Ngày làm việc thứ 3, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 13
(HPĐT)- Ngày 27-1, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 13 bước sang ngày làm việc thứ 3. Các đại biểu thảo luận tại hội trường, bổ sung lý luận, làm phong phú thêm nhiều vấn đề từ thực tiễn trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh, xây dựng Đảng. Thay mặt Đoàn Chủ tịch, đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ điều hành phiên họp.

Quang cảnh ngày làm việc thứ 3 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 13.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc điều hành phiên họp.
Tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
Mở đầu phiên thảo luận, đồng chí Trần Thanh Mẫn, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam phát biểu tham luận với chủ đề: “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượnghoạt động của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội”.

Đồng chí Trần Thanh Mẫn, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam trình bày tham luận tại Đại hội.
Đồng chí Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh: Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc ta, được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, tạo nguồn sức mạnh, lập nên những kỳ tích vẻ vang, là điều kiện cơ bản của sự thành công sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, cũng như công cuộc đổi mới xây dựng, phát triển đất nước ngày nay. Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc, để tổ chức Mặt trận thực hiện tốt nhiệm vụ: tập hợp, xây dựng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
5 bài học kinh nghiệm quý báu về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và hoạt động của MTTQ Việt Nam được đồng chí Trần Thanh Mẫn rút ra là: Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng là nhân tố quyết định để Mặt trận tập hợp được mọi lực lượng, xây dựng, củng cố, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc; Quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc"; Bảo đảm sự phối hợp đồng bộ, hiệu quả giữa các cơ quan Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam và hiệp thương phối hợp thống nhất hành động của các tổ chức thành viên; Đổi mới hoạt động của MTTQ, quán triệt phương châm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh; Thực hành dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đoàn kết gắn với đấu tranh, có lý, có tình với các hành vi sai trái, làm ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Để phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế, đồng chí Trần Thanh Mẫn đề nghị các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, cả hệ thống chính trị cần quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam; thực hiện nhất quán quan điểm: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tạo môi trường thuận lợi để nhân dân phát triển tài năng, sức sáng tạo, mang lại lợi ích cho đất nước. Các ban, bộ, ngành, địa phương cần thực hiện tốt các chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, chính sách tôn giáo và công tác dân tộc, tôn giáo; vận động đồng bào ta ở nước ngoài hướng về Tổ quốc, đóng góp trí tuệ, tài năng, nguồn lực để xây dựng đất nước; thông qua các hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần tăng cường tình đoàn kết hữu nghị, hợp tác quốc tế, hình thành mặt trận rộng rãi ủng hộ công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam. Hoạt động của Mặt trận phải hướng mạnh về cơ sở, phát huy tốt hơn vai trò của các tổ chức thành viên, của Ban công tác Mặt trận ở hơn 100 ngàn địa bàn dân cư trong cả nước; tập hợp sức mạnh của 100 triệu đồng bào trong nước và đồng bào ta ở nước ngoài, cùng hiệp lực, quyết tâm, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội 13 của Đảng.

Đoàn đại biểu của Đảng bộ thành phố Hải Phòng dự Đại hội.
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách tư pháp
Đồng chí Lê Hồng Quang, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chánh án Thường trực Tòa án nhân dân tối cao tham luận với chủ đề: “Phát huy phương châm gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân, thực hiện hiệu quả công tác cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”.

Đồng chí Lê Hồng Quang, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chánh án Thường trực Tòa án nhân dân tối cao trình bày tham luận tại Đại hội.
Nêu rõ những thành tựu cũng như hạn chế, yếu kém của nền tư pháp, đồng chí Lê Hồng Quang đề xuất một số quan điểm, mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ cải cách tư pháp giai đoạn sau năm 2020. Cụ thể là kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo toàn diện, thống nhất và trực tiếp đối với cơ quan tư pháp, hoạt động tư pháp; xác định cải cách tư pháp là động lực quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp và công tác phòng, chống tham nhũng do Đảng lãnh đạo, là nhân tố quan trọng gips phần bảo vệ, giữ vững, phát huy thành tựu phát triển đất nước; đẩy nhanh việc hoàn thiện các thiết chế của Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN; xây dựng nền tư pháp vì nhân dân phục vụ, tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động theo hướng trong sạch, vững mạnh tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; tăng cường niềm tin của người dân vào công lý và nền tư pháp; phát huy vai trò và hoàn thiện cơ chế giám sát đặc thù của cơ quan dân cử, của công luận và nhân dân đối với hoạt động tư pháp; tận dụng những lợi thế của công nghệ, hướng tới xây dựng tòa án thông minh, công khai, minh bạch hoạt động tư pháp; tăng cường khả năng tiếp cận công lý của người dân; giảm bớt thủ tục và chi phí xã hội không cần thiết…
Xây dựng và hoàn thiện nền tài chính quốc gia theo hướng hiện đại
Phát biểu tham luận với chủ đề: “Xây dựng và hoàn thiện nền tài chính quốc gia theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước”, đồng chí Đinh Tiến Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính khẳng định: Nhiệm kỳ qua, thực hiện các nghị quyết của Đảng, Quốc hội, nền tài chính quốc gia có bước phát triển quan trọng, có đóng góp quyết định vào các thành quả của đất nước, thể hiện ở một số điểm lớn như: đã cơ cấu lại đồng bộ ngân sách Nhà nước, nợ công, thúc đẩy quá trình đổi mới, cơ cấu lại nền kinh tế, hội nhập, cải thiện các cân đối lớn, tăng cường ổn định vĩ mô, thúc đẩy phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm trật tự xã hội, chủ quyền đất nước…

