(Khảo cứu dự thi) CÁT BÀ NHỮNG TRẦM TÍCH THỜI GIAN
Quần đảo Cát Bà có lịch sử hình thành và phát triển địa chất vào khoảng gần hai chục thiên niên kỷ trước. Nơi đây hiện còn lưu giữ các dấu tích gắn liền với bảy mươi bảy địa điểm khảo cổ, trong đó điển hình là Di chỉ Cái Bèo. Qua quá trình hình thành dài lâu như vậy, đã góp phần tạo nên sự đa dạng sinh học, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, cũng như bản sắc văn hóa đặc trưng của vùng đảo vịnh Hạ Long. Quần đảo này hiện nay bao gồm ba trăm sáu mươi sáu đảo lớn nhỏ, trong đó đảo Cát Bà có diện tích lớn nhất (khoảng một trăm cây số vuông) và thị trấn Cát Bà là thủ phủ của huyện Cát Hải ngày nay…

(Ảnh: Giang Sơn Đông)
Hay nếu du khách từ thượng nguồn Bạch Đằng Giang xuôi về phía hạ lưu, đến khu vực phà Rừng ta gặp một phân lưu rẽ sang triền Tả, mang tên Chanh. Con sông này chia đôi nội đô Quảng Yên theo hướng Đông Nam, rồi nối ra vịnh Hạ Long với chiều dài khoảng mười lăm cây số và bề rộng khoảng ba, bốn trăm mét. Biến mảnh đất Hà Nam (nghĩa Hán là phía Nam sông) thành hòn đảo, thuộc huyện Yên Hưng, châu Yên Bang, lộ Hải Đông, nay thuộc thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.

Bản đồ Bắc kỳ năm 1920.
Vào thời Lê sơ (giữa thế kỷ XV) thì đảo Hà Nam này được các cư dân từ Nam Thăng Long và từ nhiều vùng miền khác tới khai hoang lập ấp, quai đê lấn biển. Sau khi vùng đảo này và bên triền Hữu sông Bạch Đằng (phần đất huyện An Dương cổ) có hệ thống đê điều thì lượng trầm tích từ sông Bạch Đằng và sông Chanh đổ thẳng ra biển. Lượng trầm tích đó khi tới các đảo đá thì bị chặn lại, nó tạo ra phần đồng bằng của một số đảo thuộc quần đảo Cát Bà và một vài đảo (cát) đất khác, trong đó lớn nhất là Cát Hải.
Lượng trầm tích này được bồi đắp dần theo năm tháng và tới thời Lê trung hưng (thế kỷ XVI) thì phần đồng bằng của một số đảo kia cũng như đảo Cát Hải được hình thành và có cư dân tới sinh cơ lập nghiệp. Đất đai hình thành tới đâu thì con người tiến tới đó. Theo thời gian, vùng đất khu vực Cát Bà, Cát Hải được trù phú như ngày nay là nhờ vào thiên nhiên và sự lao động cần cù, sáng tạo của con người nơi đây.

Bản đồ Quảng Yên năm 1902.
Theo “Đại Nam nhất thống chí”, từ thời thượng cổ quần đảo Các Bà (hầu hết các đảo thuộc vịnh Hạ Long ngày nay) thuộc động Thục Long, đến thời nhà Đường (618 - 907) thuộc huyện Ân Phong, châu Nham. Thời Đinh - Tiền Lê (870 - 1009) và thời Hậu Lý (1010 – 1225) thuộc huyện Tư Phong, lộ Triều Dương.
Năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 11 (1242), đời vua Trần Thái Tông thì quần đảo Các Bà thuộc huyện Chi Phong (trước là Tư Phong), lộ Hải Đông. Năm Quang Thái thứ 10 (1397) lộ Hải Đông đổi thành lộ An Bang. Năm Khai Đại thứ 4 (1407) đời vua Hồ Hán Thương, đổi phủ An Bang thành châu Tĩnh An, huyện An Hưng thành huyện An Hòa. Huyện Chi Phong còn có tên khác là Văn Phong thuộc châu Tĩnh An, lộ An Bang. Vào năm Vĩnh Lạc thứ 17 (1419) thời thuộc Minh, thì huyện Chi (Văn) Phong sát nhập vào huyện An Hòa thuộc phủ Tân An. Thời Lê sơ (1428 – 1527) huyện Chi Phong lại được tách ra thuộc phủ Hải Đông, trấn An Bang, rồi sau là thừa tuyên An Bang. Sang thời nhà Mạc (1527 – 1592) vì kiêng tên húy của ông Tổ họ Mạc là Mạc Đĩnh Chi, nên huyện Chi Phong đổi thành huyện Hoa Phong thuộc đạo An Bang…

Bản đồ huyện Nghiêu Phong thời Nguyễn.
