Con đường đưa Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác – Lênin

Th.s Phạm Thị Dung, Giảng viên Khoa Xây Dựng Đảng, Trường Chính trị Tô Hiệu 08/06/2021 11:37

Bến Cảng Nhà Rồng ngày nay. Ảnh: Nhandan.com.vn

(HPĐT)- Cách đây tròn 110 năm (5-6-1911 – 5-6-2021), tại bến Cảng Nhà Rồng của thành phố Sài Gòn diễn ra một sự kiện có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của cách mạng Việt Nam về sau. Đó là việc người thanh niên Nguyễn Tất Thành quyết tâm xuống tàu buôn Pháp Đô đốc Latouche Tresville rời Tổ quốc thân yêu đang bị giày xéo dưới ách cai trị của đế quốc Pháp và tay sai sang phương Tây tìm đường cứu nước. Với sự mẫn cảm, nhạy bén đặc biệt về chính trị và những hành trang đặc biệt mang theo Người đến được với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy con đường giải phóng dân tộc - con đường cách mạng vô sản.


Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước ở quê hương xứ Nghệ giàu tình thương và tinh thần quật khởi. Lớn lên trong hoàn cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân sống lầm than, nô lệ, Người sớm hoà mình vào cuộc sống của quần chúng lao khổ và tham gia phong trào yêu nước. Cùng nhiều người Việt Nam yêu nước khác lúc đó, trước yêu cầu của lịch sử, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường giải phóng dân tộc. Trong hành trang của họ mang theo lúc bấy giờ đều có một điểm chung, đó là lòng yêu  nước sâu sắc, với ý chí quyết tâm đánh đuổi thực dân Pháp. Nhưng, ở Nguyễn Ái Quốc tình cảm yêu nước còn gắn liền với lòng thương yêu dân vô hạn. Tất cả ý nghĩa cuộc sống đối với Người lúc đó là cứu nước, giải phóng dân tộc, cứu đồng bào khỏi kiếp đọa đày đau khổ. Người coi đấy là lẽ sống thiêng liêng nhất. "Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu". Với hành trang đầu tiên là tinh thần yêu nước mãnh liệt, đậm đà bản sắc dân tộc, với tính nhân văn cao cả, luôn hướng về những người cùng khổ và bằng trí tuệ sáng suốt, Người đã lựa chọn hướng đi và những quyết định đúng đắn để đến với chủ nghĩa Mác - Lênin - chủ nghĩa cộng sản.

Thứ hai, phê phán những hạn chế của các nhà yêu nước đương thời, Nguyễn Tất Thành xác định cho mình một con đường, một hướng đi mới. Hành trang của Người khi ra đi tìm đường cứu nước không chỉ là chủ nghĩa yêu nước đã được đổi mới và nâng cao cho phù hợp với yêu cầu của thời đại mới, mà Người còn chuẩn bị cho mình những tiền đề tư tưởng, lựa chọn hướng đi và điểm tới của mình. Vượt qua hạn chế của những nguời yêu nước đương thời, năm 1911 Nguyễn Tất Thành ra đi tìm một con đường cứu nước mới. Khác với các nhà yêu nước tiền bối và bằng mẫn cảm thiên tài, Nguyễn Ái Quốc đã đi về phương Tây, nơi có tư tưởng “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái”.

Từ  lúc  thực  dân  Pháp  xâm  lược  Việt Nam  đến  thập  niên đầu của thế kỷ 20, có nhiều người Việt Nam xuất dương cứu nước, nhưng điểm khác nhau giữa họ là ở mục đích xuất dương. Những chuyến đi của Tôn Thất Thuyết, của những nhân vật trong phong trào Đông Du, chủ yếu là tìm ngoại viện, cầu học. Nguyễn Tất Thành xác định mục đích xuất dương hoàn toàn khác "tôi muốn đi ra ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta". Như vậy trước lúc ra đi, Người đã có nhận thức rõ ràng, cái mà dân tộc cần trước tiên chưa phải là súng đạn, của cải mà là con đường, cách thức giải phóng dân tộc, giải phóng đồng bào. Chính nhờ xác định đúng hướng đi, Nguyễn Ái Quốc có điều kiện trở thành người Việt Nam yêu nước đầu tiên đến với và lựa chọn con đường cách mạng vô sản.

Thứ ba, kết hợp lý luận với hoạt động thực tiễn, Người đã tìm ra hạn chế của các cuộc cách mạng tư sản và lựa chọn con đường mới giải phóng cho dân tộc, đem lại hạnh phúc, ấm no cho nhân dân. Những tiền đề tư tưởng mà Người chuẩn bị trong hành trang ra đi chưa đủ bảo đảm để Người đến được với chủ nghĩa cộng sản mà không phải một con đường nào khác. Phải có một quá trình hoạt động thực tiễn phong phú, gắn với hoạt động tư duy khoa học mới có thể đưa Người tới sự lựa chọn đúng đắn, tiếp cận với chân lý của thời đại. Đây là một yếu tố quan trọng tác động tới nhận thức, tư tưởng và sự chuyển biến của chủ nghĩa yêu nước Nguyễn Tất Thành.