Đồng chí Đinh Tiến Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính trình bày tham luận tại Đại hội.
Quy mô thu ngân sách giai đoạn 2016- 2020 tăng gấp 1,6 lần giai đoạn trước, đạt hơn 25% GDP, vượt mục tiêu đề ra; tỷ trọng thu nội địa tăng từ 68,7% năm 2015 lên 85% năm 2020; giảm thu từ xuất nhập khẩu và dầu thô; có 30/63 địa phương đạt số thu trên 10.000 tỷ đồng, tăng tính chủ động cho ngân sách địa phương. Đồng thời công tác chi ngân sách có nhiều đổi mới, tăng cường phân cấp, thực hiện các cơ chế đặc thù với các thành phố lớn, tỷ trọng chi đầu tư phát triển đạt 28-29%, bảo đảm các khoản chi thường xuyên; chi an sinh xã hội, phúc lợi xã hội…
Bộ trưởng Tài chính thống nhất cao với các giải pháp phát triển đất nước tới năm 2025, 2030 và tầm nhìn tới năm 2045, đồng thời đề xuất 6 giải pháp xây dựng và hoàn thiện nền tài chính quốc gia theo hướng hiện đại. Thứ nhất, hoàn thiện, triển khai đồng bộ hệ thống chính sách giá cả, tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp, kế toán, kiểm toán, cải cách hành chính, ứng dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, khơi thông và phân bổ các nguồn lực tài chính theo tín hiệu thị trường… Thứ hai, phát triển hệ thống thu hiện đại, gắn với cơ cấu lại thu ngân sách Nhà nước. Thứ ba, đẩy mạnh cơ cấu lại chi ngân sách Nhà nước. Thứ tư, tiếp tục tinh gọn bộ máy, đổi mới khu vực công lập. Thứ năm, khẩn trương hoàn thiện cơ chế đổi mới doanh nghiệp, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước. Thứ sáu, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, siết chặt kỷ cương tài chính ngân sách, hoàn thành xây dựng chính phủ điện tử, chính phủ số…
Xây dựng Hà Nội văn minh, hiện đại
Với chủ đề: “Xây dưng và phát triển Thủ đô Hà Nội văn minh, hiện đại xứng đáng là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế”, đồng chí Nguyễn Văn Phong, Phó bí thư Thành ủy Hà Nội nêu 5 định hướng lớn và nhiệm vụ trọng tâm; 3 khâu đột phá.

Đồng chí Nguyễn Văn Phong, Phó bí thư Thành ủy Hà Nội trình bày tham luận tại Đại hội.
Cụ thể, tạo chuyển biến mạnh mẽ về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tranh thủ thời cơ từ hội nhập quốc tế, những thành tựu của cuộc cách mạnh công nghiệp lần thứ tư, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế dựa trên ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn với thực hiện đồng bộ 3 đột phá chiến lược; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa xã hội; nâng cao chất lượng công tác quy hoạch; ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển mạnh hạ tầng số, hạ tầng công nghệ thông tin, phát triển kinh tế số; hoàn thiện thể chế, tăng cường phân cấp ủy quyền, xây dựng chính quyền điện tử; phát triển nguồn nhân lực, khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào của nhân dân Thủ đô, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, xây dựng mạng lưới sáng kiến Hà Nội để thu hút các trí thức tham gia xây dựng Thủ đô. Phó bí thư Thành ủy Hà Nội tự tin Hà Nội có đủ năng lực điều kiện, gương mẫu đi đầu trên mọi phương diện, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước...
Tiếp tục đổi mới công tác dân vận
Đồng chí Nguyễn Hồng Lĩnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Dân vận Trung ương phát biểu với chủ đề: “Tiếp tục đổi mới công tác dân vận của Đảng, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân”.

