Bộ luật Lao động 2019: Lao động nữ thêm quyền lợi
(HPĐT)- Bộ luật Lao động năm 2019 có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2021 có nhiều điểm mới liên quan đến lao động nữ, được quy định cụ thể tại Chương 10 “Những quy định riêng đối với lao động nữ và bảo đảm bình đẳng giới”. Vậy lao động nữ sẽ được hưởng những quyền lợi gì? Đồng chí ĐÀO THỊ HUYỀN, Phó chủ tịch LĐLĐ thành phố trao đổi với phóng viên Báo Hải Phòng chung quanh nội dung này...
_900x600.jpg)
Nữ công nhân Công ty TNHH Đỉnh Vàng trong ca sản xuất.
- Lao động nữ sẽ được hưởng thêm những quyền lợi gì khi Bộ luật Lao động 2019 chính thức có hiệu lực?
- Bộ luật Lao động 2019 bổ sung, hoàn thiện hơn các quy định về bảo vệ thai sản, bảo đảm và tạo điều kiện để người lao động nữ thực hiện quyền của mình; hạn chế tối đa các quy định cấm. Trong đó, trao quyền cho lao động nữ quyết định làm hoặc không làm các công việc có ảnh hưởng xấu đến chức năng sinh sản và nuôi con nhỏ. Quyền lợi này được quy định tại khoản 2 điều 137: Lao động nữ làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con khi mang thai và có thông báo cho người sử dụng lao động biết thì được người sử dụng lao động chuyển sang làm công việc nhẹ hơn, an toàn hơn hoặc giảm bớt 1 giờ làm việc hằng ngày mà không bị cắt giảm tiền lương và quyền, lợi ích cho đến hết thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Tại khoản 2 Điều 142: Người sử dụng lao động phải cung cấp đầy đủ thông tin về tính chất nguy hiểm, nguy cơ, yêu cầu của công việc để người lao động lựa chọn và phải bảo đảm điều kiện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động theo quy định khi sử dụng họ làm công việc thuộc danh mục quy định tại khoản 1 điều này.
Bộ luật mới cũng trao quyền cho lao động nữ quyết định có làm việc ban đêm, làm thêm giờ hay đi công tác xa khi đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Điều này được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 137: Người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa trong trường hợp đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp được người lao động đồng ý.
Còn tại khoản 4 Điều 139 quy định, lao động nữ đang nghỉ thai sản có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để đi làm trở lại khi thoả mãn 4 điều kiện gồm: đã nghỉ được ít nhất 4 tháng; có xác nhận cơ sở y tế về việc đi làm sớm không có hại đến sức khoẻ; báo trước cho người sử dụng lao động và được người sử dụng lao động đồng ý.
- Bên cạnh bảo vệ quyền lợi lao động nữ, Chương 10 Bộ luật Lao động 2019 bổ sung nội dung mới quan trọng “bảo đảm bình đẳng giới”. Đồng chí cho biết rõ hơn về công tác bảo đảm bình đẳng giới sẽ được thực thi như thế nào?
- Về quan điểm chỉ đạo, chính sách của Nhà nước, bảo đảm bình đẳng giới được quy định tại khoản 1 Điều 135: Bảo đảm quyền bình đẳng của lao động nữ, lao động nam, thực hiện các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới và phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Đối với trách nhiệm của người sử dụng lao động, khoản 1 Điều 136 nêu rõ: Bảo đảm thực hiện bình đẳng giới và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng, bố trí, sắp xếp việc làm, đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác. Bảo đảm bình đẳng giới cũng là một trong những nội dung bắt buộc phải có trong thương lượng tập thể, được quy định tại khoản 7 Điều 67: Nội dung thương lượng tập thể bảo đảm bình đẳng giới, bảo vệ thai sản, nghỉ hằng năm; phòng, chống bạo lực và quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Thời gian tới, Chính phủ sẽ ban hành các văn bản quy định hướng dẫn thực hiện chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động 2019 về chính sách đối với lao động nữ và bảo đảm bình đẳng giới. Khi đó, chúng ta sẽ có căn cứ, cơ sở pháp lý để xử phạt vi phạm quy định về lao động nữ, bình đẳng giới.
