Ngày làm việc thứ tám, kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa 15: Cơ chế, chính sách đặc thù tạo thêm nguồn lực để các địa phương phát triển
(HPĐT)- Ngày 27-10, Quốc hội thảo luận trực tuyến về Dự thảo Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hải Phòng và các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Thừa Thiên-Huế; về tình hình thực hiện chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH) và việc quản lý và sử dụng Quỹ bảo hiểm y tế (BHYT).

Toàn cảnh phiên làm việc chiều 27-10.
.jpg)
Đồng chí Trần Lưu Quang, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội Hải Phòng cùng các đại biểu dự họp tại điểm cầu Hải Phòng.
Dự tại điểm cầu Hải Phòng có các đồng chí: Trần Lưu Quang, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội Hải Phòng; Đỗ Mạnh Hiến, Phó bí thư Thường trực Thành ủy; cùng các vị đại biểu Quốc hội thành phố và các đại biểu khách mời: Lê Anh Quân, Phó chủ tịch Thường trực UBND thành phố, lãnh đạo Ban Kinh tế-Ngân sách HĐND thành phố, Sở Kế hoạch và Đầu tư.
Tán thành các nhóm cơ chế, chính sách đặc thù đối với Hải Phòng
Buổi sáng, các đại biểu thảo luận sôi nổi, phần lớn nhất trí việc cần thiết ban hành các nghị quyết vì cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Hải Phòng và 3 tỉnh: Nghệ An, Thanh Hóa, Thừa Thiên - Huế, nhằm thể chế hóa các nghị quyết của Đảng, góp phần huy động, phát huy được tiềm năng, thế mạnh đặc thù của các địa phương.
.jpg)
Đại biểu Lã Thanh Tân, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội Hải Phòng phát biểu thảo luận tại kỳ họp.
Về cơ chế, chính sách đặc thù dành cho Hải Phòng, nhiều đại biểu đồng tình với nội dung dự thảo nghị quyết. Đại biểu Nguyễn Thị Lệ (Đoàn thành phố Hồ Chí Minh) nêu, Hải Phòng với lợi thế là cửa ngõ chính ra biển của miền Bắc, có vị trí chiến lược, đóng vai trò đặc biệt trong cực tăng trưởng tam giác Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh. 5 năm qua, thành phố có sự phát triển mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, tự chủ tài chính, nên việc ban hành nghị quyết cơ chế, chính sách riêng sẽ giúp Hải Phòng phát huy thế mạnh kinh tế biển, trở thành địa phương đi đầu cả nước trong phát triển dịch vụ logistics của khu vực phía Bắc và cả nước, cũng như cả khu vực Đông Nam Á. Đại biểu Phạm Văn Hòa (Đoàn Đồng Tháp) cũng bày tỏ quan điểm đồng ý với chủ trương trong dự thảo Nghị quyết về chính sách dư nợ vay của Hải Phòng ở mức 60%, bởi thành phố có mức độ tăng trưởng cao, nguồn thu lớn.
.jpg)
Các đại biểu dự họp tại điểm cầu Hải Phòng.
Tại điểm cầu Hải Phòng, đại biểu Lã Thanh Tân, Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố phát biểu ý kiến nêu rõ: Đối với Hải Phòng, việc trình Quốc hội xem xét, thông qua nghị quyết là nhằm thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 45 về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; theo đó, các mục tiêu đặt ra là rất lớn, cần có cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện. Trong những năm qua, Hải Phòng có sự phát triển mạnh mẽ, bứt phá, là điểm sáng của cả nước trong phát triển kinh tế-xã hội; tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức 2 con số, cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân chung của cả nước. Các cơ chế, chính sách đặc thù được đề xuất là trên quan điểm Hải Phòng phát triển không chỉ cho riêng mình, mà cao hơn là vì sự phát triển chung của cả nước, tạo động lực phát triển của vùng Bắc bộ. Trong đó, đề xuất về cơ chế, chính sách phát triển Khu thương mại tự do là đột phá, thể hiện tinh thần quyết tâm của Chính phủ và thành phố. Hiện nay, khu thương mại tự do chưa được đề cập đến trong các văn bản quy phạm pháp luật. Do đó, để thực hiện chủ trương này theo Nghị quyết số 45 của Bộ Chính trị, trước hết cần xác định khái niệm về Khu thương mại tự do, cơ quan có thẩm quyền thành lập (phạm vi, ranh giới) và ban hành cơ chế, chính sách, nguyên tắc xây dựng cơ chế, chính sách áp dụng cho Khu thương mại tự do để làm cơ sở, căn cứ cho Hải Phòng và các cơ quan liên quan tổ chức nghiên cứu, đề xuất cụ thể, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét quyết định. Việc quy định hình thành Khu thương mại tự do là vấn đề quan trọng, không chỉ dưới góc độ kinh tế mà còn liên quan đến yếu tố quốc phòng, an ninh, hội nhập, ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội; không chỉ dừng ở phạm vi của cơ chế, chính sách đặc thù riêng lẻ mà gắn với việc xây dựng các thể chế, thiết chế pháp luật có tác động lớn, phạm vi ảnh hưởng rộng. Đồng thời, cơ chế, chính sách áp dụng cho khu thương mại tự do sẽ có những quy định mới, có thể vượt lên trên quy định tại các luật hiện hành như: Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Ngân sách nhà nước; các quy định của pháp luật về thuế… Vì vậy, sau khi nghị quyết được thông qua, Hải Phòng sẽ tích cực nghiên cứu tổng thể, kỹ lưỡng, xây dựng Đề án thành lập Khu thương mại tự do, báo cáo Chính phủ để xin ý kiến Bộ Chính trị trước khi trình Quốc hội xem xét.