Đồng chí Nguyễn Hồng Lĩnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Dân vận Trung ương phát biểu tham luận tại Đại hội.
Đồng chí nêu rõ, trong suốt quá trình lãnh đạo, với quan điểm sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Đảng luôn xác định công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng, là điều kiện quan trọng bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Một trong những bài học quan trọng, góp phần làm nên những thành tựu to lớn xuyên suốt chiều dài lịch sử là bài học“Lấy dân làm gốc”, phát huy vai trò làm chủ, sức sáng tạo và nguồn lực của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Đây là tư tưởng xuyên suốt góp phần vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, vượt qua mọi khó khăn và đạt được nhiều thắng lợi. Công tác dân vận của Đảng trong từng thời kỳ cách mạng có những nội dung, phương thức khác nhau, nhưng đều hướng đến mục tiêu quan trọng đó là tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân với Đảng; vận động, thu hút rộng rãi các tầng lớp nhân dân, khơi dậy tinh thần yêu nước, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong quá trình phát triển đất nước.
Nêu bật những kết quả của công tác dân vận thời gian qua và các hạn chế, đồng chí Nguyễn Hồng Lĩnh nhấn mạnh: Trước đòi hỏi của thực tiễn và mục tiêu phát triển bền vững của Đảng, đất nước, công tác vận động nhân dân càng phải chú trọng và đổi mới mạnh mẽ, xây dựng lòng dân hướng về Đảng. Do đó, cần quan tâm một số nhiệm vụ, giải pháp sau:
Một là, tiếp tục đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đường lối, chủ trương công tác dân vận của Đảng phù hợp với tình hình mới; bảo đảm các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước liên quan đến cuộc sống người dân phải sát thực tiễn, khả thi và bố trí đủ nguồn lực để thực hiện hiệu quả.
Hai là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, sát với thực tiễn, có tính thuyết phục cao, tạo sự đồng thuận trong nhân dân để thực hiện có hiệu quả, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, vận động tương tác với người dân; ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp với điều kiện phát triển, trình độ dân trí và môi trường sống của các tầng lớp nhân dân một cách phù hợp.
Ba là, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của cơ quan nhà nước các cấp, trọng tâm là: Hoàn thiện cơ chế và nâng cao vai trò tham gia của nhân dân trong quá trình quyết định chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là những chính sách, pháp luật có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của nhân dân, có chính sách sát hợp với đặc điểm vùng miền, đặc thù của đời sống văn hóa người dân mỗi tỉnh nhằm tạo động lực, phát huy lợi thế so sánh và không tạo tâm lý ỷ lại trông chờ vào sự chăm lo, hỗ trợ của Chính phủ, quan tâm đến các đối tượng yếu thế trong xã hội. Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hoá cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Bốn là, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và hội quần chúng theo hướng sát cơ sở, thực chất, hiệu quả hơn. Quan tâm lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng và có cơ chế, chính sách chăm lo, động viên đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, Mặt trận và các tổ chức thành viên; kiên quyết không bố trí cán bộ vi phạm kỷ luật, thiếu gương mẫu, đạo đức kém làm công tác dân vận.
Năm là, đẩy mạnh phong trào thi đua “Dân vận khéo” trong toàn hệ thống chính trị, động viên các tầng lớp nhân dân tham gia tích cực các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, giảm nghèo bền vững, giữ vững quốc phòng, an ninh; phát huy mọi tiềm năng, trí tuệ trong nhân dân đóng góp cho xã hội, cho đất nước…
Đẩy mạnh phát triển kinh tế tri thức
Đồng chí Nguyễn Thành Phong, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh đề cập tới vấn đề đang được nhiều địa phương quan tâm qua tham luận với chủ đề: “Phát triển kinh tế tri thức - Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn từ thành phố Hồ Chí Minh”.