Theo thần tích đình Quan Lạn và lịch sử quần đảo Quan Lạn (nay thuộc huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh) thì vào năm Quang Bảo thứ 4 (1557) đời vua Mạc Tuyên Tông, châu Vân Đồn thuộc huyện Hoa Phong. Như vậy ta có thể khảng định được chí ít huyện Hoa Phong có từ thời Mạc Tuyên Tông. Cho tới thời Tây Sơn và thời nhà Nguyễn, hầu hết các đảo thuộc vịnh Hạ Long (trong đó có đảo Cát Hải và quần đảo Cát Bà) cũng như hầu hết các đảo thuộc vịnh Bái Tử Long nữa đều thuộc huyện Hoa Phong, phủ Hải Đông, trấn An (Yên) Quảng. Từ năm Thiên Hựu nguyên niên (1556) đời vua Lê Anh Tông, tên húy là Lê Duy Bang nên An Bang đổi thành An Quảng và từ năm Vĩnh Thịnh thứ 5 (1709) đời vua Lê Dụ Tông, chúa Trịnh Cương được phong tước là An Đô vương, nên An Quảng thành Yên Quảng.
Theo “Đồng Khánh dư địa chí” thì lỵ sở trấn Yên Quảng trước đây đặt tại xã Cổ Dũng, huyện Kim Thành (Hải Dương). Tới năm Gia Long thứ 3 (1804) di dời về gò núi xã Quỳnh Lâu, huyện Yên Hưng, trấn Yên Quảng (nay thuộc thị xã Quảng Yên). Đến năm Minh Mạng thứ 3 (1822) đổi trấn Yên Quảng thành trấn Quảng Yên. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) trấn Quảng Yên đổi thành tỉnh Quảng Yên. Tỉnh Quảng Yên thuộc loại nhỏ nên chung một quan Tổng đốc với tỉnh Hải Dương, gọi là Tổng đốc Hải Yên.
Vào năm Minh Mạng thứ 13 (1832) danh sỹ Nguyễn Công Trứ với cương vị là Tổng đốc Hải Yên, một nhân vật nổi tiếng trong việc khai hoang và mộ dân, đã xin vua Minh Mạng cho thành lập địa giới hành chính tại quần đảo Chàng Sơn (thời Pháp thuộc thì quần đảo này được mang tên Go-To, đến thời cách mạng gọi là Cô Tô). Vì phần lớn cư dân nơi đây là người dân tộc gốc Hoa, nên cái tên lý (làng) Hướng Hóa được ông đặt và cử người cai quản. Lý Hướng Hóa (nay là huyện Cô Tô) cùng với xã Quan Lạn và xã Minh Châu (nay là quần đảo thuộc huyện Vân Đồn) thuộc tổng Vân Hải. Tổng này cùng với tổng Đôn Lương (đảo Cát Hải) và tổng Hà Sen (quần đảo Cát Bà) thuộc huyện Hoa Phong, tỉnh Quảng Yên.
Năm Minh Mạng thứ 17 (1836) phủ Hải Đông tách thành hai phủ là Sơn Định và Hải Ninh. Lúc đầu phủ Sơn Định gồm huyện Hoành Bồ và châu Tiên Yên. Đến năm Thiệu Trị nguyên niên (1841), mẹ vua Nguyễn Hiến Tổ là Hồ Thị Hoa, nên huyện Hoa Phong đổi thành huyện Nghiêu Phong vì kiêng tên húy.

Bản đồ Quảng Yên năm 1890.
