại biểu kiến nghị chính quyền địa phương cần quyết liệt hơn trong công tác di dời các cơ sở chăn nuôi ra khỏi khu dân cư.
Việc quản lý sách giáo khoa và tài liệu tham khảo còn nhiều bất cập
Tại phiên thảo luận, nhiều đại biểu Quốc hội bày tỏ lo lắng trước những sai sót trong sách giáo khoa lớp 1, gây bức xúc trong dư luận và cử tri cả nước.
Đại biểu Nguyễn Thanh Hải (Đoàn Tiền Giang) cho rằng, ngay giai đoạn đầu của lộ trình thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới đã vấp phải nhiều ý kiến trái chiều từ dư luận xã hội. Nguyên nhân sâu xa của vấn đề này phải chăng từ việc quá vội vàng trong khâu thẩm định nội dung sách giáo khoa của Hội đồng thẩm định; thiếu kiểm tra, giám sát của chính cơ quan chủ quản giáo dục trong thực hiện thẩm định hay trong sự quyết định lựa chọn sách giáo khoa của các địa phương.
Đại biểu Phạm Thị Minh Hiền (Đoàn Phú Yên) mong Chính phủ làm rõ trách nhiệm, xử lý nghiêm minh từng khâu, từng bộ phận, xem xét bổ sung, thay đổi, điều chỉnh việc tổ chức Hội đồng Thẩm định sách giáo khoa chứ không chỉ dừng lại ở việc rút kinh nghiệm.
Cùng vấn đề trên, đại biểu Quách Thế Tản (Đoàn Hòa Bình) cho biết, việc quản lý sách giáo khoa và tài liệu tham khảo còn bất cập, nhất là một số nội dung chưa phù hợp trong sách giáo khoa môn tiếng Việt lớp 1, thuộc bộ sách Cánh Diều bị dư luận phê phán. Mặc dù Bộ Giáo dục và Đào tạo có những chỉ đạo, giải pháp kịp thời, song cần rút kinh nghiệm việc này- đại biểu Tản đề nghị…
Trước các ý kiến của đại biểu Quốc hội về bộ sách giáo khoa lớp 1, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu, nhấn mạnh: Trong Luật Giáo dục (sửa đổi), điều 32 khoản 3 quy định rất rõ, trách nhiệm trực tiếp của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Theo đó, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm về sách giáo khoa ở các khâu.
Xây dựng nông thôn mới gắn với giảm nghèo bền vững
Nhận định công tác xây dựng nông thôn mới đạt được những kết quả tích cực, tuy nhiên, đại biểu Ma Thị Thúy (Đoàn Tuyên Quang) và đại biểu Trần Văn Mão (Đoàn Nghệ An) cho rằng, nhiều địa phương còn gặp khó khăn, nhất là khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số…
“Kết quả xây dựng nông thôn mới ở các khu vực này còn khoảng cách khá lớn so với các vùng miền khác”, đại biểu Ma Thị Thúy nhấn mạnh. Phân tích nguyên nhân, đại biểu cho rằng, mặc dù các địa phương có nhu cầu lớn về xây dựng nông thôn mới, tuy nhiên khả năng huy động nguồn lực còn hạn chế, bên cạnh những ảnh hưởng về thiên tai. Do đó, đại biểu đề nghị Quốc hội, Chính phủ phân bổ ngân sách trung ương giai đoạn 2021- 2025 cần tính đến các nấc thang hệ số phân bổ vốn, trong đó ưu tiên hỗ trợ vốn cao hơn cho các địa phương còn gặp nhiều khó khăn.
Theo đại biểu Đinh Công Sỹ (Đoàn Sơn La), việc giải quyết đất ở, đất sản xuất cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ chính trị quan trọng, tác động đa chiều về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh. “Trong thời gian tới, với những vùng còn thiếu quỹ đất cần tiếp cận theo hướng nâng cao giá trị sử dụng đất và chuyển đổi nghề cho đồng bào một cách thực chất hơn”, đại biểu Đinh Công Sỹ bày tỏ.
Về công tác giảm nghèo, đại biểu Thạch Phước Bình (Đoàn Trà Vinh) cho rằng, kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, tỷ lệ tái nghèo và tỷ lệ hộ nghèo phát sinh tương đối lớn. Mặt khác, việc hỗ trợ hộ nghèo hiện nay chủ yếu theo phương thức cũ đã tạo “sức ỳ”, không phát huy được sự chủ động tham gia của người nghèo. Từ đó, đại biểu Thạch Phước Bình đề nghị sửa đổi các chính sách giảm nghèo theo 3 nhóm chính sách: Hỗ trợ phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập; hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và phát triển hạ tầng tại các vùng còn khó khăn.
Bảo đảm lượng nước xả không quá lượng nước về hồ chứa
Trong phiên làm việc chiều, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh phát biểu giải trình về việc xây dựng, vận hành các công trình thuỷ điện- vấn đề đang được nhiều đại biểu, cử tri và nhân dân quan tâm.
Bày tỏ chia sẻ về những mất mát, thiệt hại do bão lũ thiên tai ở miền Trung vừa qua, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh cho biết, hiện cả nước có 429 thuỷ điện, chiếm 36,7% tổng công suất phát điện, là nguồn năng lượng tái tạo quan trọng, ít gây ô nhiễm, gần như không phát thải. Tuy nhiên, thuỷ điện có cả mặt tích cực và hạn chế. Đặc biệt, với tổng dung tích 56 tỷ m3, chiếm 86% tổng dung tích hồ chứa nước trên địa bàn cả nước, việc quản lý, vận hành các hồ chứa thuỷ điện có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tích nước và tuỳ công suất có thể cắt lũ và phục vụ nhu cầu khác. Mặt khác, việc xây dựng các thuỷ điện có thể tác động đến dòng chảy, kết cấu địa chất, nguồn lợi thuỷ sản và trước đây cũng có liên quan đến tình trạng mất rừng tự nhiên, ảnh hưởng đến chức năng của rừng trong phòng, chống lũ bão. Tuy nhiên, thực hiện các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, từ năm 2016 đến nay, cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện nghiêm túc, tuyệt đối không phê duyệt các dự án thuỷ điện nhỏ nào có sử dụng đất rừng tự nhiên.
Hiện có đầy đủ quy định quản lý Nhà nước trong bảo đảm công tác an toàn hồ đập thủy điện cũng như vận hành công trình hồ thủy điện cả liên hồ, đơn hồ, trong đó, quy định trách nhiệm rất rõ của các bộ ngành, địa phương. Theo Bộ trưởng Trần Tuấn Anh, Bộ giám sát chặt chẽ quy trình vận hành của thuỷ điện, bảo đảm lượng nước xả không quá lượng nước về hồ. Bản đồ ngập lụt của vùng hạ du là căn cứ quan trọng để chủ dự án thuỷ điện thực hiện quy trình vận hành hồ.
Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho biết: “Những ảnh hưởng môi trường trong hoạt động kinh tế- xã hội, dân sinh của các dự án thuỷ điện sẽ tiếp tục được Bộ đánh giá kỹ lưỡng hơn. Bộ sẽ làm việc với địa phương để tham mưu siết chặt quản lý thuỷ điện”- Bộ trưởng cam kết.
Hôm nay, Quốc hội làm việc tại hội trường, tiếp tục thảo luận về các vấn đề kinh tế- xã hội.