Đồng chí Nguyễn Thành Phong, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh phát biểu tham luận tại Đại hội.
Đồng chí Nguyễn Thành Phong nêu rõ: Từ những năm 80 trở lại đây, dưới tác động mạnh mẽ của khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt công nghệ sinh học, công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ nano... nền kinh tế thế giới đang biến đổi sâu sắc và phát triển toàn diện, chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức. Kinh tế tri thức đã và đang trở thành xu hướng phát triển chung của kinh tế thế giới, được nhiều quốc gia lựa chọn làm chiến lược phát triển, điển hình như: Mỹ, Canada, Tây Âu, Nhật Bản, Singapore, Hong Kong, Úc - nơi các yếu tố của nền kinh tế tri thức ở mức khá cao, trong đó các ngành công nghiệp dựa trên tri thức đã đóng góp hơn 40% GDP; và đang hình thành tại một số quốc gia đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan…
Đúc kết những kinh nghiệm từ thực tiễn thành công của một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới, thành phố Hồ Chí Minh luôn xác định tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế tri thức trong định hướng, chiến lược phát triển, khai thác có hiệu quả lợi thế của một đô thị đặc biệt, một trung tâm lớn về kinh tế, văn hoá, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ vào phát triển kinh tế tri thức, hình thành những nền tảng của kinh tế tri thức, bao gồm đội ngũ trí thức đông đảo, đô thị thông minh, khu công nghệ cao, trung tâm khởi nghiệp sáng tạo, các tập đoàn lớn về công nghệ, các trung tâm nghiên cứu phát triển, hạ tầng công nghệ thông tin trên nền tảng mạng 5G. Trên cơ sở đó, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng hàm lượng tri thức, tập trung phát triển các ngành công nghệ cao, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đặc biệt, thành phố đang nghiên cứu lập, xây dựng quy hoạch Khu đô thị sáng tạo tương tác cao phía Đông gắn với việc thành lập thành phố Thủ Đức. Khu vực này kỳ vọng góp phần thiết lập chuỗi giá trị gia tăng trên nền tảng công nghệ cao, hạ tầng kỹ thuật và xã hội hiện đại theo chuẩn quốc tế, hỗ trợ tài chính hiệu quả cho doanh nghiệp, là đòn bẩy và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.
Dự kiến sau khi thành lập và đi vào hoạt động thành phố Thủ Đức sẽ đóng góp 30%-35% GRDP của thành phố Hồ Chí Minh và chiếm khoảng 7% GDP cả nước. Việc được thực hiện mô hình chính quyền đô thị và thành lập thành phố Thủ Đức là cơ sở quan trọng giúp thành phố hình thành tổ chức bộ máy đủ mạnh để có thể hiện thực hóa mục tiêu trên.
Bên cạnh đó, thành phố Hồ Chí Minh cũng ban hành nhiều cơ chế, chính sách thúc đẩy các nghiên cứu khoa học công nghệ gắn với cuộc sống, hoàn thiện hệ sinh thái khởi nghiệp, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, đồng thời quan tâm, đầu tư phát triển nguồn nhân lực, đưa nội dung đào tạo công nghệ thông tin, kỹ năng số vào các chương trình đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng nguồn nhân lực số, hình thành đội ngũ chuyên gia và kỹ thuật viên đủ chuẩn quốc tế…
Những giải pháp trên giúp kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đạt mức tăng trưởng khá cao. Nếu không tính năm 2020 do ảnh hưởng của đại dịch COVID - 19, giai đoạn 2016 – 2019, GRDP của thành phố Hồ Chí Minh tăng bình quân 7,72%, duy trì vai trò đầu tàu kinh tế của đất nước, đóng góp hơn 22% GDP quốc gia, hơn 26% thu ngân sách cả nước.
Từ thực tế sinh động trên, thành phố Hồ Chí Minh đề xuất 7 giải pháp trọng tâm phát triển kinh tế tri thức trong thời gian tới:
Thứ nhất, đổi mới cơ chế, chính sách, tạo lập một khuôn khổ pháp lý mới phù hợp với sự phát triển nền kinh tế tri thức.
Thứ hai, phát triển mạnh nguồn lao động chất lượng cao, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài.
Thứ ba, tăng cường năng lực khoa học - công nghệ quốc gia để có thể tiếp thu, làm chủ, vận dụng sáng tạo các tri thức khoa học - công nghệ mới nhất của thế giới cần thiết cho phát triển của đất nước, từng bước sáng tạo công nghệ đặc thù của đất nước, xây dựng nền khoa học - công nghệ tiến tiến của Việt Nam.
Thứ tư, đầu tư phát triển mạnh mẽ hạ tầng công nghệ thông tin; đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Thứ năm, ban hành các cơ chế, chính sách để hoàn thiện hệ sinh thái khởi nghiệp, hỗ trợ, khuyến khích, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Thứ sáu, không ngừng cải cách, đổi mới để bảo đảm vai trò dẫn dắt, quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế.
Thứ bảy, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế nhằm tranh thủ nguồn ngoại lực, kết hợp nội lực để bắt kịp xu thế phát triển khoa học công nghệ tiên tiến, phục vụ cho mục tiêu hiện đại hóa lực lượng sản xuất của đất nước.
Tiếp tục đổi mới căn bản toàn diện giáo dục
Đồng chí Phùng Xuân Nhạ, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo đề cập tới vấn đề này và nhấn mạnh mục tiêu được Nghị quyết số 29 ngày 4-11-2013 của Trung ương đề ra là: Phấn đấu tới năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.

