Đề án Quy định một số mức hỗ trợ thực hiện Nghị định 105/2020/NĐ-CP ngày 8-9-2020 của Chính phủ về chính sách phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Hải Phòng

13/07/2021 11:05

I. SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN


Cô và trò Trường mầm non An Dương trong giờ học. (ảnh chụp trước 27-4-2021). Ảnh: Thu Hiền 

Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi với mục tiêu được quy định cụ thể trong Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 ngày 27-6-2019 của Quốc hội "giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một". Theo Điều 24 của Luật giáo dục, mục tiêu giáo dục mầm non được cụ thể hóa trong Chương trình giáo dục mầm non bảo đảm “Quy định yêu cầu cần đạt ở mỗi độ tuổi” và “được thống nhất trong cả nước”.

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4-11-2013 của Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 4-6-2019 của Chính phủ về tăng cường huy động các nguồn lực của xã hội đầu tư cho phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2020-2025. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đầu tư phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố.

Hải Phòng đang trở thành trung tâm công nghiệp nhờ sự cải thiện liên tục của cơ sở hạ tầng và dịch vụ hậu cần, theo đó thu hút nhiều công nhân lao động từ các nơi đến sinh sống. Lao động trong các khu công nghiệp chủ yếu là lao động trẻ, độ tuổi bình quân từ 18 đến 35 tuổi, lao động có con nhỏ chiếm tỷ lệ từ 30-35% nên công nhân lao động có nhu cầu gửi con trong độ tuổi mầm non ngày càng gia tăng. Vì vậy, việc xây dựng Đề án quy định một số mức hỗ trợ thực hiện Nghị định 105/2020/NĐ-CP ngày 8-9-2020 của Chính phủ về chính sách phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Hải Phòng là rất cần thiết.

II. CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

1. Căn cứ pháp lý

- Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13 ngày 19-6-2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 47/2019/QH14 ngày 22-11-2019;

- Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13 ngày 22-6-2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 18- 6-2020;

- Luật ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 ngày 25-6-2015;

- Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 ngày 14- 6-2019;

- Chỉ thị số 09-CT/TTg ngày 22-5-2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh thực hiện các giải pháp giải quyết vấn đề trường, lớp mầm non ở các khu công nghiệp, khu chế xuất;

- Quyết định số 1677/QĐ-TTg ngày 3-12- 2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2018-2025.

- Nghị định 105/2020/NĐ-CP ngày 8-9-2020 của Chính phủ quy định chính sách phát triển giáo dục mầm non (sau đây gọi là Nghị định 105/2020/NĐ-CP ):

Tại Điều 5 Nghị định 105/2020/NĐ-CP ngày 8-9-2020 quy định chính sách đối với cơ sở giáo dục mầm non độc lập dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp, nơi có nhiều lao động:

“1. Đối tượng hưởng chính sách

Cơ sở giáo dục mầm non độc lập ở địa bàn có khu công nghiệp thuộc loại hình dân lập, tư thục đã được cấp có thẩm quyền cấp phép thành lập theo đúng quy định có từ 30% trẻ em là con công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp.

2. Nội dung chính sách

Đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này được hỗ trợ trang bị cơ sở vật chất 1 lần, bao gồm: trang bị đồ dùng, đồ chơi, thiết bị dạy học theo danh mục quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và hỗ trợ kinh phí sửa chữa cơ sở vật chất để phục vụ trực tiếp cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em. Mức hỗ trợ tối thiểu là 20 (hai mươi) triệu đồng/cơ sở giáo dục mầm non độc lập.

3. Phương thức thực hiện

Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều này, căn cứ khả năng ngân sách địa phương và số lượng cơ sở giáo dục mầm non độc lập trên địa bàn thuộc diện được hỗ trợ, UBND cấp tỉnh xây dựng kế hoạch, phương án hỗ trợ, phương án kiểm tra việc hỗ trợ và sử dụng kinh phí cho các cơ sở giáo dục mầm non độc lập trình HĐND cấp tỉnh phê duyệt để tổ chức thực hiện, bảo đảm việc hỗ trợ cho các cơ sở giáo dục mầm non độc lập hoàn thành trước ngày 30 tháng 6 hằng năm”.

Tại Điều 8 Nghị định 105/2020/NĐ-CP ngày 8-9-2020 quy định chính sách trợ cấp đối với trẻ em mầm non là con công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp:

“1. Đối tượng hưởng chính sách

Trẻ em đang học tại các cơ sở giáo dục mầm non thuộc loại hình dân lập, tư thục đã được cơ quan có thẩm quyền cấp phép thành lập và hoạt động theo đúng quy định có cha hoặc mẹ hoặc người chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em là công nhân, người lao động đang làm việc tại các khu công nghiệp được doanh nghiệp ký hợp đồng lao động theo quy định.

2. Nội dung chính sách

Trẻ em thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này được hỗ trợ tối thiểu 160.000 đồng/trẻ/tháng. Thời gian hỗ trợ tính theo số tháng học thực tế, nhưng không quá 9 tháng/năm học.

