Phát triển nuôi tôm nước lợ tại Hải Phòng: Khai thác tiềm năng, lợi thế
(HPĐT)- Hải Phòng là thành phố có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển nuôi tôm- đối tượng nuôi chủ lực, cho giá trị kinh tế cao trong nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, so với tiềm năng, lợi thế của địa phương, việc phát triển ngành nuôi tôm của thành phố thời gian qua còn nhiều hạn chế.

Người dân huyện Tiên Lãng thu hoạch tôm thẻ chân trắng vụ hè thu.
Phát triển hơn 1.968 ha nuôi tôm
Theo Chi cục Thủy sản thành phố, Hải Phòng là địa phương có nhiều tiềm năng cho việc nuôi trồng thuỷ sản, trong đó có việc phát triển diện tích nuôi tôm. Nắm bắt lợi thế này, thời gian qua, nhiều địa phương đã và đang triển khai các dự án chuyển đổi cơ cấu, phát triển theo mô hình kinh tế trang trại, vùng sản xuất tập trung, nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao, kết hợp nuôi tôm quảng canh, bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế cao. Theo thống kê của Phòng Nuôi trồng thủy sản (Chi cục Thủy sản), 6 tháng đầu năm 2021, toàn thành phố có 1.968,9 ha nuôi tôm, bằng 98,78% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng là 368,8 ha; diện tích nuôi tôm sú, tôm rảo 1.600 ha, bằng 98,45% so cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, diện tích nuôi tôm có xu hướng giảm dần qua các năm; một số diện tích nuôi bị nhiễm bệnh, cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, nguồn nước sản xuất bị ô nhiễm dẫn tới hiệu quả nuôi tôm chưa cao.
Theo ông Đỗ Đức Thịnh, Chi cục phó Chi cục Thủy sản thành phố, dịch bệnh COVID-19 kéo theo sự sụt giảm sản lượng tiêu thụ từ 30-40%. Bên cạnh đó, giá thành nhiều yếu tố đầu vào quan trọng như: thức ăn, vật tư, nhiên liệu tăng cao trong khi giá bán sản phẩm giảm đã ảnh hưởng tới mức độ đầu tư mở rộng, phát triển nuôi trồng thủy sản trong các tháng cuối năm.
Ngoài ra, thời tiết những năm gần đây có nhiều thay đổi bất thường so với quy luật khiến tình hình dịch bệnh trên tôm nuôi nước lợ có nhiều diễn biến phức tạp. Kết quả quan trắc môi trường đợt 2 tháng 6-2021 của Chi cục quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản (Sở Nông nghiệp và PTNT) cho thấy một số chỉ tiêu nằm ngoài giới hạn cho phép như: biểu hiện ô nhiễm NO2-N, hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) năm ngoài giới hạn cho phép, có sự xuất hiện của vi khuẩn Vibrio và các loại tảo độc ở tất cả các điểm quan trắc; một số điểm có xuất hiện vi khuẩn V.parahaemolyticus (vi khuẩn gây bệnh hoại tử gan tuy cấp trên tôm nuôi). Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng (hệ thống thủy lợi, giao thông, điện sản xuất) nhiều vùng nuôi tôm tập trung đã xuống cấp xong kinh phí đầu tư nâng cấp, hoàn thiện còn hạn chế. Cùng với đó, Hải Phòng chưa chủ động sản xuất được giống tôm thẻ chân trắng (chủ lực) nên vẫn phải nhập giống từ các tỉnh thành khác, bị động về mùa vụ và khó kiểm soát chất lượng con giống cũng như dịch bệnh…
Có lộ trình với những giải pháp căn cơ
Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT Vũ Bá Công cho biết, để thực hiện tốt Quyết định 339 ngày 11-3-2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và các “Giải pháp phát triển ngành tôm năm 2021”; khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế về phát triển mở rộng diện tích nuôi tôm của thành phố, thời gian tới, các địa phương, đơn vị cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp. Trong đó, tiếp tục triển khai Kế hoạch số 231 ngày 6-11- 2017 của UBND thành phố về hành động phát triển ngành tôm tại Hải Phòng đến năm 2025. Trước mắt, tập trung rà soát bổ sung quy hoạch, củng cố hạ tầng. Theo đó, Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp các địa phương rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch các vùng nuôi nước lợ gồm: Phù Long (huyện Cát Hải), Tân Trào, Đoàn Xá (huyện Kiến Thụy), Đông Hưng, Tây Hưng, Vinh Quang (huyện Tiên Lãng); Hòa Bình, Trấn Dương (huyện Vĩnh Bảo); Ngọc Xuyên (quận Đồ Sơn); Tân Thành, Hải Thành (quận Dương Kinh); Tràng Cát, Nam Hải, Đông Hải (quận Hải An). Cùng với đó, ngành rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch vùng, cơ sở sản xuất, kinh doanh, ương dưỡng tôm giống bảo đảm đủ điều kiện cung ứng giống cho nhu cầu nuôi tôm thương phẩm. Chủ động rà soát, nâng cấp, hoàn thiện cơ sở hạ tầng vùng sản xuất giống, vùng nuôi tôm tập trung, công nghiệp (hệ thống thủy lợi, giao thông, điện sản xuất…) để có phương án đầu tư phù hợp, rõ lộ trình từng giai đoạn, từng năm.
Đối với hạ tầng vùng nuôi, tập trung nguồn lực đầu tư hạ tầng các khu, vùng nông nghiệp công nghệ cao (1 khu, 11 vùng nuôi trổng thủy sản) theo Nghị quyết số 14 ngày 20- 7-2017 của HĐND thành phố về việc thông qua quy hoạch khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; tổ chức lại các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, phân tán thành tổ hợp tác, hợp tác xã để tạo ra cùng sản xuất nguyên liệu lớn, tập trung, liên kết với doanh nghiệp cung ứng vật tư đầu vào, tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị, khuyến khích, thu hút doanh nghiệp tư nhân, phát triển các mô hình nuôi tôm. Tăng cường bố trí kinh phí để thực hiện tốt công tác quan trắc, cảnh báo môi trường, phòng ngừa dịch bệnh...
Đối với giải pháp về vốn, ngân sách nhà nước bố trí theo quy định tại Nghị định 67 ngày 7-7- 2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản; Nghị quyết số 13 ngày 13-7-2017 của HĐND thành phố về cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, thủy sản, kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập nông dân thành phố Hải Phòng giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2025. Các địa phương cũng cần huy động các nguồn vốn khác tập trung cải tạo, nâng cấp, đầu tư mới hạ tầng cơ sở nuôi tôm, mua con giống, thức ăn, máy móc thiết bị, điện, thuốc, hóa chất, chế phẩm sinh học, các công trình phụ trợ…phục vụ hoạt động nuôi tôm. Khuyến khích, nhân rộng phát triển các mô hình nuôi trồng thủy sản thâm canh, nuôi tôm nước lợ; phối hợp với các viện, trường đại học, doanh nghiệp chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ sản xuất giống tôm nước lợ chất lượng cao; tăng cường ứng dụng áp dụng công nghệ nuôi tiên tiến, năng suất cao, giảm giá thành sản xuất, thân thiện môi trường (nuôi tôm công nghệ Biofloc, nuôi 2-3 giai đoạn, nuôi trên hệ thống bể nổi, lọc sinh học…/.