Đồng chí Phùng Xuân Nhạ, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo phát biểu tham luận tại Đại hội.
Nhấn mạnh rõ thành tựu giáo dục thời gian qua cũng như một số hạn chế, yếu kém, Bộ trưởng Bộ Giáo dục nêu bật 5 giải pháp sẽ được tập trung thực hiện trong thời gian tới. Trong đó, đổi mới cơ chế quản lý nhà nước và quản trị nhà trường được coi là giải pháp đột phá. Cùng với đó, chú trọng phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; tiếp tục rà soát, quy hoạch mạng lưới trường, lớp; đẩy nhanh chuyển đổi số trong giáo dục; tăng cường công tác truyền thông.
Theo Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo, trong giai đoạn đầu triển khai thực hiện Nghị quyết 29, ngành Giáo dục chọn đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng là giải pháp đột phá, để thông qua đó điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học phù hợp hơn. Giải pháp này cơ bản hoàn thành trong giai đoạn vừa qua. Giai đoạn 2021-2025, ngành Giáo dục chọn đổi mới cơ chế quản lý nhà nước và quản trị nhà trường là giải pháp đột phá, để tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách mới hiệu quả hơn, khắc phục căn bản các hạn chế, bất cập gây bức xúc xã hội. Giải pháp này không cần nhiều nguồn lực nhưng tháo gỡ được những nút thắt, rào cản đổi mới giáo dục hiện nay.
Theo đó, sẽ đổi mới mạnh mẽ công tác quản lý trong giáo dục và quản trị nhà trường, coi trọng quản lý chất lượng, hiệu quả quản trị nhà trường, gắn trách nhiệm quản lý chuyên môn với quản trị nhân sự và tài chính; hoàn thiện cơ chế để cơ quan quản lý giáo dục được tham gia quyết định trong quản lý nhân sự và phân bổ, sử dụng nguồn tài chính dành trong giáo dục của địa phương. Đồng thời, đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường phân cấp, ủy quyền, nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu trong các cơ sở giáo dục, đào tạo và các địa phương; tiếp tục rà soát, đẩy nhanh kiện toàn Hội đồng trường đúng quy định về số lượng, chất lượng, cơ cấu và thành phần, bảo đảm thực quyền theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học (Luật 34) và Nghị định 99 của Chính phủ; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục, quản trị nhà trường. Triển khai hiệu quả hệ thống quản lý - quản trị giáo dục trực tuyến trong việc bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên,cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới.