Trên  hành  trình  tìm đường  cứu  nước, Nguyễn Tất Thành đi qua nhiều châu lục, len lỏi trong quần chúng cần lao, trong giới thợ thuyền, những người nông dân nghèo khổ, đến các nông thôn hẻo lánh ở New York, Luân Đôn, Pari, Thái Lan, Trung Quốc... để tìm hiểu, tham gia vận động và tổ chức các phong trào cách mạng. Thông  qua  lao  động, Nguyễn  Ái Quốc gần gũi với cuộc sống của nhân dân lao động,  hiểu  được nỗi  thống  khổ,  hiểu được nguyện vọng, ý chí, năng lực của họ và đồng cảm với họ. Trên cơ sở đó, Người rút ra được kết luận có tính chất nền tảng trước tiên về bạn và thù “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”[1]. Nhận thức này giúp Người tránh khỏi chủ nghĩa cải lương hẹp hòi đang phổ biến ở những người Việt Nam lúc đó và đặt cơ sở cho việc Người có thể tiếp nhận chủ nghĩa Mác - Lênin sau này.

Tại Pháp Người cùng với một số người Việt Nam yêu nước trên đất Pháp lập ra Hội những người Việt Nam yêu nước, gia nhập Đảng xã hội Pháp, một đảng tiến bộ lúc đó, thường lên tiếng bảo vệ các nước thuộc địa. Năm 1919, thay mặt những nguời Việt Nam yêu nước trên đất Pháp, Người gửi tới hội nghị Versailles bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm, đòi chính phủ Pháp thừa nhận các quyền tự do, dân chủ, quyền bình đẳng dân tộc Việt Nam. Bản yêu sách tuy không được chấp nhận nhưng đã gây tiếng vang lớn. Qua thái độ của các nước đế quốc thắng trận trong hội nghị Versailles, Người rút ra kết luận quan trọng vượt xa tư tưởng của những người yêu nước Việt Nam lúc bấy giờ là “phải tự mình cứu lấy mình”. Đó là mốc quan trọng để Nguyễn Ái Quốc chuyển từ tư tưởng dân chủ tư sản sang tư tưởng vô sản.

Khác với các nhà yêu nước đương thời, Nguyễn Ái Quốc còn có một phương pháp nghiên cứu độc lập, tự chủ, sáng tạo, đem lý luận đối chiếu với thực tiễn, lấy mục tiêu giải phúng dõn tộc, giải phóng xã hội làm tiêu chuẩn đánh giá các học thuyết, tiếp thu kinh nghiệm cách mạng thế giới có chọn lọc.

Trước cách mạng tháng Mười, Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu, khảo sát nhiều cuộc cách mạng trên thế giới, Người đặc biệt quan tâm đến cách mạng Mỹ (1776) và cách mạng Pháp (1789). Người rất khâm phục tinh thần cách mạng ở những nước này, nhưng không thể đi theo con đường cách mạng của họ được. Bởi, theo Người: “Cách mạng Pháp cũng như cách mạng Mỹ, nghĩa là cách mạng tư bản, cách mạng không đến nơi, tiếng là dân chủ kỳ thực trong thì nó tước đoạt công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa… Cách mạng Việt Nam nên nhớ những điều ấy”[2].

Năm 1917, chủ nghĩa Nga thành công, mở ra thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, mở đường cho phong trào giải phóng dân tộc. Sự kiện quan trọng này ảnh hưởng trực tiếp đối với sự phát triển tư tưởng, chính trị và con đường cách mạng của Nguyễn Ái Quốc.

Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Luận cương đó giải đáp trúng những vấn đề mà Nguyễn Ái Quốc đang trăn trở tìm hiểu, giúp Người thấy ra con đường thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, nhận ra lập trường của Lênin và Quốc tế thứ ba khác hẳn với những lời tuyên bố suông của Quốc tế thứ hai. Luận cương của Lênin đó có ảnh hưởng quyết định đến lập trường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc: Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tán thành Quốc tế thứ ba, đặt cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo cách mạng vô sản, trở thành một trong những nhà sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam.

Từ đây, cùng với việc thực hiện nhiệm vụ đối với phong trào cộng sản quốc tế, Nguyễn Ái Quốc xúc tiến nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vạch phương hướng, chiến lược và sách lược cho cách mạng Việt Nam. Hơn một thế kỷ nhìn lại ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, tìm thấy con đường chân chính giải phóng dân tộc, mỗi chúng ta càng thấy tầm vóc lớn lao và ý nghĩa lịch sử vĩ đại của sự kiện này. Chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc trên đất nước Việt Nam thân yêu hôm nay đã được bắt đầu và quyết định từ những ngày tháng “Người đi tìm hình của nước”. Một con người, một tấm lòng với khát vọng cháy bỏng quyết ra đi tìm đường cứu nước, nay đã để lại một dấu ấn lịch sử huy hoàng: Đó là thời đại Hồ Chí Minh và “chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”./. 


[1] Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Sự thật, H, 1980, tập 1, tr 212

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Sự thật, H, 2000, tập 1, tr 34

Th.s Phạm Thị Dung, Giảng viên Khoa Xây Dựng Đảng, Trường Chính trị Tô Hiệu