Mức hỗ trợ do UBND cấp tỉnh xây dựng phù hợp với khả năng ngân sách của địa phương, trình HĐND cùng cấp xem xét, quyết định”.

Tại Điều 10 Nghị định 105/2020/NĐ-CP ngày 8-9-2020 quy định chính sách đối với giáo viên mầm non làm việc tại cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp:

“1. Đối tượng hưởng chính sách

Giáo viên mầm non đang làm việc tại cơ sở giáo dục mầm non thuộc loại hình dân lập, tư thục đã được cơ quan có thẩm quyền cấp phép thành lập và hoạt động theo quy định ở địa bàn có khu công nghiệp bảo đảm những điều kiện sau:

- Có trình độ chuẩn đào tạo chức danh giáo viên mầm non theo quy định;

- Có hợp đồng lao động với người đại diện theo pháp luật của cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục;

- Trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ tại nhóm trẻ/lớp mẫu giáo có từ 30% trẻ em là con công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp.

2. Nội dung chính sách

Giáo viên mầm non bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này được hỗ trợ tối thiểu 800.000 đồng/tháng (tám trăm ngàn đồng một tháng).

 Số lượng giáo viên trong cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục được hưởng hỗ trợ được tính theo định mức quy định đối với các cơ sở giáo dục mầm non công lập hiện hành.

Thời gian hưởng hỗ trợ tính theo số tháng dạy thực tế trong năm học.

Mức hỗ trợ này nằm ngoài mức lương thỏa thuận giữa chủ cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục với giáo viên và không dùng tính đóng hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp. Mức hỗ trợ do UBND cấp tỉnh xây dựng phù hợp với khả năng ngân sách của địa phương, trình HĐND cùng cấp xem xét, quyết định”.

2. Cơ sở thực tiễn

2.1. Hệ thống giáo dục mầm non công lập

2.1.1. Quy mô phát triển Quy mô, mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non thành phố được duy trì ổn định và không ngừng phát triển, cơ bản đáp ứng yêu cầu chăm sóc, giáo dục trẻ trên địa bàn. Loại hình giáo dục mầm non được phát triển đa dạng. Tính đến tháng 6-2021 còn 5/217 (2,3%) xã, phường chưa có trường mầm non công lập (thuộc phường: Lạc Viên, Gia Viên (quận Ngô Quyền); phường: Hồ Nam, Niệm Nghĩa, Đông Hải (quận Lê Chân). Một số địa bàn nơi tập trung đông dân cư có từ 1-3 trường mầm non/xã, phường, thị trấn (trong đó bao gồm cả loại hình trường công lập và tư thục).

Tổng số cơ sở giáo dục mầm non hiện có 335 trường mầm non (công lập 241, tư thục 90, dân lập 4); 308 cơ sở nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục. Tổng số 4.362 nhóm, lớp (trong đó có 1.028 nhóm nhà trẻ, 3.334 lớp mẫu giáo). Huy động được 76,5% trẻ mầm non ra lớp, tỷ lệ trẻ nhà trẻ ra lớp đạt 41,9 %, trẻ mẫu giáo ra lớp đạt 97,4%.

2.1.2. Chất lượng chăm sóc giáo dục

Giáo dục mầm non thành phố đã triển khai nhiều biện pháp nhằm củng cố nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe, bảo đảm an toàn cho trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non, đặc biệt trong các cơ sở mầm non tư thục. Công tác nuôi dưỡng, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho trẻ mầm non được quản lý chặt chẽ; 100% số trẻ đi học được nuôi dưỡng tại trường, được bảo đảm an toàn tuyệt đối về thể chất và tinh thần. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân 1,8%, thể thấp còi còn 2,3%, góp phần làm giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng trong cộng đồng.

Hoàn thành triển khai thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới trong toàn thành phố theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo tới 100% các trường mầm non; tập trung vào đổi mới nội dung phương pháp tổ chức các hoạt động giáo dục theo quan điểm giáo dục tích hợp, “lấy trẻ làm trung tâm”, phát triển năng lực cá nhân trẻ; thực hiện tốt việc lồng ghép giáo dục kỹ năng sống, giáo dục vệ sinh, xây dựng môi trường giáo dục thể chất và nâng cao chất lượng tổ chức các hoạt động giáo dục phát triển thể chất cho trẻ; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục mầm non và tổ chức hoạt động giáo dục mầm non. Trẻ em đến trường lớp mầm non được quan tâm phát triển toàn diện cả thể lực, trí tuệ và có kỹ năng xã hội.

Tính đến 6-2021, đã có 329/335 trường đủ điều kiện kiểm định chất lượng giáo dục (chiếm 98,2%); 281/329 trường hoàn thành tự đánh giá (đạt 85,4%); 209/335 trường được đánh giá ngoài đạt chuẩn cấp độ 1 trở lên, đạt 62,39%.