- Chưa đầy 1 tháng nữa, Bộ luật Lao động 2012 chính thức được thay thế bởi Bộ luật Lao động 2019. Đồng chí đánh giá việc triển khai thực hiện bộ luật này tại Hải Phòng như thế nào?
- Hiện, số đoàn viên lao động nữ LĐLĐ thành phố quản lý hơn 173 nghìn đoàn viên, chiếm 62% tổng số đoàn viên lao động toàn thành phố. Thời gian qua, việc triển khai thực hiện Bộ luật Lao động năm 2012 và Nghị định 85/2015/NĐ-CP ngày 1-10-2015 quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về chính sách đối với lao động nữ tại Hải Phòng mang lại nhiều kết quả khả quan. Lao động nữ có việc làm ổn định, điều kiện làm việc từng bước được cải thiện; các quy định về tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi xã hội được bảo đảm, thu nhập bình quân đạt khoảng 6,9 triệu đồng/người/tháng. Một số doanh nghiệp có hình thức hỗ trợ lao động nữ nuôi con nhỏ dưới 72 tháng tuổi bằng tiền mặt, sữa; hỗ trợ một phần chi phí gửi con nhà trẻ, mẫu giáo; tổ chức khám chuyên khoa sức khỏe sinh sản, không tổ chức làm đêm, làm thêm giờ, đi công tác xa đối với lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi…
Tuy nhiên, việc thực hiện một số điều khoản đối với lao động nữ có nơi, có lúc còn hạn chế, mang tính hình thức, khiến quyền lợi lao động nữ chưa được bảo đảm. Theo quy định tại khoản 2 Điều 152 Bộ luật Lao động 2012: Hằng năm, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động,... lao động nữ phải được khám chuyên khoa phụ sản...; khoản 3, 4 Điều 154 quy định người sử dụng lao động phải “Bảo đảm có đủ buồng tắm và buồng vệ sinh phù hợp tại nơi làm việc”, “Giúp đỡ, hỗ trợ xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo cho lao động nữ”. Trên thực tế, rất ít doanh nghiệp thực hiện xây buồng tắm, buồng vệ sinh phù hợp với lao động nữ hoặc có cũng rất ít; số lượng các doanh nghiệp có chính sách hỗ trợ lao động nữ nuôi con nhỏ không nhiều và mức hỗ trợ rất thấp; điều kiện môi trường làm việc chậm được cải thiện, chưa đạt chuẩn quy định, chế độ khám sức khỏe định kỳ, khám chuyên khoa phụ sản, nghỉ dưỡng sức còn hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻ, tinh thần lao động nữ về lâu dài.
- Để Bộ luật Lao động 2019 sắp tới thực sự đi vào cuộc sống, quyền lợi lao động nữ và bình đẳng giới được bảo đảm ở mức cao nhất, LĐLĐ thành phố có những giải pháp gì?
- Thời gian tới, LĐLĐ thành phố chỉ đạo các cấp Công đoàn thực hiện một số giải pháp gồm: đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong nữ CNVCLĐ về chính sách pháp luật liên quan đến lao động nữ, bình đẳng giới, trong đó có Bộ luật Lao động 2019; tổ chức các cuộc tuyên truyền, diễn đàn về các nội dung: chính sách lao động nữ, bình đẳng giới, công tác gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình; công tác dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản, lợi ích nuôi con bằng sữa mẹ...
Đồng thời, Công đoàn các cấp phối hợp các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ chính sách đối với lao động nữ, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nữ CNVCLĐ. Kịp thời nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nữ CNVCLĐ; đề xuất Công đoàn doanh nghiệp hướng dẫn lao động nữ ký hợp đồng lao động theo đúng quy định pháp luật; thương lượng nhiều điều khoản có lợi hơn so với quy định của pháp luật đối với lao động nữ; tổ chức khám sức khỏe cho lao động nữ có hoàn cảnh khó khăn. Vận động, tạo điều kiện để nữ CNVCLĐ tích cực học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, thi đua lao động sản xuất...
- Trân trọng cảm ơn đồng chí.