Lá trúc che ngang mặt chữ điền (*)
(HPĐT)- Một chiều đông, nơi vườn chùa bỗng cất lên tiếng sáo. Tiếng sáo vút cao, trong vắt ban mai, lúc rời rợi như hoàng hôn, lúc nồng nàn mời gọi, khiến nàng bồn chồn lòng dạ chẳng yên. Tiếng sáo thôi thúc bước chân thiếu phụ tới hồ sen tự lúc nào. Người thổi sáo dường như không để ý tới thiếu phụ mà vẫn say sưa mê luyến giai điệu. Thiếu phụ ngơ ngác rồi vụt chạy về nhà. Đêm không ngủ giai điệu của tiếng sáo vẫn ám ảnh. Những chiều đông hiu hắt, tiếng sáo bên đầm sen tàn nỉ non dẫn dụ. Cũng từ đó nàng và người thổi sáo quen nhau.

Tranh “Ngũ Trúc” của hoạ sĩ Lê Trí Dũng.
Đó là một người đàn ông đẹp. Đẹp trong ánh nhìn, sang trọng trong ngôn từ. Sự tài hoa không chỉ vút lên trong âm điệu mà ánh nhìn của ông khiến kẻ khác phải nao lòng. Đi qua ngõ trúc nàng lại thầm nhớ tới giai âm luyến láy của tiếng sáo, nhớ câu nói của bà nội nhắc nhở cháu gái thuở nào: Thanh rồi mới đến sắc con nhé! Âm thanh cất lên cần phải dịu dàng, tiếng phải thanh trong. Ngắm nhìn đốt trúc óng lên trong nắng chiều nàng lại chiêm nghiệm những điều về trúc.
Cây trúc thường gắn bó với âm nhạc. Người ta nói rằng những ai phát triển bán cầu đại não trái thường có khiếu về âm nhạc mà thiên hướng nghiêng về âm nhạc phương Đông. Trong đó có tiếng ti, tiếng trúc, tiếng bầu, tiếng thạch. Các nghệ sĩ tài hoa trác tuyệt, họ khai thác tiếng trúc tới tận cùng. Khi tiếng trúc cất lên giai âm luyến láy có thể gọi người yêu. Người yêu nghe tiếng trúc lòng chợt thổn thức nhớ thương dẫu muôn dặm quan san lòng vẫn gửi lòng về cố quận. Thân trúc làm sáo, lá trúc có thể làm chiếc khèn môi réo rắt gọi bạn tình trong đêm tình mùa xuân ngơ ngẩn.
Giai âm của tiếng trúc có đủ cung bậc của cảm xúc: ai, lạc, hỷ, nộ, ái ố dục... Trúc đi vào âm nhạc với muôn hình vạn trạng. Tiếng tiêu của Trương Lương vút lên làm mê hoặc quân lính, làm tan rã hàng vạn tinh binh. Có thể nói tiếng trúc là một sức mạnh huyền diệu, làm thổn thức cõi lòng, làm tan rã lòng quân, làm nát tan đầu tướng… Cây trúc là bóng hình quen thuộc gắn bó với hiền nhân quân tử. Trong con mắt của người Á Đông cây trúc là hiện thân của đất trời trường xuân. Trúc mang lại may mắn, tượng trưng cho sự vững vàng vượt qua gian khó. Trúc còn thể hiện sự uyên bác, trí tuệ tinh thâm, cốt cách quân tử chính trực nhưng vẫn mềm dẻo vượt qua bão tố vững vàng.
Trong ngôn ngữ văn chương người ta cũng dùng khá nhiều hình ảnh ví von bằng mỹ từ nói về trúc. Phải chăng vẻ đẹp của trúc còn biểu hiện sự cao khiết tao nhã chính trực. Bóng hình trúc đi vào đời sống, đi vào thú vui nhàn tản của người hiền. Người ta dùng ống trúc để cắm hoa, làm ống bút như hiện thân của cái đẹp.
