Quê tôi
(HPĐT)- Xã An Tiến quê tôi nằm ven con sông mà dân làng quen gọi là sông Vàng (tên cây cầu nối ngã tư chợ Ruồn với thôn Vàng Xá). Đây chính là sông Đa Độ, một chi lưu của sông Văn Úc. Làng quê thanh bình được bao bọc bởi những cánh đồng lúa, dải núi và con sông uốn khúc. Xa một dặm về phía Tây Bắc, nổi lên giữa cánh đồng là quả núi đá hình con voi nằm phủ phục với cái vòi dài là dãy núi đất chạy qua thôn Tiên Hội nên được gọi là núi Voi. Làng có cái tên nôm xưa là Khuốc Giản nhưng nay được gọi là Khúc Giản. Trên Núi Voi còn lưu lại những địa danh, dấu tích dân gian và lịch sử như Bàn Cờ Tiên, Vàn Chúa Thượng, Vàn Chúa Hạ, Kênh Đào, Hồ Sen, Cây Đèn (thời nhà Mạc)...

Cánh đồng An Tiến ngày mùa. Ảnh: HOÀNG PHƯỚC
Bàn cờ tiên nằm trên đỉnh núi Voi là một tảng đá khá lớn, mặt nhẵn, hai bên có hai tảng đá nhỏ hơn. Theo dân gian, vào những ngày mưa, đỉnh núi mù sương, các vị tiên thường xuống đây ngồi đánh cờ.
Đứng dưới cánh đồng nhìn lên, giữa lưng chừng núi thấy có một miệng hang. Đây gọi là hang Họng voi. Hang này được cho là thông từ trên núi, chạy ngầm xuống sông Lạch Tray (bên kia núi, thuộc địa phận thôn Chi Lai). Người ta từng đánh dấu vào vỏ một vài quả bưởi rồi thả xuống hang, hôm sau thấy bưởi trôi nổi trên mặt sông Lạch Tray. Điều này chứng minh giả thiết trên.
Đặc biệt, sau lưng núi Voi còn hiện diện ngôi cổ tự Long Hoa thuộc thôn Chi Lai, xã Trường Thành, là ngôi chùa cổ tương truyền được xây dựng từ thời nhà Lý, nằm bên sườn núi Voi. Cùng với chùa Long Hoa, đình Chi Lai xưa đã được các vua thời Hậu Lê và Nguyễn ban sắc, phong thần.
Quê hương trong tôi còn in đậm dấu ấn trong những truyền ngôn và dấu tích nhuốm màu lịch sử và phong cảnh nên thơ. Tư liệu lịch sử còn lại cho biết vào thế kỷ 16, thời nhà Mạc vùng này là căn cứ phòng ngự ven sông Lạch Tray của triều Mạc với núi Voi là đồn binh chính (nay vẫn còn dấu tích hang Chạn (bếp), đấu Đong quân (khoảng đất quây đá để xếp lính vào tính số lượng). Sách Đại Nam Nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi: "Núi Voi ở cách huyện An Lão 8 dặm về phía Tây Bắc, hình thế như con voi nằm, núi có hang, trong có nhiều thạch nhũ".
Khi còn sống bố tôi, một nhà giáo từng kể: Làng tôi nguyên tên là làng Quốc nhưng sau được gọi lái thành Khuốc để kiêng kỵ. Làng cạnh làng tôi nằm ven sông Lạch Tray, gần núi Voi gọi là làng Cung bởi khi xưa từng có hành cung của vua Mạc (nay thuộc xã Trường Thành). Làng này thời Mạc thuộc nội cung (bên trong hành cung) nên được gọi là làng Cung, còn làng tôi nằm bên ngoài hành cung nên được gọi làng Quốc - ngoại quốc. Nay mỗi khi có dịp qua quốc lộ 10B (mới) chạy sau núi Voi, tôi lại nhớ về lời kể của cha tôi như một bài học lịch sử về quê hương. Những bằng chứng trên chứng tỏ nhà Mạc xưa đã coi núi Voi rất có giá trị trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh và còn xây dựng những công trình để thưởng ngoạn phong cảnh...
