Thầy tôi
(HPĐT)- Bước vào lứa U70, vậy mà mỗi lần nhớ về những người thầy đã dạy chúng tôi nên người bỗng dưng thấy mình trẻ lại khi gặp lại các thầy, cô.

(Hình minh họa) (Nguồn: https://vanchuongphuongnam.vn/)
Dạo học lớp 1 đến lớp 3 ở Trường tiểu học Nguyễn Tri Phương, cô giáo Nguyễn Thị Hiền, người xứ Huế có giọng nói ấm áp và hết mực thương yêu học trò. Hết giờ học, cô thường rủ học trò về nhà cô trên đường ra bến Bính. Nhà cô có cây đại, tán xòe rộng trùm gần kín sân nhà. Vào mùa ra hoa, sắc hoa phơn phớt vàng tỏa mùi hương thơm mát. Cô kể chuyện thành Huế, dạy học trò phát âm không lẫn âm tiết “n” với “l”. Cô vẫn thường chăm sóc trò bị cảm, cưng nựng trò bị các bạn bông đùa.
Khi máy bay giặc Mỹ ném bom miền Bắc, về quê học cấp 2, được học Toán thầy Liêm, học Văn thầy Trạch, học Vật lý cô Thu. Các thầy, cô thương trò nhưng rèn trò phải chăm ngoan, học giỏi. Thầy Liêm gay gắt nhưng không đánh khi trò làm sai bài tập hình học không gian. Thầy Trạch mang câu viết không rành rẽ của trò ra hỏi cả lớp giải thích. Rồi thầy sửa câu, chỉnh chữ và khuyên trò ngữ nghĩa trong hành văn và ứng xử ở đời. Thầy triết tự ý nghĩa câu “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, dạy trò trọng lễ nghĩa. Cô Thu nhắc trò phải rành rẽ định nghĩa khi làm bài vật lý…
Không phải đi sơ tán, được về học lớp 10 ở Trường cấp 3 Ngô Quyền (ngày ấy, năm 1970, trường ở Quán Sỏi). Nghe danh trường hồi thuộc Pháp mang tên Bonnal, rồi sau là Bình Chuẩn và Ngô Quyền, nhủ lòng cố học cho xứng là trò của trường có danh thơm tiếng nổi. Được học văn thầy Hà Thúc Chỉ, người thầy xứ Huế nổi tiếng với bài thơ “Chờ con má nhé” được giải nhất về thơ tại Liên hoan Sinh viên thế giới ở Vacsava (Thủ đô Tiệp Khắc) năm 1959. Thầy truyền thụ văn chương khiến trò mê mẩn bởi sự “nhập đồng” của thầy vào từng ý, từng chữ trong câu văn, lời thơ của những người danh tiếng sống ở nhiều quốc gia đan quyện vào nhau bày tỏ lý lẽ nhân văn làm người. Học trò được học thầy không bao giờ quên giọng nói truyền cảm, gương mặt lúc đăm chiêu tư lự, lúc thảng thốt rạng ngời theo cung bậc biểu cảm khi diễn đạt một đoạn văn, một khổ thơ. Văn và thơ qua tâm thức của thầy khiến lũ học trò lúc se sắt, khi rơi lệ để được hòa đồng cảm xúc với thầy.
Còn nhớ, năm 1990, thầy muốn xuất bản tập thơ đầu tay, mình và nhà thơ Phạm Ngà khi ấy là Phó giám đốc Nhà xuất bản Hải Phòng lo để tập “Mưa biển” của thầy đến với công chúng. Tôi bàn với các bạn cùng khóa là học trò của thầy mang tập thơ “Mưa biển” tới dự 70 năm Ngày thành lập Trường Bonnal- Bình Chuẩn- Ngô Quyền (15-10-1920 - 15.10.1990). Nhớ khi tôi được học ngôn ngữ do thầy Nguyễn Chi Niên cũng là người xứ Huế dạy ở lớp báo chí, tôi mời thầy Hà Thúc Chỉ. Thầy Nguyễn Chi Niên cùng nhà thơ Phạm Ngà về nhà tôi ăn bữa cơm. Hai thầy rưng rưng nước mắt cảm động vì nghe tiếng nhau đã lâu, nay mới có dịp gặp nhau. Hai thầy kể cho nhau về xứ Huế, trò chuyện với chúng tôi về nỗi nhớ quê.
Nói tới thầy Hà Thúc Chỉ, càng không thể không nhắc tới thầy Nguyễn Hữu Giăng dạy Vật lý và thầy chủ nhiệm của chúng tôi năm ấy. Thầy chủ nhiệm là giáo viên dạy môn Hóa nổi tiếng ở đất Cảng. Sau 47 năm, học trò chúng tôi ngày ấy vẫn tự hỏi nhau về thầy chủ nhiệm.
Đến giờ, sau 50 năm rời Trường Ngô Quyền, tình nghĩa thầy trò chúng tôi năm ấy vẫn tươi mới như năm học 1970-1971./.