Cây trúc ngay thẳng là biểu tượng của sự thanh cao cũng gắn bó với con người ngay cả ẩm thực. Bạch Vân cư sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm từng đứng trên đỉnh cao của danh vọng nhưng ông lại giữ cái cốt cách thanh sạch của mình thật ung dung tự tại giản đơn trong đời sống thường ngày:
“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”
Cuộc đời như chớp bể mưa nguồn, Nguyễn Bỉnh Khiêm lánh xa sự hào nhoáng giàu sang phú quý để bầu bạn với những sản vật của thiên nhiên như măng trúc, giá đông để nụ cười vẫn tỏa sáng trong tâm hiền.
Trúc đi vào văn chương không chỉ ký thác tâm sự mà còn là biểu tượng của đạo đức. Chính vì thế tao nhân mặc khách cũng thích vẽ và ngâm thơ về trúc. Từng có những trường phái vẽ trúc và thơ ngâm vịnh về cây trúc. Tôi lại nhớ tới câu chuyện của Mạc Đĩnh Chi khi đi sứ nước Tàu. Bức tranh trúc sứ Tàu đem treo sống động như thật khiến trạng ta không biết có phải mắt kém hay không mà thấy con chim sẻ đậu trên cành trúc thì lại đưa tay vồ con chim sẻ trong tiếng cười của quan lại Trung Quốc, ai ngờ Mạc Đĩnh Chi đưa tay giật rách bức tranh rồi điềm nhiên mắng: Trúc là biểu tượng của người quân tử, sẻ (tước) là hiện thân của kẻ tiểu nhân. Quân tử làm sao để tiểu nhân đậu lên vai được. Xin hãy chém đầu kẻ vẽ bức tranh này. Quan lại Trung Quốc thấy trạng ta ứng đối như nước chảy liền xấu hổ lủi mất.
Thế mới biết rằng trúc không chỉ là biểu tượng của sự cương nghị xem thường phú quý, cho khí phách hiên ngang của bậc trượng phu mà trúc còn trở thành thi liệu biểu tượng của văn hoá phương Đông.
Trúc đi vào âm nhạc, thi ca và đi vào hội hoạ. Có những trường phái vẽ trúc đầy ấn tượng.
Chiêm ngưỡng bức tranh “Ngũ Trúc” của hoạ sĩ Lê Trí Dũng tôi bắt gặp gió thổi từ Đông sang Tây. Tôi nghe thấy tiếng xạc xào của lá trúc bên sông trăng lóng lánh ánh vàng, chứ không đầy âm thanh tiếng trúc những ngày giông bão. Thân cây trúc trong bức tranh vừa thẳng vừa cứng đan xen vào nhau, nương tựa vào nhau vững như một trường lũy sẵn sàng chống đỡ phong ba. Vài nét chấm phá nhẹ nhàng nhưng gieo vào lòng người xem cái đẹp bền vững khảng khái, cứng cáp ung dung của một đấng quân tử.
Nhìn bức tranh, cảm như hoạ sĩ chớp nhanh một đoạn đời của trúc. Không ngọn, không gốc mà người xem vẫn gặp gốc và ngọn. Một kiểu tư duy chỉ riêng Lê Trí Dũng mới có. Bảo sao nhìn thân trúc mà như thấy cả cội nguồn. Cái ngang tàng tao nhã, khí phách bừng lên trong bức tranh.
Chiều nay ngắm bức tranh “ Ngũ Trúc” của hoạ sĩ Lê Trí Dũng bỗng dưng tôi lại nhớ Hàn Mặc Tử đến nao lòng. Nhớ thôn Vĩ Dạ mướt xanh bóng trúc, mơ một lần đặt chân tới Huế như đã từng thương nhớ câu thơ:
“Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”…
-------------------------------
(*) Câu thơ của Hàn Mạc Tử