An Tiến hiện nay có 3 thôn là Khúc Giản, An Luận và Tiên Hội. Chỉ thôn Khúc Giản của tôi có nghề khai thác và chế tác đá núi lâu năm (nay dừng việc khai thác đá tại núi Voi nên ít người còn hành nghề). Những năm thập niên 60-90 của thế kỷ 20, từ những tảng đá vôi xanh người ta đục đẽo thành những cối giã gạo, cối xay bột, cối giã cua, chày đá, trục lúa... phục vụ đời sống lúc bấy giờ, khi mà máy móc làm những việc này hầu như chưa có. Đá còn được đập nhỏ thành vật liệu xây dựng. Lúc rỗi rãi, trẻ con, người lớn trong làng đều tham gia việc đập đá nhỏ ra, vun thành đống để bán cho nhu cầu xây dựng. Từ sáng tới tối tiếng búa đập đá vang lên khắp làng. Làng tôi hồi đó còn có nghề làm lưới vét bắt cá. Đó là những tấm lưới đan bằng sợi chỉ gai dài 15 – 20 m, cao 120-150 cm mà phao giữ lưới lơ lửng dưới nước làm bằng gỗ, miệng túi hứng cá có gắn những thỏi chì để kéo lưới chìm dưới mặt nước. Lưới làng tôi làm ra nổi tiếng khắp nơi, nhiều khách hàng ở Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Thái Bình, Hải Dương, Quảng Ninh còn tìm về mua. Từ những cây tre, song mây trồng nhiều trong làng, người dân quê tôi chăm chỉ đan lát, tạo nên những rổ, rá, nong, nia để rửa ráy rau cỏ, vo gạo, phơi khô lúa, khoai, rau, củ, quả...
Cuộc sống ngày càng phát triển, máy móc, công nghiệp dần thay thế sức người, đồ thủ công không còn được ưa dùng. Giờ đây người ta thích sử dụng rổ nhựa, rá nhôm, giàn phơi bằng i-nốc bền chắc khiến nghề thủ công ngày càng mai một. Nghề làm đá và đan lưới làng tôi hầu như đã chấm dứt. Hiện, chỉ còn một số hộ kinh doanh nghề chế tác đá với những xưởng sản xuất bám mặt đường 10B chạy qua thôn Khúc Giản mà nguồn nguyên liệu là đá mua từ Thanh Hóa, Nghệ An.
Thôn Tiên Hội có nghề thủ công truyền thống làm đồ đất nung, cho ra sản phẩm là những nồi đất, ấm, chén nung, con phỗng gà vịt, lợn đất thô sơ, ngộ nghĩnh... từ nguồn nguyên liệu đất đồi màu vàng có sẵn ở đây. Nay nghề này đã mai một do nhu cầu tiêu dùng thay đổi và việc khai khác đất núi bị cấm. Hiện chỉ còn lại nhà máy gạch - gốm Tiên Hội còn hoạt động.
Đất Tiên Hội còn có một sản vật đã đi vào câu ca là "Chè Chi Lai, khoai Tiên Hội". Chè xanh ở thôn Chi Lai (sau núi Voi) là đồ uống ngon mát nổi tiếng và khoai lang Tiên Hội thì rất thơm và ngọt. Tiên Hội, đúng như tên gọi – nơi tiên tụ hội, cũng sản sinh ra nhiều cô gái xinh đẹp trong 3 làng của xã An Tiến. Cha tôi kể rằng, tương truyền xưa các nàng tiên hay bay xuống núi Voi, vào chơi xem hội ở làng này, có người do mến cảnh, yêu người, ở lại lấy trai làng nên nơi đây mới sinh ra nhiều người đẹp. Chả biết có đúng như vậy không, nhưng quả thực các trai làng lân cận thường thích tìm đến tỏ tình với các cô gái Tiên Hội.
Làng quê tôi nay đã đổi thay nhiều. Cảnh vật cũng khác xưa, hồ ao, lũy tre xanh, nhà mái rạ, mái ngói ngày một ít đi, nhường chỗ cho những ngôi nhà bê tông cốt thép, những vi-la đẹp đẽ ngày càng mọc lên nhiều hơn. Đường làng, ngõ xóm không còn lầy lội như trước mà được trải bê tông phong quang, sạch sẽ nhờ xây dựng nông thôn mới. Mỗi khi về quê, ra đồng thăm mộ, thắp hương tôi lại thấy đường nội đồng được đổ bê tông nhiều hơn, ít thấy cảnh người nông dân phải gồng gánh quang thúng lội ruộng, len lỏi qua những bờ đất, bờ mương gập ghềnh, khó đi. Giờ đây xe máy, xe tải nhỏ có thể chạy ra tận ruộng, đầu bờ là nhờ chương trình hỗ trợ xi măng bê tông hóa đường giao thông nội đồng của thành phố. Ý Đảng, lòng dân hòa hợp tạo động lực cho người dân quê tôi phấn đấu xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp./.