2.1.3. Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên

Công tác phát triển đội ngũ từng bước được quan tâm. Chất lượng đội ngũ ngày càng được nâng lên. Theo thống kê tháng 6-2021, toàn thành phố hiện có 12.975 cán bộ, giáo viên, nhân viên trong đó có 9.481 cán bộ, giáo viên (6.807 cán bộ, giáo viên công lập và 2.674 cán bộ, giáo viên ngoài công lập). Tỷ lệ giáo viên/lớp nhà trẻ đạt bình quân 2,09; tỷ lệ giáo viên mẫu giáo/lớp đạt bình quân 1,95. Giáo viên đạt trình độ chuẩn đào tạo trở lên theo Luật Giáo dục 2019 là 6.716 người đạt 77,7%. Số lượng cán bộ quản lý, giáo viên hiện còn thiếu so với quy định tại Thông tư liên tịch 06/2015/TTLT-BGDĐT-BNV là 1.258 người (công lập: 706, tư thục: 544; dân lập: 8).

Chính sách đối với đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên trong các cơ sở giáo dục mầm non được tổ chức triển khai và thực hiện nghiêm túc, đúng quy định.

2.1.4. Cơ sở vật chất

Tính đến tháng 6-2021, toàn thành phố có 4.362 phòng học cho trẻ mầm non, trong đó phòng học kiên cố là 4.072 (đạt 93,35%); 97,9% số trường có sân chơi ngoài trời với tổng số sân chơi là 596 sân, 95,8% sân chơi có thiết bị đồ chơi. Có 3.891 nhà vệ sinh khép kín cho từng nhóm lớp (đạt 92,53%), 3.015 nhà vệ sinh đạt chuẩn (đạt 71,7%); 95,9% nhóm lớp có đủ đồ dùng thiết bị đồ chơi theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; 100% các trường mầm non kết nối internet và sử dụng phần mềm hỗ trợ công tác quản lý.

Giai đoạn 2015 - 2020, thành phố dành nguồn kinh phí lớn đầu tư, mua sắm trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi cho các cơ sở giáo dục mầm non. Theo đó, cơ bản các trường mầm non được quan tâm trang bị về số lượng, chủng loại, bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật trang thiết bị đồ dùng đồ chơi tối thiểu và ngoài trời theo quy định hiện hành.

2.2. Hệ thống giáo dục mầm non ngoài công lập

2.2.1. Quy mô trường lớp mầm non ngoài công lập

Quy mô trường lớp mầm non tư thục phát triển nhanh, một số trường mầm non tư thục được xây dựng kiên cố, đầu tư trang thiết bị theo hướng chuẩn và hiện đại góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ. Trường mầm non tư thục chiếm tỷ lệ 26,9% tổng số trường mầm non của toàn thành phố. Có 308 cơ sở độc lập tư thục. Giáo dục mầm non tư thục thu hút 28.054 trẻ đến trường, lớp chiếm tỷ lệ 23,2% tổng số cháu mầm non được huy động đến trường lớp.

Quy mô cơ sở giáo dục mầm non tư thục phát triển nhanh và mạnh góp phần đáp ứng nhu cầu cho trẻ đi học của một bộ phận cha mẹ trẻ, giảm áp lực quá tải trẻ đối với các trường mầm non công lập, bảo đảm an sinh xã hội. Tuy nhiên, các trường mầm non tư thục ở Hải Phòng chủ yếu được đầu tư quy mô nhỏ (từ 3 đến 6 nhóm lớp), đặc biệt các nhóm, lớp tư thục độc lập nhỏ lẻ phát triển mạnh nhưng không ổn định là một vấn đề phức tạp, khó khăn đối với các nhà quản lý giáo dục, đòi hỏi các cấp, các ngành cùng cộng đồng trách nhiệm.

2.2.2. Chất lượng chăm sóc giáo dục

Các trường mầm non tư thục đã được cấp phép hoạt động giáo dục nhìn chung chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ từng bước đi vào hoạt động có nề nếp, bước đầu có những kết quả nhất định. Đến nay, các cơ sở tư thục được cấp phép hoạt động đã thực hiện theo chương trình giáo dục mầm non. 100% trẻ được chăm sóc, giáo dục tại các trường, lớp bán trú, tỷ lệ trẻ được khám sức khỏe, theo dõi sức khỏe bằng biểu đồ phát triển trong trường mầm non đạt 100%; Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân 3,0%; thể thấp còi 2,2%. 100% trẻ 5 tuổi được huy động vào lớp 1.

Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận cơ sở giáo dục mầm non đã được cấp phép không bảo đảm chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ theo đúng yêu cầu: Không thực hiện tổ chức chế độ sinh hoạt cho trẻ theo đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Công tác quản lý chăm sóc sức khỏe, vệ sinh, nuôi dưỡng còn tùy tiện, thực hiện chế độ nuôi dưỡng theo kiểu gia đình, sức khỏe của trẻ không bảo đảm; Số trẻ trong một nhóm lớp quá đông, phòng học nhỏ, số giáo viên/lớp không đúng theo yêu cầu, các kỹ năng cần đạt của trẻ còn nhiều hạn chế.