Theo “Đồng Khánh dư địa chí” trang 416 thì ranh giới của huyện Nghiêu Phong lúc này: “Phía Đông giáp xã Vĩnh Thực, phủ Hải Ninh; Phía Tây giáp xã Định Chân, huyện An Dương, tỉnh Hải Dương; Phía Nam giáp hải phận xã Đồ Sơn, huyện Nghi Dương, tỉnh Hải Dương; Phía Bắc giáp địa phận xã Lưu Khê, huyện Yên Hưng. Huyện lỵ nguyên đặt tại xã Đôn Lương giáp địa phận xã Hòa Hy. Hai mặt trước sau đều dài 15 trượng 5 thước, hai mặt Tả, Hữu đều dài 11 trượng 3 thước, xung quanh trồng rào tre. Năm Tự Đức thứ 24 (1871) giặc biển đốt phá, nay dựng nhà tạm ở chỗ cũ để làm việc”. Như vậy ta có thể thấy từ thời nhà Nguyễn, huyện Nghiêu Phong đã là vùng biển đảo rộng lớn bao trùm từ vùng biển Đồ Sơn tới ranh giới với xã Vĩnh Thực, châu Hải Ninh, còn vào các đời trước đó chắc chắn huyện Chi Phong, Tư Phong, Ân Phong… còn có diện tích tương đương hoặc rộng hơn.
Năm Tự Đức thứ 3 (1850) huyện Nghiêu Phong thuộc phủ Sơn Định, tỉnh Quảng Yên. Theo Đại Nam nhất thống chí tập IV trang 18 ghi: “Phủ trị Sơn Định và huyện trị Nghiêu Phong được đặt tại xã Đôn Lương sát Hòa Hy”. Rồi năm 1890, phủ Toàn quyền Pháp ra Nghị định lập phủ Nghiêu Phong, dưới phủ là huyện Cát Hải (gồm tổng Hà Sen và tổng Đôn Lương) và huyện Vân Hải (gồm xã Quan Lạn, xã Minh Châu và lý Hướng Hóa). Riêng huyện Cát Hải do phủ Nghiêu Phong kiêm nhiếp. Đến đầu thế kỷ XX chính quyền Pháp bãi bỏ cấp phủ trung gian, nên huyện Cát Hải trực thuộc tỉnh Quảng Yên và cái tên Nghiêu Phong chính thức bị mất: “Nghiêu Phong xanh mát cõi đời. Tháng năm gắn bó đất trời bao la. Biển thương con sóng vỡ òa. Ân, Tư, Chi(1) mãi đậm đà nhớ thương. Văn, Hoa(1) thăm thẳm dặm trường. Chênh chao Cát Hải tơ vương tứ bề”?...
Sau này một số sách sử xuất bản tại Hải Phòng có ghi: “Năm 1948 hai huyện Cát Hải và Hà Nam sát nhập thành huyện Hà Cát, hay huyện Cát Hải và tổng Hà Sen của đảo Cát Bà do tỉnh Quảng Yên quản lý, riêng thị xã Cát Bà do thành phố Hải Phòng quản lý”… là do thời kỳ Pháp tạm chiếm, chính quyền Bảo Đại (không còn thực quyền) thành lập một số địa danh, hoặc do thời kỳ cách mạng hoạt động bí mật đã ra những quy định mới về địa giới hành chính để dễ quản lý, chứ thực chất chưa có quyết định chính thức bằng văn bản của quốc gia.
.jpg)
Sắc phong năm Tự Đức thứ 2 (1849) cho Đông Hải tôn thần Dũng Quyết Hoằng Thi Quảng Tế Hiệp Chương Đông Chính Thượng đẳng thần cho xã Thiên Lộc, huyện Nghiêu Phong, sau này là làng Gia Lộc, huyện Cát Hải.
Ngày 05 tháng 06 năm 1956 Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 913 – TTg sát nhập thị xã Cát Bà và huyện Cát Hải thuộc khu Hồng Quảng về thành phố Hải Phòng, lấy kênh Cái Tráp làm ranh giới giữa Hồng Quảng và Hải Phòng. Rồi ngày 22 tháng 07 năm 1957 thì huyện Cát Bà được thành lập gồm thị xã Cát Bà với năm xã, còn thị xã Cát Bà đổi thành thị trấn Cát Bà thuộc huyện Cát Bà. Từ năm 1959 thì huyện Cát Bà có thêm xã Bạch Long Vỹ do UBND thành phố Hải Phòng chuyển giao. Từ ngày 09 tháng 12 năm 1992 Chính phủ Việt Nam ra nghị định số 15/NĐ/CP nâng cấp đảo Bạch Long Vỹ thành đơn vị hành chính cấp huyện thuộc thành phố Hải Phòng.