Đồng chí Lê Anh Quân, Phó chủ tịch Thường trực UBND thành phố, thành viên Đoàn đại biểu của Đảng bộ thành phố Hải Phòng trả lời phỏng vấn của phóng viên báo chí tại Đại hội.
Phát triển nông nghiệp đa dạng
Đây là vấn đề được đồng chí Dương Văn Thái, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Bắc Giang đặt ra khi tham luận với nội dung “Phát triển nông nghiệp đa dạng tỉnh Bắc Giang dựa trên điều kiện đặc thù vùng trung du - miền núi”. Đồng chí nêu rõ những kinh nghiệm của Bắc Giang trong phát huy tốt lợi thế đặc thù về điều kiện địa hình đa dạng, khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi, tập trung đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp, ban hành nhiều cơ chế chính sách thúc đẩy phát triển nông nghiệp đa dạng, tập trung vào 3 khâu trọng tâm như quy hoạch lại các vùng sản xuất, gắn với đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất; kịp thời đề ra các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ, gắn với phát triển các chuỗi liên kết giá trị đảm bảo ổn định đầu ra cho sản phẩm, nhất là nhóm sản phẩm chủ lực, đặc trưng và tiềm năng của địa phương.
Đến nay, toàn tỉnh Bắc Giang có 95 sản phẩm OCOP, hơn 800 mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, sản xuất an toàn theo chuỗi giá trị, cho thu nhập tăng từ 5-10 lần so với sản xuất truyền thống. Đặc biệt, tỉnh Bắc Giang tập trung chỉ đạo mở rộng các vùng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, sản xuất nông nghiệp sạch theo hướng hữu cơ, chất lượng cao để từng bước hướng đến phát triển ngành nông nghiệp hiện đại, bền vững.
Cùng với đó, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của Trung ương, Đại sứ quán các nước và các tỉnh bạn để quảng bá, xúc tiến thương mại, đàm phán xuất khẩu nông sản. Sản phẩm nông nghiệp của tỉnh với chất lượng ngày càng cao đáp ứng tốt nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu vào các thị trường khó tính như: Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc... Riêng sản phẩm chủ lực quả vải thiều hiện nay tiêu thụ thuận lợi tại thị trường trong nước và xuất khẩu trên 30 nước. Đặc biệt năm 2020, vải thiều tươi Bắc Giang vượt qua quy trình kiểm soát nghiêm ngặt để lần đầu xuất khẩu chính ngạch vào thị trường Nhật Bản.
Từ thực tiễn đó, tỉnh Bắc Giang sẽ tiếp tục tăng cường hơn nữa vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, hỗ trợ, vận động phát triển kinh tế nông nghiệp của địa phương từng bước hiện đại, bền vững; tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp; phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, sản xuất nông nghiệp sạch theo hướng hữu cơ; thực hiện đồng bộ các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 vào sản xuất tạo bước phát triển đột phá. Tỉnh Bắc Giang đề nghị Trung ương sớm xem xét, sửa Luật Đất đai theo hướng thúc đẩy tích tụ, tập trung đất nông nghiệp, khắc phục tình trạng manh mún, tạo điều kiện thu hút đầu tư, ứng dụng cơ giới hóa và công nghệ cao vào sản xuất; tăng cường đàm phán thương mại để mở rộng thị trường xuất khẩu các sản phẩm nông sản.
Gắn sản xuất nông nghiệp với chế biến
Đồng chí Trần Đức Quận, Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Lâm Đồng nhấn mạnh nội dung này trong tham luận: “Tổ chức kết nối nông nghiệp với công nghiệp chế biến, thị trường xuất khẩu và chuỗi giá trị toàn cầu của tỉnh Lâm Đồng”. Đồng chí khẳng định: Nông nghiệp là lĩnh vực nhiều lợi thế, có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng. Kết nối nông nghiệp với công nghiệp chế biến và xuất khẩu là giải pháp có ý nghĩa chiến lược quan trọng để nông nghiệp Lâm Đồng phát triển bền vững và hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nhờ vậy, nông nghiệp Lâm Đồng có bước phát triển vượt bậc về quy mô, năng suất, giá trị, thu nhập trên một đơn vị diện tích và cả nguồn nhân lực (hiện giá trị sản xuất bình quân đạt 185 triệu đồng/ha/năm, tăng 27,5% so với năm 2016. Năng suất lao động trong nông nghiệp bằng 1,26 lần và giá trị sản phẩm trên 1 ha bằng 1,84 lần so với cả nước).
Lâm Đồng cũng là một trong những địa phương đi đầu cả nước về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp thông minh và lực lượng sản xuất trong nông nghiệp phát triển mạnh với mô hình “Doanh nghiệp là nòng cốt, ứng dụng khoa học công nghệ là điều kiện tiên quyết; xây dựng chuỗi liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm để phát triển bền vững; xây dựng thương hiệu để bảo hộ quyền lợi người sản xuất và tạo niềm tin cho người tiêu dùng; nông dân đóng vai trò chủ thể”.
Từ đó xuất hiện “nông dân thế hệ mới” dám nghĩ dám làm, mạnh dạn ứng dụng khoa học công nghệ, bỏ vốn đầu tư, chủ động khai thác thị trường, liên kết sản xuất tạo ra chuỗi giá trị tham gia có hiệu quả vào thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước.
Với mục tiêu phát triển ngành nông nghiệp theo hướng bền vững, toàn diện và hiện đại, xây dựng tỉnh Lâm Đồng thành trung tâm nghiên cứu, sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh tầm quốc gia và quốc tế, Lâm Đồng xác định phát triển l nông nghiệp là một trong 4 khâu đột phá, trong đó tập trung tháo gỡ những vướng mắc trong quan hệ sản xuất, mở đường sản xuất phát triển, đặc biệt là tạo sự hợp tác và liên kết sâu rộng trong sản xuất nông nghiệp; tập trung tổ chức lại các mô hình hợp tác một cách phù hợp, hiệu quả để tạo sự liên kết từ sản xuất, chế biến đến thị trường tiêu thụ sản phẩm nhằm tạo ra động lực mới. Lâm Đồng đề nghị Trung ương quan tâm đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế, đặc biệt là tuyến đường cao tốc Dầu Giây - Liên Khương và mở thêm các đường bay quốc tế đi và đến Cảng hàng không Liên Khương Đà Lạt nhằm giảm chi phí vận chuyển trong tổng chi phí sản xuất góp phần tăng sức cạnh tranh của nông sản Lâm Đồng, chủ động tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong phiên làm việc chiều 27-1, đồng chí Nguyễn Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ điều hành phiên thảo luận. Đồng chí nêu rõ, trong phiên làm việc sáng 27-1, có 12 phát biểu tham luận của các bộ, ban, ngành, địa phương. Nhìn chung các tham luận đều có chất lượng cao, bổ sung nhiều vấn đề từ lý luận và thực tiễn, nhằm hoàn thiện các báo cáo của Trung ương. Đồng chí đề nghị các đại biểu tiếp tục phát huy, phát biểu ngắn gọn, tập trung làm rõ và bổ sung, làm phong phú thêm các vấn đề được đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đề cập, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội 13 của Đảng.
Phát triển nông nghiệp hàng hóa gắn với xây dựng nông thôn mới
Phát biểu tham luận tại Đại hội, đồng chí Nguyễn Xuân Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẳng định: Những năm qua, nông nghiệp, xây dựng nông thôn đạt nhiều kết quả nổi bật, khá ấn tượng. Đặc biệt là kết quả phát triển nông nghiệp hàng hóa gắn với xây dựng nông thôn mới. Nông nghiệp phát huy tốt nhất vai trò là trụ đỡ của nền kinh tế, cả trong những giai đoạn khó khăn nhất do thiên tai, dịch bệnh. Chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới về đích trước thời gian 2 năm, làm thay đổi đáng kể diện mạo nông thôn, đời sống nông dân ngày càng được nâng cao… Đây thực sự là dấu ấn quan trọng của Đảng trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân…