2.2.3. Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên

Tổng số đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên các cơ sở mầm non tư thục là 3.522 người. Số cán bộ quản lý, giáo viên đạt chuẩn về chuyên môn theo Luật Giáo dục 2019 đạt 31,6%. Các trường mầm non tư thục đã có quyết định thành lập trường, phần lớn người lao động ở loại hình trường này đều có hợp đồng lao động theo kỳ hạn do thỏa thuận giữa chủ trường với giáo viên, nhân viên và được đóng bảo hiểm theo đúng quy định của nhà nước. Tuy nhiên, thu nhập của giáo viên, nhân viên các trường mầm non tư thục nhìn chung chưa đúng theo chế độ của nhà nước quy định: giáo viên và nhân viên không được xếp lương theo ngạch bậc, hưởng phụ cấp nghề nghiệp, tăng lương theo định kỳ và các chế độ khen thưởng khác. Lương trung bình của giáo viên và nhân viên từ 4,5 triệu đến 6 triệu đồng/tháng.

2.2.4. Cơ sở vật chất

Hệ thống giáo dục mầm non tư thục của Hải Phòng trong những năm gần đây phát triển cả về số lượng và quy mô trường lớp. Nhiều trường mầm non tư thục được đầu tư cơ sở vật chất theo hướng chuẩn và hiện đại, nhóm lớp rộng rãi, đầy đủ trang thiết bị chăm sóc giáo dục trẻ. Hải Phòng có 2 trường mầm non tư thục được công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia (Trường Mầm non Hải Viên quận Ngô Quyền và Trường Mầm non Sao Mai quận Hồng Bàng); 2 trường mầm non tư thục có yếu tố nước ngoài (Trường Mầm non Vinschool quận Hồng Bàng và Trường Quốc tế QSI quận Dương Kinh).

Bên cạnh đó, một số trường mầm non tư thục, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục chưa đáp ứng yêu cầu chăm sóc giáo dục trẻ, tiềm ẩn nguy cơ không an toàn đối với trẻ mầm non: Diện tích phòng chật chội, không đủ không gian, không có sân chơi cho trẻ hoạt động; Công trình vệ sinh không phù hợp cho trẻ sử dụng và không bảo đảm an toàn; Không có không gian riêng biệt cho tổ chức hoạt động học tập, vui chơi cho trẻ; Đồ dùng thiết bị chưa được kê xếp theo chuẩn mực tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn; Đồ dùng, đồ chơi, trang thiết bị phục vụ công tác chăm sóc giáo dục trẻ thiếu nhiều, không được bổ sung thường xuyên, kịp thời, chưa đáp ứng được yêu cầu chăm sóc giáo dục trẻ.

2.3. Giáo dục mầm non ngoài công lập ở địa bàn có khu công nghiệp

2.3.1. Đặc điểm cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập ở địa bàn có khu công nghiệp

Cơ sở giáo dục mầm non ở địa bàn có khu công nghiệp là cơ sở giáo dục mầm non thuộc địa bàn cấp quận/huyện, nơi có khu công nghiệp đã được cơ quan có thẩm quyền cấp phép thành lập theo quy định của pháp luật về khu công nghiệp, có chăm sóc, giáo dục trẻ em là con công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp.

Theo số liệu thống kê của Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, thành phố được phê duyệt quy hoạch cho 21 khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2020- 2025. Tính đến nay đã có 10 khu công nghiệp (theo Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư tại các khu công nghiệp do Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng cấp), với 323 doanh nghiệp đang hoạt động thuộc địa bàn 6 quận, huyện: Hải An, Đồ Sơn, Dương Kinh, Cát Hải, An Dương, Thủy Nguyên.

Tổng số công nhân và người lao động là người Việt Nam trong các doanh nghiệp thuộc các khu công nghiệp là 142.250 người, trong đó nữ công nhân lao động là 81.836 người (chiếm 57,5%). Số trẻ mầm non là con của công nhân, người lao động trong các khu công nghiệp là 12.421 trẻ, trong đó số trẻ học tại các cơ sở mầm non công lập là 5.299 trẻ (chiếm 42,7%), số trẻ học tại các cơ sở mầm non dân lập, tư thục tại thành phố Hải Phòng là 3.870 trẻ (chiếm 31,2%), còn lại 3.252 trẻ chưa đi học (chiếm 26,1%).

Cơ sở giáo dục mầm non độc lập ở địa bàn có khu công nghiệp thuộc loại hình dân lập, tư thục đã được cấp có thẩm quyền cấp phép thành lập theo đúng quy định có từ 30% trẻ em là con công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp các quận, huyện hiện có 53 cơ sở.

Số trẻ em đang học tại các cơ sở giáo dục mầm non thuộc loại hình dân lập, tư thục đã được cơ quan có thẩm quyền cấp phép thành lập và hoạt động theo đúng quy định có cha hoặc mẹ hoặc người chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em là công nhân, người lao động đang làm việc tại các khu công nghiệp được doanh nghiệp ký hợp đồng lao động theo quy định trên địa bàn toàn thành phố hiện có 3.870 trẻ em mầm non.

2.3.2. Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên tại các cơ sở dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp

Các cơ sở dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp chủ yếu là các cơ sở giáo dục mầm non tư thục mới được hình thành, công tác quản lý phần lớn do đội ngũ cán bộ quản lý nghỉ hưu hoặc những giáo viên chưa có kinh nghiệm quản lý giáo dục mầm non vì vậy chất lượng quản lý còn nhiều hạn chế. Đội ngũ giáo viên, nhân viên không ổn định về số lượng và chất lượng, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.

