Ngày làm việc thứ hai hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội lần thứ 13 của Đảng
(HPĐT)- Ngày 28-3, hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội lần thứ 13 của Đảng tiếp tục chương trình làm việc ngày thứ hai.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trình bày phương châm xây dượng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 và phương hướng phát triển 2021-2025.
Thành tựu đất nước là minh chứng cho sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng sau 35 năm đổi mới
Buổi sáng, đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ truyền đạt nội dung chuyên đề Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030 và phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2021-2025. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh: Thành tựu của đất nước với cơ đồ, tiềm lực, vị thế như ngày nay là kết quả của cả quá trình nhiều thập kỷ, nhất là qua 35 năm đổi mới. Đất nước chuyển biến mạnh mẽ là minh chứng rõ nét sự đúng đắn đường lối lãnh đạo của Đảng. Qua 35 năm đổi mới, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng lên rõ rệt. Người dân ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ.
Quá trình xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030 và phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2021-2025 được xây dựng, chuẩn bị công phu và hoàn thiện nhiều lần đề cương sơ bộ. Đây là kết quả nghiên cứu, tổng hợp kết quả 42 nhóm chuyên đề trên các lĩnh vực. Qua 7 lần tổ chức hội nghị với 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo vùng, nhiều hội thảo, hội nghị, khảo sát kinh nghiệm quốc tế, Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030 và phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2021-2025 được trình xin ý kiến tại các phiên họp của Bộ Chính trị tại Hội nghị Trung ương lần thứ 10, 11, 13, 14 (khóa 13). Đặc biệt, dự thảo tiếp thu ý kiến của đại hội Đảng các cấp, các đại biểu Quốc hội, Ủy ban MTTQ Việt Nam, cán bộ và nhân dân cả nước. Nội dung luôn bám sát Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; chỉ đạo của Bộ Chính trị, Trung ương, dự báo, nhận diện rõ những cơ hội, thách thức trong 5 năm, 10 năm tới và tầm nhìn đến 2045.
Tự hào với thành tựu được lại càng phải nỗ lực, khát vọng vươn lên
Đánh giá về tình hình thế giới, khu vực và trong nước còn diễn biến phức tạp hơn dự báo, khó lường, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh: Phương châm hành động của chúng ta là toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết, chung sức, đồng lòng, nỗ lực vượt bậc. Huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước. Tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đề ra. Đồng thời, ứng phó linh hoạt, hiệu quả với những biến động tình hình quốc tế, trong nước.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực. Thủ tướng đánh giá, trên bản đồ thị kinh tế khu vực và thế giới, nền kinh tế Việt Nam hiện nằm trong tốp 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ tư trong khu vực ASEAN. Với GDP bình quân đầu người năm 2020 đạt hơn 3.500 USD, Việt Nam nằm trong tốp 10 quốc gia tăng trưởng cao nhất thế giới, là 1 trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới. Với độ mở cửa nền kinh tế đạt khoảng 200% GDP, Việt Nam là một trong những nước có độ mở cao nhất thế giới. Việt Nam xây dựng quan hệ chính thức với 189/193 quốc gia, có quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với hơn 224 nước, vùng lãnh thổ. Việt Nam cũng ký 15 Hiệp định FTA, đang đàm phán 2 FTA và có 16 đối tác chiến lược.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam được duy trì ở mức độ khá cao. Bình quân 10 năm 2011-2020 đạt 5,95%. Năm 2020, mặc dù bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19 nhưng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn đạt 2,91%, là điểm sáng toàn cầu trong thực hiện “mục tiêu kép”. Chất lượng tăng trưởng được cải thiện, năng suất lao động được nâng lên rõ rệt. Trong đó, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đạt 33,6% giai đoạn 201-2015 và 45,7% giai đoạn 2016-2020; tốc độ tăng năng suất lao động bình quân 2011-2015 đạt 4,3%/năm, giai đoạn 2016-2020 tăng lên 5,9%.
Kinh tế vĩ mô ổn định vững chắc hơn, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp. các cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện, thể hiện trong việc lạm phát được kiểm soát ở mức thấp; xuất nhập khẩu tăng mạnh; cán cân thương mại chuyển biến rõ rệt; dữ trữ ngoại hối tăng kỷ lục; bội chi ngân sách nhà nước so với GDP giảm mạnh; tỷ lệ nợ công so với GDP giảm.
Về huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển được đẩy mạnh, đầu tư khu vực ngoài nhà nước tăng nhanh và chất lượng, hiệu quả được cải thiện. Tổng số vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 2011-2020 tăng bình quân 10,1% /năm (đạt gần 15,7 triệu tỉ đồng, tương đương 673 tỷ USD). Vốn đầu tư của khu vực ngoài nhà nước ở trong nước chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng đầu tư xã hội (tăng từ 36,1%năm 2010 lên 44,9% năm 2020). Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh (tổng số vốn đăng ký giai đoạn 2011-2020 đạt 268,2 tỷ USD; vốn thực hiện đạt 152,3 tỷ USD, chiếm 22,6% tổng vốn đầu tư toàn xã hội).