Sau hai chục năm chia tách, đến ngày 11 tháng 03 năm 1977, huyện Cát Bà sát nhập với huyện Cát Hải thành đơn vị hành chính huyện mới, mang tên Cát Hải. Ngày 13 tháng 03 năm 1979 giải thể xã Cao Minh, nên huyện Cát Hải còn mười một xã. Ngày 23 tháng 04 năm 1988 tách thôn Hùng Sơn của xã Trân Châu sát nhập vào thị trấn Cát Bà để thành lập thị trấn Cát Bà. Giải thể xã Hòa Quang và xã Gia Lộc để thành lập thị trấn Cát Hải.
Huyện lỵ của Chi Phong trở về trước, chúng tôi chưa có tư liệu chính xác, nhưng từ thời Lê trung hưng đến năm 1945, thì huyện lỵ của Hoa Phong, Nghiêu Phong và Cát Hải được đặt tại xã Đôn Lương sát Hòa Hy, nay thuộc thị trấn Cát Hải. Từ thời cách mạng tháng Tám đến nay, UBND huyện Cát Hải trước đây và thị trấn Cát Hải ngày nay cũng được đặt tại vị trí này.
Còn thủ phủ quần đảo Các Bà xưa được đặt tại xã Hà Liên, sau gọi theo tên Nôm là Hà Sen, nay là khu vực thôn Liên Minh, xã Trân Châu. Cách đó không xa có bến Trân Châu là nơi ra vào của tàu thuyền đi Quảng Ninh, Hải Phòng…Thị trấn Cát Bà ngày nay (trước là đại lý Cát Bà, rồi là phố Cát Bà) được tách ra từ xã Trân Châu, tổng Hà Sen vào đầu thế kỷ XX. Đến ngày 11 tháng 03 năm 1977 huyện Cát Hải và huyện Cát Bà hợp nhất. Nhằm cân đối hài hòa quyền lực giữa hai địa phương, lãnh đạo hai huyện đã thống nhất, huyện mới được mang tên Cát Hải và huyện lỵ đặt tại thị trấn Cát Bà…
Cái tên Các Bà (各婆) được lưu truyền trong dân gian bằng những câu chuyện cổ tích đầy ly kỳ và hấp dẫn như sau: “Ngày xửa ngày xưa, có tốp Nữ thần trẻ không may bị mất, sóng đưa trôi dạt về bến Áng Ván (nay thuộc khu vực đường Hà Sen) và khu vực bến chùa Đông (nay nằm cuối đường Một Tháng Tư), thị trấn Cát Bà. Một số ngư dân trông thấy liền bẻ cành cây đánh dấu chỗ xác chết và về báo cho trùm xã, nhưng khi mọi người tới nơi thì bị mối vùi lấp hết các tử thi. Ngư dân địa phương cho rằng đó là huyệt đất tốt, mà trời đã dành cho và chôn giùm nên gọi là thiên táng. Tương lai làng quê nơi đây sẽ phát đạt, vậy cứ để nguyên các ngôi mộ như vậy mà đắp vun cao lên. Cư dân địa phương, hay thương nhân… khi qua đây thường đến thắp hương và cho nắm đất, nên những phần mộ kia ngày một được thêm cao to hơn, vì người dân tin rằng những âm hồn đó rất linh ứng, luôn phù hộ độ trì cho họ nhiều tài lộc và sức khỏe.
Sau này, dân chúng bèn góp công, góp của lập miếu thờ ngay bên các ngôi mộ trên và từ đó miếu được mang tên Các Bà (各婆). Âm hồn các nữ thần trên đã nhiều lần hiển linh phù hộ cho các ngư dân trên đảo thoát khỏi các dịch bệnh, tai nạn trên biển và đánh đuổi cướp, cũng như chống giặc ngoại xâm. Để tri ân công lao cũng như thị uy sức mạnh của của các nữ thần, quần đảo này được người dân nơi đây đặt tên là đảo Các Bà”.