Các cơ sở dân lập, tư thục đã có quyết định thành lập, phần lớn người lao động ở loại hình này đều có hợp đồng lao động theo kỳ hạn do thỏa thuận giữa chủ nhóm lớp với giáo viên, nhân viên. Tuy nhiên, thu nhập của giáo viên, nhân viên các cơ sở độc lập dân lập, tư thục nhìn chung chưa đúng theo chế độ của nhà nước quy định: giáo viên và nhân viên chưa được xếp lương theo ngạch bậc, hưởng phụ cấp nghề nghiệp, tăng lương theo định kỳ và các chế độ khen thưởng khác. Lương trung bình của giáo viên và nhân viên từ 4 triệu đến 5 triệu đồng/tháng.

Số giáo viên mầm non đang làm việc tại cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục đã được cơ quan có thẩm quyền cấp phép thành lập và hoạt động theo quy định ở địa bàn có khu công nghiệp bảo đảm những điều kiện: Có trình độ chuẩn đào tạo chức danh giáo viên mầm non theo quy định; Có hợp đồng lao động với người đại diện theo pháp luật của cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục; Trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ tại nhóm trẻ/lớp mẫu giáo có từ 30% trẻ em là con công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng hiện có 90 giáo viên.

Từ những phân tích thực trạng về giáo dục mầm non thành phố Hải Phòng trên, đặc biệt thực trạng giáo dục mầm non ngoài công lập ở địa bàn có khu công nghiệp, việc xây dựng quy định một số mức hỗ trợ thực hiện Nghị định 105/2020/NĐ-CP phù hợp với sự phát triển của thành phố Hải Phòng là rất cần thiết. Góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục, giúp trẻ phát triển toàn diện, chuẩn bị sẵn sàng cho trẻ vào học tiểu học; thực hiện công bằng và bình đẳng trong tiếp cận giáo dục mầm non. Khuyến khích, thu hút các nhà đầu tư xây dựng các trường mầm non tư thục nhằm đẩy mạnh xã hội hóa trong giáo dục mầm non đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân, đồng thời giảm sự quá tải đối với các trường mầm non công lập, nhất là khu vực gần khu công nghiệp, góp phần giải quyết an sinh xã hội trên địa bàn thành phố.

III. PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH, ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG

1. Phạm vi điều chỉnh

Quy định một số mức hỗ trợ thực hiện Nghị định 105/2020/NĐ-CP ngày 8-9-2020 của Chính phủ về chính sách phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Hải Phòng, bao gồm:

- Quy định chính sách mức hỗ trợ đối với cơ sở giáo dục mầm non độc lập dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp.

- Quy định chính sách mức hỗ trợ đối với trẻ em mầm non là con công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp.

- Quy định chính sách đối với giáo viên mầm non làm việc tại cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp.

2. Đối tượng áp dụng

a) Các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập, bao gồm: trường mầm non, trường mẫu giáo, nhà trẻ, lớp mầm non độc lập, lớp mẫu giáo độc lập, nhóm trẻ độc lập thuộc loại hình dân lập, tư thục được thành lập và cấp phép hoạt động.

b) Trẻ em mầm non là con công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp.

c) Giáo viên mầm non làm việc tại cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp.

d) Các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan hoạt động hỗ trợ thực hiện Nghị định 105/2020/NĐ-CP ngày 8-9-2020 của Chính phủ về chính sách phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Hải Phòng.

3. Thời gian thực hiện

Chính sách quy định mức hỗ trợ cho các cơ sở giáo dục mầm non độc lập dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp; trẻ em mầm non là con công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp; giáo viên mầm non làm việc tại cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng được thực hiện sau khi HĐND thành phố ban hành Nghị quyết về chính sách này.

IV. NỘI DUNG CỦA NGHỊ QUYẾT

1. Quy định mức hỗ trợ đối với cơ sở giáo dục mầm non độc lập dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp, nơi có nhiều lao động

1. 1. Đối tượng hưởng chính sách

Cơ sở giáo dục mầm non độc lập ở địa bàn có khu công nghiệp thuộc loại hình dân lập, tư thục đã được cấp có thẩm quyền cấp phép thành lập theo đúng quy định có từ 30% trẻ em là con công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp (không trùng với cơ sở giáo dục mầm non độc lập dân lập, tư thục đã tham gia Đề án 404 về “Hỗ trợ, phát triển nhóm trẻ độc lập tư thục ở khu vực khu công nghiệp, khu chế xuất đến năm 2020”).

1.2. Nội dung chính sách

Đối tượng quy định tại mục 1.1 ở trên được hỗ trợ trang bị cơ sở vật chất 1 lần, bao gồm: trang bị đồ dùng, đồ chơi, thiết bị dạy học theo danh mục quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và hỗ trợ kinh phí sửa chữa cơ sở vật chất để phục vụ trực tiếp cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em. Mức hỗ trợ là 50 (năm mươi) triệu đồng/cơ sở giáo dục mầm non độc lập.