Đồng chí Nguyễn Xuân Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phát biểu tham luận tại Đại hội.
Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẳng định: 5 năm tới, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế vẫn là xu hướng chủ đạo, nông nghiệp vẫn là thế mạnh của đất nước, vẫn đang là sinh kế bền vững, góp phần bảo đảm ổn định kinh tế - xã hội. Tuy nhiên còn nhiều khó khăn, thách thức, nhiều nút thắt phải vượt qua. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhất trí cao với các định hướng, mục tiêu phát triển nông nghiệp được các văn kiện Đại hội 13 đề cập, đồng thời đề xuất một số giải pháp. Cụ thể: quán triệt nâng cao nhận thức phát triển nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, gắn với xây dựng nông thôn mới; thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp, hoàn thiện cơ chế chính sách, nhất là cơ chế chính sách đất đai, tín dụng, bảo hiểm, hợp tác công tư…; tranh thủ lợi thế các hiệp định thương mại tự do để phát triển thị trường, đi đôi với chương trình đưa hàng hóa nông thôn vào thành thị; ứng dụng nhanh thành quả công nghiệp 4.0 tạo ra sự phát triển đột phá; đào tạo nghề cho nông dân, liên kết tiêu thụ nông sản, đẩy mạnh phát triển công nghiệp dịch vụ và ngành nghề nông thôn, nâng cao đời sống nông dân, hướng tới mô hình nông dân giàu có, văn minh.

Quang cảnh Đại hội trong ngày làm việc thứ 3.
Điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt
Đồng chí Nguyễn Thị Hồng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phát biểu tham luận nêu rõ những thành công trong điều hành chính sách tiền tệ những năm qua, góp phần kiểm soát lạm phát; tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán khá tốt, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng tín dụng, góp phần quan trọng vào việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo sức bật, đà thuận lợi tăng trưởng kinh tế những năm tiếp theo. Chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước cũng được điều hành khá linh hoạt, phù hợp diễn biến lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế, góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp duy trì hoạt động và chuẩn bị chu kỳ tăng trưởng mới. Đồng chí Nguyễn Thị Hồng nhấn mạnh, cũng nhờ chính sách tỷ giá chủ động linh hoạt nên Việt Nam đạt được dự trữ ngoại tệ cao kỷ lục. Đây là một trong những nền tảng giúp tạo dựng lòng tin về mặt đối ngoại của đồng tiền Việt Nam trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thanh toán xuất nhập khẩu và trả nợ.
Đề xuất các giải pháp thời gian tới, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho rằng cần tiếp tục linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ; duy trì lãi suất ổn định ở mức thấp để hỗ trợ phục hồi kinh tế; điều hành tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn theo hướng hỗ trợ xuất khẩu, tận dụng các lợi thế của các hiệp định thương mại tự do. Đồng thời tiếp tục cải cách thế chế, đặc biệt là điều hành các công cụ chính sách theo cơ chế thị trường; tiếp tục kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại, khuyến khích phát triển tín dụng xanh, ngân hàng xanh; thúc đẩy đổi mới sáng tạo ứng dụng thành tựu công nghệ 4,0 trong hoạt động thanh toán; nâng cao chỉ số tiếp cận tín dụng, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia…
Tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ tổ chức công đoàn và giai cấp công nhân
Đây là ý kiến của đồng chí Nguyễn Đình Khang, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong phần trình bày tại Đại hội. Nhấn mạnh vai trò của tổ chức công đoàn và giai cấp công nhân, đồng chí Nguyễn Đình Khang đề nghị tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động công đoàn; thực hiện tốt chính sách tiền lương, tiền công; sớm tổng kết Nghị quyết của Đảng về xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH; đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới; giữ vững và phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, kết nạp công nhân ưu tú vào Đảng và bồi dưỡng đào tạo đề bạt cán bộ từ công nhân…