Hay một truyền thuyết khác về Các Bà là vì nơi đây là hậu phương do đàn bà đảm nhiệm về công tác hậu cần như quân lương, vũ khí, thuốc men… Còn đảo Các Ông là nơi đàn ông tham gia chiến trận. Hai đảo trên sau này được các trầm tích từ sông Bạch Đằng cũng như sông Chanh bồi đắp và người ta gọi theo tên Nôm là Cát Bà hay Cát Ông là như vậy… “Dẫu rằng Thần Nữ linh thiêng. Hay nơi hậu cứ ngả nghiêng bóng chiều. Các Bà hay Cát Bà yêu. Mang bao hương sắc mỹ miều hồn quê”…
Đến thời Lê trung hưng (thế kỷ thứ XVI) thì phần đồng bằng của một số đảo thuộc quần đảo Các Bà và đảo Cát Hải được hình thành. Những công trình văn hóa nơi đây đã minh chứng cho vùng đất này có từ thời đó, được ghi trong các bia đá của chùa Hòa Hy (Tây Sơn tự) xây dựng từ năm Đức Long thứ 7 (1635) đời vua Lê Thần Tông, trùng tu vào các năm Chính Hòa thứ 23 (1702), Cảnh Hưng thứ 23 (1762), Tự Đức thứ 9 (1856), Thành Thái nguyên niên (1889). Hay theo bia đá ở quán Chờ, thì cầu đá Gia Lộc – Cát Hải được xây dựng năm Phúc Thái thứ 4 (1646) đời vua Lê Chân Tông. Hay đình An Khoái (sau đổi là Đôn Lương) được xây dựng từ năm Chính Hòa thứ 14 (1693) và trùng tu vào các năm Vĩnh Khánh thứ 8 (1736), Đồng Khánh thứ 2 (1887). Hoặc chùa Gia Lộc (Sùng Khánh tự) được xây dựng lại vào năm Vĩnh Thịnh nguyên niên (1705) đời vua Lê Dụ Tông. Hay Đồn cổ Xuân Đám được xây dựng tại bãi Cát Đồn – Cát Bà vào năm Minh Mạng thứ 20 (1839), hay đình và miếu Phù Long – Cát Bà…Và, còn khá nhiều các công trình văn hóa khác được xây dựng vào thế kỷ XVIII và XIX...
Trong tay chúng tôi có một số tấm bản đồ tỉnh Quảng Yên thời Pháp thuộc in vào các năm 1890 và 1902 đều ghi Ile (đảo) Các Bà, nhưng tới năm 1920 thì bản đồ Bắc Kỳ viết bằng tiếng Pháp đã ghi Ile (đảo) Cát Bà và có phố Cát Bà. Do vậy cái tên đảo Cát Bà và phố Cát Bà được mang tên từ đầu thế kỷ XX, chứ không phải sau năm 1938 như một số sách đã xuất bản tại Hải Phòng ghi. Trên quần đảo này còn có nhiều địa danh khác mang tên Cát nữa như: Cát Dứa, Cát Cò, Cát Lán, Cát Nang, Cát Ngang, Cát Ông, Cát Để,v.v.
So với các quận huyện khác của Hải Phòng và Quảng Ninh thì Cát Bà có một lịch sử hành chính vào tốp lâu đời nhất, nhưng mảnh đất nơi đây còn chứa đựng vẻ đẹp nguyên sơ và đầy hấp dẫn bởi những ấn tượng đặc sắc, cùng những truyền thuyết bao đời về bề dày lịch sử văn hoá. Quần đảo Cát Bà luôn là không gian khơi nguồn cảm hứng bất tận cho du khách bởi sự hòa quyện tuyệt vời giữa thiên nhiên và con người của khu dự trữ & sinh quyển thế giới, một phần không thể thiếu được của Di sản thiên nhiên thế giới Hạ Long - Cát Bà.
__________
(1) Chữ viết tắt của Ân Phong, Tư Phong, Chi Phong, Văn Phong và Hoa Phong