(Đề án căn cứ vào mức hỗ trợ thực hiện Kế hoạch số 3587/KH-BCĐ ngày 3-8-2015 của UBND thành phố về triển khai Đề án 404 “Hỗ trợ, phát triển nhóm trẻ độc lập tư thục ở khu vực khu công nghiệp, khu chế xuất đến năm 2020” đã thực hiện trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2015-2020. Mặt khác, Nghị định 105/2020/NĐ-CP quy định “Mức hỗ trợ tối thiểu là 20 (hai mươi) triệu đồng/cơ sở giáo dục mầm non độc lập” áp dụng cho tất cả các tỉnh, thành trong cả nước, Hải Phòng là thành phố đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương, nên Đề án đề xuất mức hỗ trợ là 50 (năm mươi) triệu đồng/cơ sở giáo dục mầm non độc lập).

1.3. Phương thức hỗ trợ

Căn cứ vào số cơ sở giáo dục mầm non độc lập dân lập, tư thục được cấp có thẩm quyền cấp phép thành lập theo đúng quy định có từ 30% trẻ em là con công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp để xây dựng kế hoạch, phương án hỗ trợ, phương án kiểm tra việc hỗ trợ và sử dụng kinh phí cho các cơ sở giáo dục mầm non độc lập trình HĐND thành phố phê duyệt để tổ chức thực hiện.

2. Quy định mức hỗ trợ đối với trẻ em mầm non là con công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp

2.1. Đối tượng hưởng chính sách Trẻ em đang học tại các cơ sở giáo dục mầm non thuộc loại hình dân lập, tư thục đã được cơ quan có thẩm quyền cấp phép thành lập và hoạt động theo đúng quy định có cha hoặc mẹ hoặc người chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em là công nhân, người lao động đang làm việc tại các khu công nghiệp được doanh nghiệp ký hợp đồng lao động theo quy định.

2.2. Mức hỗ trợ Trẻ em thuộc đối tượng quy định mục 2.1 được hỗ trợ 160.000 đồng/trẻ/tháng (một trăm sáu mươi nghìn đồng một trẻ một tháng). Thời gian hỗ trợ tính theo số tháng học thực tế, nhưng không quá 9 tháng/năm học (thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị định 105/2020/NĐ-CP). 2.3. Hồ sơ, trình tự và phương thức hỗ trợ Thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Nghị định 105/2020/NĐ-CP ngày 8-9-2020 của Chính phủ quy định chính sách phát triển giáo dục mầm non.

3. Quy định mức hỗ trợ đối với giáo viên mầm non làm việc tại cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp

3.1. Đối tượng hưởng chính sách Giáo viên mầm non đang làm việc tại cơ sở giáo dục mầm non thuộc loại hình dân lập, tư thục đã được cơ quan có thẩm quyền cấp phép thành lập và hoạt động theo quy định ở địa bàn có khu công nghiệp bảo đảm những điều kiện sau:

- Có trình độ chuẩn đào tạo chức danh giáo viên mầm non theo quy định;

- Có hợp đồng lao động với người đại diện theo pháp luật của cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục;

- Trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ tại nhóm trẻ/lớp mẫu giáo có từ 30% trẻ em là con công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp.

3.2. Mức hỗ trợ

Giáo viên mầm non bảo đảm các điều kiện quy định mục 3.1 ở trên được hỗ trợ 1.000.000 đồng/tháng (Một triệu đồng một tháng).

(Theo Nghị định 105/2020/NĐ-CP, giáo viên mầm non bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 10 được hỗ trợ tối thiểu 800.000 đồng/tháng. Tuy nhiên tại Hải Phòng, mức lương của giáo viên mầm non trong các cơ sở giáo dục mầm non độc lập dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp trung bình 4-5 triệu đồng/giáo viên/tháng; mức lương của công nhân, người lao động trong các khu công nghiệp trung bình 6-7 triệu đồng/người/tháng. Đề án đề xuất mức hỗ trợ cho giáo viên 1 triệu/người/tháng cộng với lương chủ cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục đang trả gần bằng mức lương người lao động trong các khu công nghiệp, bảo đảm giữ giáo viên không bỏ nghề).

Số lượng giáo viên trong cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục được hưởng hỗ trợ được tính theo định mức quy định đối với các cơ sở giáo dục mầm non công lập hiện hành.

 Thời gian hưởng hỗ trợ tính theo số tháng dạy thực tế trong năm học. Mức hỗ trợ này nằm ngoài mức lương thỏa thuận giữa chủ cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục với giáo viên và không dùng tính đóng hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp.

3.3. Hồ sơ, trình tự và phương thức hỗ trợ

Thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 10 Nghị định 105/2020/NĐ-CP ngày 8-9-2020 của Chính phủ quy định chính sách phát triển giáo dục mầm non.

4. Dự kiến kinh phí thực hiện Đề án trong 5 năm

4.1. Dự kiến kinh phí hỗ trợ trong 5 năm (từ năm 2021 đến năm 2025)cho cơ sở giáo dục mầm non độc lập dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp

Căn cứ vào đối tượng chính sách theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 105/2020/NĐ-CP; Đề án đề xuất mức hỗ trợ 50 (năm mươi triệu đồng/cơ sở giáo dục mầm non độc lập).