Các đại biểu tham quan triển lãm tem những hình ảnh về Đại hội.
Thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn
Đồng chí Trần Hồng Hà, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường bày tỏ ấn tượng mạnh mẽ khi lần đầu trong Báo cáo Chính trị đề cập tới xây dựng nền kinh tế tuần hoàn trong thập niên 2021- 2030. Đồng chí khẳng định đây là mô hình cần thiết, rất đúng và trúng, góp phần quan trọng quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Nêu lên những thành công của một số quốc gia trong phát triển kinh tế tuần hoàn, đồng chí Trần Hồng Hà đề xuất một số giải pháp chủ yếu. Đó là cần nâng cao nhận thức, coi kinh tế tuần hoàn là giải pháp tất yếu để nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển bền vững. Cần sớm xem xét ban hành nghị quyết về mô hình kinh tế tuần hoàn; tăng cương tuyên truyền về kinh tế tuần hoàn, trong đó, cộng đồng doanh nghiệp và người dân đóng vai trò trung tâm, phấn đấu xây dựng các mô hình: đô thị, nông thôn, khu công nghiệp… tuần hoàn. Đồng thời, ban hành chính sách pháp luật xây dựng kinh tế tuần hoàn…
Tăng cường công tác kiểm tra giám sát
Phát biểu tham luận về nâng cao chất lượng hiệu quả hiệu lực công tác kiểm tra giám sát, kỷ luật Đảng, tăng cường kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, đồng chí Mai Trực, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương nhấn mạnh: Công tác kiểm tra giám sát có vai trò rất quan trọng để xây dựng Đảng. Trong nhiệm kỳ Đại hội 12, công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng được Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư; đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước; cấp ủy, tổ chức Đảng, Ủy ban Kiểm tra các cấp đặc biệt coi trọng và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện toàn diện với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt. Vì vậy, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đạt được nhiều kết quả nổi bật; góp phần củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Đồng chí đề nghị thời gian tới, cần tiếp tục nâng cao hơn nữa nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của các cấp ủy, tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; xây dựng, hoàn thiện các quy định, quy trình về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; quan tâm củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy Ủy ban Kiểm tra; xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát với tinh thần kiên trì, quyết tâm và nỗ lực cao, để góp phần đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống, “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, “lợi ích nhóm”; xử lý tổ chức đảng và đảng viên vi phạm nghiêm minh, kịp thời song phải trên tinh thần nhân văn, mục đích là làm cho tổ chức Đảng, đảng viên thấy được vi phạm, khuyết điểm để khắc phục, sửa chữa, tiến bộ hơn. Qua đó, nhằm giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội13 của Đảng, xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Quang cảnh Đại hội trong ngày làm việc thứ 3.
Thay đổi tư duy phát triển nông nghiệp
Tại Đại hội, đồng chí Lê Quốc Phong, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp đề cập tới một vấn đề mới là chuyển đổi tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp. Từ nhận thức này sẽ thúc đẩy gia tăng giá trị trên mỗi ha đất nông nghiệp, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu, gắn với chế biến, nâng cao đời sống nông dân, chuyển từ lượng sang chất. Đây là tư duy rất đúng đắn góp phần phát triển kinh tế Đồng Tháp nói riêng và cả nước nói chung. Đồng chí Lê Quốc Phong đề xuất nhiều giải pháp từ thực tế phát triển của Đồng Tháp để đẩy mạnh hơn nữa phát triển kinh tế nông nghiệp trên phạm vi cả nước…
Không để ai bị bỏ lại phía sau
Đồng chí Đào Ngọc Dung, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội tham luận về công tác an sinh xã hội, chăm lo gia đình chính sách, người có công. Đồng chí khẳng định: Đảng, Nhà nước có sự quan tâm đặc biệt tới công tác này và đạt nhiều thành tựu nổi bật nhất trong nhiệm kỳ qua. Đây tiếp tục là công việc được quan tâm nhiều trong nhiệm kỳ tới.

Đồng chí Đào Ngọc Dung, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội tham luận về công tác an sinh xã hội, chăm lo gia đình chính sách, người có công.
Đồng chí Đào Ngọc Dung đề xuất một số giải pháp chủ yếu như: hoàn thiện chính sách ưu đãi người có công để có mức sống trung bình khá; triển khai các chính sách giảm nghèo đa chiều bền vững; nâng cao chỉ số hạnh phúc với người dân; kiến tạo môi trường và phát triển thị trường lao động; phát triển việc làm bền vũng trong thanh niên và lao động trung niên; tăng cường tách nhiệm của doanh nghiệp trong đào tạo nghề, phấn đấu năm 2025 có 30-35% số lao động có bằng cấp, năm 2030 là 40-50%; chuyển dịch lao động nông nghệp còn dưới 20-25% vào năm 2025- 2030; thực hiện chính sách tiền lương, thu nhập phù hợp; khuyến khích nhân tài; cải thiện chính sách bảo hiểm, tiến tới bảo hiểm xa hội toàn dân; cung cấp nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ cơ bản nhất là với người nghèo, người yếu thế; nâng tỷ lệ được trợ giúp xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau.
_900x600.jpg)
Các đại biểu dự Đại hội.
Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam
Tham luận về chủ đề “Phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam”, đồng chí Nguyễn Ngọc Thiện, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch nhấn mạnh: Thời gian tới cần xử lý mâu thuẫn giữa yêu cầu về mục tiêu nhân văn của văn hóa với những quy luật khắc nghiệt của kinh tế thị trường; giải quyết mâu thuẫn giữa đòi hỏi rất cao về mục tiêu xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam với sự đầu tư nguồn lực có hạn của Nhà nước, trong bối cảnh đời sống của người dân, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam còn thấp, điều kiện xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật còn nhiều khó khăn.

Đồng chí Nguyễn Ngọc Thiện, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch trình bày tham luận tại Đại hội.
Theo Bộ trưởng, cần xử lý thỏa đáng mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, bảo tồn và phát huy, giữ gìn và phát triển, duy trì, bảo vệ được các giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa và con người Việt Nam, đồng thời xác lập, bổ sung những giá trị mới đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển của xã hội đương đại; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế, địa phương và nhân loại, vừa giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, để Việt Nam hội nhập quốc tế thành công./.