Phát huy công tác xây dựng, bảo hộ nhãn hiệu “đặc sản” nông nghiệp, làng nghề: Chú trọng quản lý, khai thác giá trị
(HPĐT)- Một trong những giải pháp để nâng cao sức cạnh tranh cho nông nghiệp, các sản phẩm làng nghề là xây dựng, đăng ký và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các loại sản phẩm này. Song, ngoài việc cấp văn bằng bảo hộ, còn đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của chính quyền địa phương, cơ sở sản xuất, hộ nông dân để khai thác, phát triển tài sản sở hữu trí tuệ này.

Đặc sản “trứng vịt Chấn Hưng” được thành phố hỗ trợ quản lý, khai thác nhãn hiệu, bước đầu nâng cao hiệu quả sản xuất.
Chưa phát huy hết giá trị “tài sản”
Theo Trưởng Phòng Quản lý chuyên ngành, Sở Khoa học và Công nghệ (KHCN) Nguyễn Mai Ngọc, thành phố hiện có 74 sản phẩm đặc sản, làng nghề được tư vấn, hỗ trợ bảo hộ, trong đó có 70 nhãn hiệu tập thể, 2 nhãn hiệu chứng nhận, 2 chỉ dẫn địa lý. Song, các sản phẩm được cấp văn bằng bảo hộ chủ yếu là nguyên liệu thô, sản phẩm chế biến chuyên sâu còn rất hạn chế. Hầu hết sản phẩm sau khi được bảo hộ chưa tận dụng được cơ hội và phát huy được vai trò của sở hữu trí tuệ (SHTT) của sản phẩm. Do đó, nhiều sản phẩm sau khi được cấp văn bằng bảo hộ vẫn chưa thể mở rộng thị trường tiêu thụ, thậm chí sa sút. Cụ thể thương hiệu cây dược liệu hồng hoa Cát Bà, tu hài Cát Bà mờ nhạt trên thị trường. Nhiều nhãn hiệu tập thể chủ sở hữu thay đổi hoặc giải thể như nhãn hiệu rượu gạo Tú Sơn (huyện Kiến Thụy); trồng cây cảnh Mông Thượng, xã Chiến Thắng (huyện An Lão); trồng hoa, cây cảnh Minh Khai, xã Đồng Thái (huyện An Dương); mây tre đan Tiên Cầm (huyện An Lão); làng nghề nuôi trồng thủy sản Lập Lễ (huyện Thủy Nguyên)… Một số sản phẩm nông, thủy sản dù được bảo hộ nhãn hiệu, nhưng suy giảm mạnh về quy mô như khoai sọ Mùn ốc, bưởi Lâm Động, bào ngư Bạch Long Vỹ… Nguyên nhân chính là vai trò chủ sở hữu (chính quyền địa phương, hợp tác xã, hộ sản xuất…) còn mờ nhạt trong kiểm soát, quản lý và sử dụng tài sản trí tuệ đối với sản phẩm được bảo hộ, việc vận hành và sử dụng nhãn hiệu còn nhiều lúng túng. Phần lớn sản phẩm sau khi được bảo hộ SHTT chủ sở hữu vẫn chưa có quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu, chưa sử dụng lô-gô cho sản phẩm, việc triển khai quảng cáo, giới thiệu sản phẩm còn hạn chế.
Bên cạnh việc quản lý, khai thác còn hạn chế, Trưởng Phòng Kinh tế quận Đồ Sơn Hoàng Đình Dũng còn cho rằng, nhiều nông, thủy sản có thương hiệu của địa phương như: cá thu một nắng, mắm ruốc, chè xanh Ngọc Xuyên, táo Bàng La… bị làm giả, làm nhái, gây suy giảm thương hiệu sản phẩm, ảnh hưởng quyền lợi của cả người sản xuất và người tiêu dùng.
Tăng cường hỗ trợ, nâng giá trị thương hiệu
Trước thực trạng việc khai thác SHTT nhãn hiệu các sản phẩm nông sản, đặc sản làng nghề còn rất hạn chế, từ năm 2018, Sở KHCN tham mưu UBND thành phố ban hành Quyết định phê duyệt danh mục, nhiệm vụ hỗ trợ quản lý, khai thác và phát triển 3 sản phẩm đặc sản làng nghề là trứng vịt Chấn Hưng, gạo nếp cái hoa vàng Đại Thắng (cùng huyện Tiên Lãng) và cá thu phơi một nắng, đặc sản Đồ Sơn. Sau 2 năm thực hiện, kết quả bước đầu cho thấy, 3 sản phẩm đặc sản làng nghề không những làm tốt việc bảo hộ, quảng bá nhãn hiệu, mà còn đem lại hiệu quả giá trị kinh tế cao hơn. Với sự hỗ trợ từ Sở KHCN về xây dựng quy định, điều kiện sử dụng, kiểm soát nhãn hiệu, hệ thống truy xuất nguồn gốc bằng mã QR code…, Hội Nông dân quận Đồ Sơn và huyện Tiên Lãng, chủ sở hữu nhãn hiệu đã thẩm định, cấp quyền sử dụng nhãn hiệu cho cơ sở, hộ nông dân trong sản xuất, chế biến, kinh doanh sản phẩm.
Kết quả sản xuất- kinh doanh của cơ sở sau khi được cấp quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể đều đạt hiệu quả kinh tế tăng cao hơn so với trước. Đơn cử, với cơ sở sản xuất cá thu một nắng tăng từ 60 - 144 triệu đồng/năm so với trước; sản phẩm trứng vịt Chấn Hưng mở rộng thị trường tiêu thụ, giá bán một số nơi tăng 200 đồng/quả; còn với gạo nếp cái hoa vàng Đại Thắng, giá bán từ 26.000- 28.000 đồng/kg năm 2018 tăng và giữ ổn định ở mức 30.000- 35.000 đồng/kg năm 2020.
Tuy nhiên, ngay cả nhãn hiệu được thành phố hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý, khai thác thì số cơ sở, hộ sản xuất- kinh doanh được cấp quyền sử dụng nhãn hiệu còn khiêm tốn so với số lượng cơ sở, hộ sản xuất thực tế trên địa bàn. Với trứng vịt Chấn Hưng mới có 3 cơ sở được thẩm định, cấp quyền sử dụng nhãn hiệu, trong khi đó sản xuất trứng vịt là sinh kế chính của người dân 8 xã huyện Tiên Lãng. Hay với sản phẩm cá thu phơi một nắng mới có 4 trong tổng số khoảng 60 cơ sở, hộ dân sản xuất được cấp quyền sử dụng nhãn hiệu. Do đó, yêu cầu đặt ra cần tiếp tục kiểm soát, nâng cao năng lực quản lý, mở rộng việc cấp quyền sử dụng nhãn hiệu cho các cơ sở khác, hình thành chuỗi liên kết sản xuất, cơ sở sản xuất tập trung quy mô lớn, từ đó hình thành các sản phẩm OCOP (Chương trình mỗi xã một sản phẩm). Để thực hiện được thì điều quan trọng hơn cả là nhận thức về vai trò, tầm quan trọng trong xây dựng, bảo hộ nhãn hiệu của chính quyền địa phương, HTX, tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu, cũng như sự chủ động của mỗi cơ sở, hộ dân tham gia sản xuất, kinh doanh sản phẩm.
Hoàng Minh