Căn cứ số cơ sở giáo dục mầm non độc lập dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp. Dự kiến toàn thành phố mỗi năm sẽ có khoảng 10 cơ sở giáo dục mầm non độc lập ở địa bàn có khu công nghiệp thuộc loại hình dân lập, tư thục được cấp phép thành lập nuôi dạy từ 30% trẻ em là con công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp. Mỗi cơ sở giáo dục mầm non độc lập dân lập, tư thục chỉ được hỗ trợ 1 lần. Dự kiến trong 5 năm học, đề án ước tính kinh phí dự kiến hỗ trợ các cơ sở giáo dục mầm non độc lập dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp như sau:

- Năm 2021: 2.650.000.000 đồng.

- Năm 2022: 500.000.000 đồng.

- Năm 2023: 500.000.000 đồng.

- Năm 2024: 500.000.000 đồng.

- Năm 2025: 500.000.000 đồng.

Tổng 5 năm: 4.650.000.000 đồng

4.2. Dự kiến kinh phí hỗ trợ trong 5 năm (từ năm 2021 đến năm 2025) đối với trẻ em mầm non là con công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp

Căn cứ vào đối tượng chính sách quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị định 105/2020/NĐ-CP: trẻ em mầm non là con công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp được hỗ trợ 160.000 đồng/trẻ/tháng (một trăm sáu mươi nghìn đồng một trẻ một tháng). Thời gian hỗ trợ tính theo số tháng học thực tế, nhưng không quá 9 tháng/năm học.

Căn cứ số trẻ em đang học tại các cơ sở giáo dục mầm non thuộc loại hình dân lập, tư thục đã được cấp phép thành lập và hoạt động là con công nhân, người lao động đang làm việc tại các khu công, dự kiến toàn thành phố mỗi năm sẽ có tăng khoảng 5% số trẻ thuộc đối tượng này đi học tại cơ sở giáo dục mầm non độc lập ở địa bàn có khu công nghiệp thuộc loại hình dân lập, tư thục, Đề án ước tính kinh phí dự kiến hỗ trợ với trẻ em mầm non là con công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp trong 5 năm từ năm 2021 đến năm 2025 như sau:

- Năm 2021: 5,572,800,000 đồng (tính 9 tháng).

- Năm 2022: 5.879.520.000 đồng (tính 9 tháng).

- Năm 2023: 6.177.600.000 đồng (tính 9 tháng).

- Năm 2024: 6.479.316.000 đồng (tính 9 tháng).

- Năm 2025: 6.806.880.000 đồng (tính 9 tháng).

Tổng 5 năm: 30.916.116.000 đồng.

4.3. Dự kiến kinh phí hỗ trợ trong 5 năm (từ năm 2021 đến năm 2025) đối với giáo viên mầm non làm việc tại cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp

Căn cứ vào đối tượng chính sách quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị định 105/2020/NĐCP; căn cứ mức lương của giáo viên mầm non trong các cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp (trung bình 4-5 triệu đồng/giáo viên/tháng); mức lương của công nhân, người lao động trong các khu công nghiệp (trung bình 6-7 triệu đồng/người/tháng); Đề án đề xuất mức hỗ trợ đối với giáo viên mầm non làm việc tại cơ sở giáo dục mầm non độc lập dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng 1.000.000 đồng/tháng (Một triệu đồng một tháng). Thời gian hưởng hỗ trợ tính theo số tháng dạy thực tế trong năm học.

Căn cứ số giáo viên mầm non làm việc tại cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp, dự kiến toàn thành phố mỗi năm số đối tượng giáo viên này sẽ tăng khoảng 20%, đề án ước tính kinh phí dự kiến hỗ trợ trong 5 năm từ năm 2021 đến năm 2025 như sau:

- Năm 2021: 1.080.000,000 đồng (tính 12 tháng).

- Năm 2022: 1.308.000.000 đồng (tính 12 tháng).

- Năm 2023: 1.560.000.000 đồng (tính 12 tháng).

- Năm 2024: 1.740.000.000 đồng (tính 12 tháng).

- Năm 2025: 2.436.000.000 đồng (tính 12 tháng).

Tổng 5 năm: 8.124.000.000 đồng.

4.4. Dự kiến tổng kinh phí thực hiện Đề án trong 5 năm (từ năm 2021 đến năm 2025):

Đơn vị: đồng

(Tổng kinh phí: Bốn mươi ba tỷ, sáu trăm chín mươi triệu, một trăm mười sáu nghìn đồng).

Từ năm 2026 trở đi, căn cứ vào đối tượng được hỗ trợ theo Nghị định 105/2020/NĐCP, Sở Giáo dục và Đào tạo sẽ xây dựng kế hoạch kinh phí hàng năm để thực hiện cho đến khi Nghị định 105/2020/NĐ-CP hết hiệu lực, bảo đảm theo đúng theo Luật Ngân sách nhà nước.