.jpg)
Đại biểu Lã Thanh Tân, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội Hải Phòng phát biểu thảo luận tại kỳ họp.
Giải trình các ý kiến của đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng khẳng định, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, chú trọng đến sự phát triển hài hòa giữa các vùng, miền. Dự thảo nghị quyết cho các địa phương được xây dựng dựa trên 5 quan điểm. Trong đó, nguyên tắc quan trọng là các cơ chế đặc thù phải được nghiên cứu trên cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm phát huy được tiềm năng, thế mạnh của địa phương; có tác động lan tỏa vùng miền; gắn với đề cao tính tự lực, tự cường, phát huy tính năng động, sáng tạo của địa phương. Ngoài ra, cơ chế, chính sách đặc thù phải phù hợp với khả năng cân đối ngân sách nhà nước, không ảnh hưởng lớn đến vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương; không làm tăng bội chi ngân sách nhà nước và trần nợ công đã được Quốc hội quyết định; tăng cường phân cấp, phân quyền, tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cấp chính quyền của địa phương; có cơ chế kiểm soát, kiểm tra chặt chẽ… Về chính sách dư nợ vay được tính toán cụ thể, trên cơ sở phù hợp nhu cầu đầu tư, khả năng hấp thụ vốn, khả năng trả nợ vốn vay của từng địa phương; từ đó các địa phương có thể chủ động thu xếp nguồn vay, tính toán hiệu quả các dự án để đầu tư; vốn vay chi cho đầu tư phát triển, không chi thường xuyên. Việc tăng mức dư nợ vay của các địa phương sẽ được kiểm soát trong giới hạn bội chi ngân sách nhà nước và trần nợ công của cả nước, được Quốc hội xem xét, quyết định hằng năm. Về chính sách phí, lệ phí, HĐND các tỉnh, thành phố được chủ động điều chỉnh, song cần có lộ trình phù hợp…Về đề xuất khu thương mại tự do của Hải Phòng là vấn đề mới, chưa có đề án, chưa có chủ trương, Chính phủ sẽ chỉ đạo các bộ, ngành phối hợp Hải Phòng nghiên cứu đề án, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định về chủ trương và trình Quốc hội xem xét vào thời điểm thích hợp…
Thảo luận về tình hình thực hiện chính sách bảo hiểm
Chiều cùng ngày, các đại biểu Quốc hội thảo luận trực tuyến về tình hình thực hiện chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH), quản lý và sử dụng Quỹ BHXH năm 2020; việc quản lý, sử dụng Quỹ Bảo hiểm y tế (BHYT) năm 2020 và thực hiện Nghị quyết số 68/2013/QH13 về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật về BHYT, tiến tới BHYT toàn dân trong 2 năm 2019-2020.
Nhiều đại biểu đánh giá cao việc lần đầu Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội quyết định đưa nội dung về BHXH, BHYT để thảo luận toàn thể tại hội trường, khẳng định tầm quan trọng của các chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT, một trong những trụ cột của an sinh xã hội.
Trước đó, theo báo cáo của Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung cho biết, trong năm 2020, ngân sách nhà nước hỗ trợ cho người tham gia BHXH tự nguyện hơn 137,6 tỷ đồng, tăng 35% so với năm 2019; số người tham gia bảo hiểm xã hội đạt gần 16,2 triệu người, bằng 33,5% lực lượng lao động trong độ tuổi, đạt chỉ tiêu năm 2020. Do ảnh hưởng của dịch COVID-19, số người được hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp tăng dẫn đến tổng tiền chi cho các chế độ bảo hiểm thất nghiệp tăng (hơn 4,5 nghìn tỷ đồng, tương ứng 35,7%) so với năm 2019. Về việc thực hiện Nghị quyết 68/QH13, tính đến hết năm 2020, số người tham gia bảo hiểm y tế 87,96 triệu người, đạt tỷ lệ bao phủ 90,85% dân số; trong đó, ngân sách nhà nước đóng và hỗ trợ mức đóng cho hơn 51 triệu người. Qua thảo luận, một số đại biểu đề nghị làm rõ nguyên nhân tình trạng số người hưởng chế độ BHXH một lần tăng cao; đồng thời nêu kiến nghị cần nghiên cứu, xây dựng sửa đổi Luật BHXH; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực BHXH, BHYT…/.