Về cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, các trọng tâm cơ cấu lại về đầu tư công, các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp nhà nước được tập trung thực hiện và đạt kết quả tích cực. Cơ cấu kinh tế ngành và nội ngành chuyển biến; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo, ứng dụng công nghệ cao tăng lên. Tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong GDP giảm từ 18,9% năm 2010 còn 15,2% năm 2020; các khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng từ 81,1% lên 84,8%. Cơ cấu nội ngành chuyển dịch tích cực (tỷ trọng ngành khai khoáng giảm từ 9,5% GDP xuống còn 5,5%).
Về thực hiện các đột phá chiến lược, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hoàn thiện theo hướng hiện đại, đồng bộ và hội nhập, vị trí xếp hạng môi trường kinh doanh toàn cầu tăng từ 88/183 năm 2010 lên 70/190 năm 2019. Phát triển nguồn nhân lực được đẩy mạnh, nhất là nhân lực chất lượng cao, phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ đạt kết quả tích cực, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 40% năm 2010 lên 64,5% năm 2020; chỉ số đổi mới sáng tạo năm 2020 xếp thứ 42/131, tăng 17 bậc so với năm 2016. Tập trung các nguồn lực xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với các công trình hiện đại, nhất là hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn.
Về phát triển vùng, kinh tế biển, đô thị, xây dựng nông thôn mới, nhiều công trình hạ tầng kết nối vùng được hoàn thành, các vùng kinh tế trọng điểm, đô thị lớn tiếp tục phát huy vai trò đầu tàu trong phát triển kinh tế-xã hội; tiềm năng lợi thế của biển dược phát huy, nhiều địa phương có biển phát triển năng động; tỷ lệ đô thị hóa tăng từ 30,5% năm 2010 lên 40% năm 2020; đến năm 2020, cả nước có 62% số xã và 173 huyện đạt chuẩn nông thôn mới.
Đời sống văn hóa ngày càng phong phú, nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp được phát huy; tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 3% vào năm 2020. Chính phủ thực hiện tốt các chính sách ưu đãi với hơn 9,2 triệu người có công trên cả nước; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 90,7% vào năm 2020. Công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân được nâng cao. Đặc biệt, Việt Nam kiểm soát tốt đại dịch COVID-19 được nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận. Công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu ngày càng được chú trọng hơn.
Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước được nâng lên; cải cách hành chính, cải cách tư pháp trên một số lĩnh vực có bước đột phá; tích cực xây dựng Chính phủ, chính quyền điện tử, cung cấp dịch vụ công trực tuyến.
Kết quả đạt được là đáng tự hào, song, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lưu ý, chúng ta tuyệt đối không được thỏa mãn, mà phải có khát vọng vươn lên. Từng địa phương cố gắng, từng doanh nghiệp, người dân cùng có khát vọng, nỗ lực vươn lên sẽ đóng góp chung cho sự phát triển mạnh mẽ của đất nước.
5 quan điểm phát triển, thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội
Thẳng thắn nêu những hạn chế, yếu kém, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định: Chủ đề Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030 là: Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy mạnh mẽ giá trị văn hóa, con người Việt Nam và sức mạnh thời đại, huy động mọi nguồn lực, phát triển nhanh và bền vững trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phấn đấu đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Thủ tướng nhấn mạnh: Chúng ta phải đi trước đón đầu, quyết tâm chính trị cao, ý chí dân tộc và khát vọng phát triển trong mọi người dân, doanh nghiệp và từng địa phương. Đây là cơ sở trong thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu. Việt Nam hoàn toàn có khả năng tăng trưởng cao, nếu không có biện pháp để tăng trưởng cao thì sẽ tụt hậu, không phát triển bền vững, nghèo, thu nhập thấp, lạc hậu.
Về các chỉ tiêu chủ yếu, mục tiêu 5 năm 2021-2025: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 6,5-7%/năm; GDP bình quân đầu người đạt 4.700-5000 USD; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt hơn 25% GDP, tỷ trọng kinh tế số đạt 20% GDP… Và mục tiêu 10 năm 2021-2030: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 7%/năm; GDP bình quân đầu người đạt 7.500 USD; Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt hơn 30% GDP, tỷ trọng kinh tế số đạt 30% GDP… Áp lực liên tục tăng cao, song Thủ tướng Chính phủ lưu ý phải giữ cả về số lượng và chất lượng, phải chú ý các chỉ tiêu về môi trường, xã hội như tuổi thọ bình quân, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ; tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội; tỷ lệ che phủ rừng…
Thủ tướng phân tích, làm rõ 5 quan điểm phát triển:
Thứ nhất, phát triển nhanh và bền vững; dựa chủ yếu vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phải đổi mới tư duy và hành cộng, chủ động nắm bắt cơ hội; phát triển hài hòa 3 trụ cột kinh tế - xã hội và môi trường.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; lấy cải cách, nâng cao chất lượng thể chế và thực thi pháp luật hiệu lực, hiệu quả là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy phát triển đất nước; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ nguồn lực; thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số, các sản phẩm dịch vụ, mô hình mới; coi trọng quản lý phát triển xã hội; phát triển nhanh, hài hòa các khu vực kinh tế, phát triển kinh tế tư nhân thực sự là một động lực quan trọng của nền kinh tế;..