5. Nguồn kinh phí thực hiện Đề án: Từ nguồn ngân sách thành phố (theo điểm a, khoản 1, Điều 12 của Nghị định 105/2020/NĐ-CP).

Đối với trang bị cơ sở vật chất cho cơ sở giáo dục mầm non độc lập dân lập, tư thục năm đầu thực hiện Đề án do ngân sách thành phố bảo đảm. Từ những năm tiếp theo, cơ sở giáo dục mầm non độc lập dân lập, tư thục thuộc địa bàn quận, huyện do ngân sách quận, huyện bảo đảm.

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Sở Giáo dục và Đào tạo

Chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành, đơn vị liên quan và UBND các quận, huyện thực hiện tốt công tác tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa và nội dung Nghị định số 105/2020/NĐCP ngày 8-9-2020 đến các tổ chức, cá nhân; thu hút các nhà đầu tư xây dựng các trường mầm non tư thục trên địa bàn thành phố; đồng thời, tạo điều kiện và hướng dẫn các nhà đầu tư thực hiện chính sách, bảo đảm hiệu quả, đúng quy định; giải quyết, xử lý những vướng mắc, phát sinh, những vấn đề vượt thẩm quyền, có ý kiến đề xuất, báo cáo UBND thành phố.

Năm đầu thực hiện Đề án, căn cứ vào số lượng cơ sở giáo dục mầm non độc lập dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp được cấp phép thành lập và hoạt động để lập dự toán kinh phí hỗ trợ trang bị đồ dùng, đồ chơi, thiết bị dạy học theo danh mục quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và hỗ trợ kinh phí sửa chữa cơ sở vật chất để phục vụ trực tiếp cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em và thanh quyết toán theo quy định.

Thường xuyên kiểm tra, giám sát, tổng hợp kết quả thực hiện Đề án báo cáo UBND thành phố.

2. Sở Tài chính

Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, UBND các quận, huyện và các đơn vị liên quan thẩm định, trình UBND thành phố phê duyệt kinh phí thực hiện.

Chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan hướng dẫn các sở, ban, ngành và UBND các quận, huyện lập dự toán kinh phí và tổng hợp quyết toán theo quy định của pháp luật.

3. Sở Lao động Thương binh và Xã hội

Chủ động phối hợp triển khai thực hiện Đề án theo chức năng, nhiệm vụ.

Tuyên truyền nội dung chính sách phát triển giáo dục mầm non của Chính phủ, thành phố cho người dân, công nhân, người lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố. Phối hợp chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định về bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại các cơ sở giáo dục mầm non độc lập, dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp.

4. Sở Thông tin và Truyền thông

Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo và các sở, ngành liên quan chỉ đạo và cung cấp thông tin tuyên truyền về quy định một số mức hỗ trợ thực hiện Nghị định 105/2020/NĐ-CP ngày 8-9-2020 của Chính phủ về chính sách phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Hải Phòng.

Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan thông tin đại chúng, Cổng Thông tin điện tử thành phố, hệ thống thông tin cơ sở tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về việc thực hiện Đề án.

5. UBND các quận, huyện

Đối với các quận, huyện trên địa bàn có khu công nghiệp: Hằng năm, chịu trách nhiệm tổng hợp, xác nhận số lượng cơ sở giáo dục mầm non độc lập dân lập, tư thục có từ 30% con em công nhân, người lao động; số trẻ em mầm non là con công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp; số giáo viên mầm non làm việc tại cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục có chăm sóc giáo dục 30% con em công nhân, người lao động tại khu công nghiệp, lập dự toán kinh phí hỗ trợ báo cáo Sở Tài chính thẩm định và để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; trên cơ sở dự toán được duyệt, thực hiện việc cấp kinh phí thanh quyết toán theo quy định. Báo cáo kết quả thực hiện qua Sở Giáo dục và Đào tạo để tổng hợp báo cáo UBND thành phố.

Đối với các quận, huyện trên địa bàn không có khu công nghiệp: Hằng năm, chịu trách nhiệm tổng hợp số trẻ em mầm non là con công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp trên địa bàn thành phố; lập dự toán kinh phí hỗ trợ cho trẻ em mầm non, báo cáo Sở Tài chính thẩm định và để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; trên cơ sở dự toán được duyệt, thực hiện việc cấp kinh phí hỗ trợ cho trẻ mầm non là con công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp thuộc địa bàn quản lý, thanh quyết toán theo quy định. Báo cáo kết quả thực hiện qua Sở Giáo dục và Đào tạo để tổng hợp báo cáo UBND thành phố.

Thường xuyên kiểm tra, giám sát, đánh giá, tổng hợp kết quả thực hiện Đề án tại địa phương, định kỳ báo cáo UBND thành phố và cơ quan thường trực (Sở Giáo dục và Đào tạo).

UBND thành phố kính trình và đề nghị HĐND thành phố phê duyệt Đề án quy định một số mức hỗ trợ thực hiện Nghị định 105/2020/NĐ-CP ngày 8-9-2020 của Chính phủ về chính sách phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Hải Phòng, làm cơ sở để UBND thành phố chỉ đạo tổ chức thực hiện./.