Thứ ba, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí tự cường và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng sức mạnh nội sinh quan trọng; phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước;…
Thứ tư, xây dựng nền kinh tế tự chủ trên cơ sở làm chủ công nghệ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; phát huy nội lực là yếu tố quyết định gắn lới ngoại lực và sức mạnh thời đại...
Thứ năm, chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường với quốc phòng - an ninh, đối ngoại; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn…
Đột phá về thể chế, chính sách là yếu tố quyết định sự thành công
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, việc xác định các đột phá chiến lược là đặc biệt quan trọng. Bởi đây là những yếu tố nền tảng mang tính đột phá cho phát triển đất nước. Yêu cầu đặt ta là vừa bảo đảm tính kế thừa, vừa bổ sung. Theo đó, tinh thần thống nhất cao về các đột phá chiến lược giữa các văn kiện Nghị quyết 13 của Đảng. Tiếp tục thực hiện 3 đột phá chiến lược (về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, phát triển nguồn nhân lực và hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng). Đồng thời, bổ sung những nội hàm mới phù hợp với tình hình phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Trong đó, Thủ tướng đặc biệt nhấn mạnh đến đột phá về hoàn thiện thể chế, bởi đây là yếu tố quyết định đến sự thành công hay không.
Theo đó, tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nâng cao chất lượng thể chế, bảo đảm đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập (trọng tâm là thị trường các yếu tố sản xuất, nhất là thị trường quyền sử dụng đất, thị trường khoa học, công nghệ). Huy động, sử dụng các nguồn lực thực hiện theo cơ chế thị trường; đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, nhất là quản lý phát triển và quản lý xã hội. Xây dựng bộ máy Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, bảo đảm quản lý thống nhất và phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cấp, các ngành.
Đột phá thứ hai là, tiếp tục phát triển toàn diện nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ đổi mới sáng tạo gắn với khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự cường và phát huy giá trị, văn hóa, con người Việt Nam. Đổi mới căn bản, toàn diện và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo; chú trọng đào tạo nhân lực chất lượng cao, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài. Phát triển mạnh mẽ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để đạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh (có thể chế, cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội). Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, lòng tự hào đân tộc, ý chí tự cường và phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam.
Đột phá thứ ba là tiếp tục hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội đồng bộ, hiện đại. Trọng tâm là ưu tiên phát triển hạ tầng trọng yếu về giao thông, năng lượng, công nghệ thông tin, đô thị lớn, hạ tầng ứng phó với biến đổi khí hậu. Phát triển mạnh hạ tầng số, xây dựng và phát triển đồng bộ hạ tầng dữ liệu quốc gia, vùng, địa phương kết nối đồng bộ thống nhất, tạo nền tảng phát triển kinh tế số, xã hội số.
Từ 3 đột phá đó, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu lên các phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong giai đoạn tiếp theo, tập trung 10 lĩnh vực trọng tâm, gồm: Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; Nguồn nhân lực và giáo dục, đào tạo; Cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; Kết cấu hạ tầng kinh tế vùng, kinh tế biển, đô thị, nông thôn; Văn hóa, xã hội, đời sống nhân dân; Tài nguyên, môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu; Quốc phòng - an ninh; Đối ngoại, hội nhập quốc tế; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Dồn sức thực hiện với quyết tâm cao nhất
Về tổ chức thực hiện hiệu quả cao Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030 và phương hướng, nhiệm vụ 5 năm tới 2021-2025, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu: “Kế hoạch 10 phần thì biện pháp 20 phần, quyết tâm 30 phần”. Song, Thủ tướng chỉ rõ, tổ chức thực hiện là khâu quan trọng nhưng lại đang là khâu yếu, do đó đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức Đảng, các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương phải dồn sức thực hiện. Chính phủ ban hành chương trình, kế hoạch hành động của Chính phủ. Từng cấp, ngành, địa phương xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể theo quy định phạm vi quản lý, chức năng, nhiệm vụ được giao; chú trọng tháo gỡ vướng mắc, khó khăn, nút thắt với phương châm xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Thủ tướng cho rằng, để tháo gỡ vướng mắc, đòi hỏi cán bộ phải “lên rừng, xuống biển”, lắng nghe những tâm tư, nguyện vọng của người dân, doanh nghiệp.
Về phương thức tổ chức thực hiện phải đổi mới, thiết thực; xác định rõ trách nhiệm, nhất là người đứng đầu; có chế tài kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh vi phạm. Có kế hoạch cụ thể về kiểm tra, giám sát, đánh giá thực hiện “chứ không thể hết mùa xuân đến mùa đông”, “nước chảy bèo trôi” mà không có sản phẩm gì. Từ đó, quy định rõ trách nhiệm cụ thể đối với cấp ủy Đảng, chính quyền, đặc biệt là người đứng đầu, là cơ sở để đánh giá cán bộ, tổ chức. Thủ tướng cũng lưu ý, trong quá trình thực hiện, khi xuất hiện vấn đề mới, báo cáo cấp có thẩm quyền trình Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị quyết định thí điểm/.