Phát huy mạnh mẽ vai trò kinh tế biển - Nguồn lực mở cơ đồ đất Việt

Tiến sĩ ĐOÀN DUY KHƯƠNG 23/08/2022 19:45

(HPĐT)- Cách đây vừa tròn 40 năm, vào năm 1982, dự án lấn biển Đồ Sơn (Hải Phòng) hoàn thành, cùng với các dự án đào kênh và đường xuyên đảo Cát Hải, Cát Bà thể hiện tinh thần vươn ra biển “làm giàu, đánh thắng” của quân và dân Hải Phòng góp phần quan trọng hình thành bộ mặt hoàn toàn mới của thành phố Cảng- cửa ngõ của cả miền Bắc. Hiệu quả cao về nhiều mặt từ đây là minh chứng cho thấy tài nguyên biển đã, đang trở thành nguồn lực vật chất phục vụ phát triển đất nước, với chiến lược kinh tế biển phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thời kỳ công nghiệp hóa- điện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Tàu xếp dỡ hàng tại chi nhánh Tân Vũ, Cảng Hải Phòng. Ảnh: PHAN TUẤN

Việt Nam là quốc gia đất hẹp người đông, tuy nhiên là đất nước có tiềm năng tài nguyên kinh tế biển đặc biệt, với vị trí chạy dài ven bờ Tây của biển Đông, có vị thế địa chính trị và địa kinh tế rất quan trọng, không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có được. Với bờ biển dài hơn 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam, cứ 100 km2 đất liền có 1 km bờ biển. Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước, 28 tỉnh, thành phố có biển; gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành phố ven biển. Đáng chú ý là vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam chiếm diện tích khoảng 1.000.000 km² biển Đông (gấp 3 lần diện tích đất liền) với khoảng 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ và 2 quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa, được phân bố khá đều theo chiều dài của bờ biển đất nước, có vị trí đặc biệt quan trọng như một tuyến phòng thủ tiền tiêu để bảo vệ sườn phía Đông của đất nước.

Nói về lịch sử phát triển kinh tế biển quốc gia trên thế giới, cái tên đầu tiên cần được nhắc đến chính là Hà Lan. Quốc gia ở phía tây bắc châu Âu này được biết đến như một đất nước nằm thấp nhất so với mực nước biển trên thế giới. Khoảng 26% diện tích lãnh thổ của Hà Lan ở thấp hơn mực nước biển, vì thế mà người Hà Lan đặt tên quốc gia mình làNederland, nghĩa là “vùng đất thấp”. Người Hà Lan từ lâu nổi tiếng thế giới với niềm tự hào to lớn về những kỳ công xây dựng ngăn giặc nước, lấn biển đáng kinh ngạc. Vì thế, ngoài hình ảnh là xứ sở hoa tulip và đất nước của cối xay gió, Hà Lan còn được biết đến là một quốc gia lập nên kỳ tích đắp đê lấn biển hàng đầu thế giới.

Ở nước ta, trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, sông ngòi và biển đảo luôn gắn với quá trình xây dựng và phát triển của đất nước và dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp mở cơ đồ đất Việt. Hoạt động khai hoang, lấn biển được ông cha ta tiến hành rất sớm, từ triều đại phong kiến nhà Trần đã diễn ra mạnh mẽ, nhất là thời vua Trần Nhân Tông (1258-1308). Vào thế kỷ 15, nhà Lê khuyến khích các công trình khai hoang, lấn biển, nhờ đó đã lập ra nhiều làng mới ven biển các tỉnh Quảng Ninh, Nam Định, Thái Bình (ngày nay). Cách đây gần 200 năm, Nguyễn Công Trứ chiêu mộ dân nghèo đắp đê, bắt đầu cuộc chiến lấn biển, khát vọng chinh phục bãi bồi ở vùng đất Kim Sơn (Ninh Bình). Đến thời nhà Nguyễn, khai hoang, lấn biển đã trở thành quốc sách, có ngành quan “Doanh điền sứ” trông coi.

Bước vào thời kỳ đất nước xây dựng CNXH, nhất là trong công cuộc đổi mới, nhiều dự án lấn biển đã và đang được thực hiện ở hầu hết các tỉnh, thành phố ven biển với quy mô khác nhau, trong đó các dự án lấn biển có quy mô lớn tập trung tại Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Kiên Giang… Các dự án lấn biển đã có những đóng góp quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội thời gian vừa qua, làm thay đổi bộ mặt đô thị và nông thôn ở khu vực ven biển, hải đảo. Trong đó, đặc biệt nhất là cách đây vừa tròn 40 năm, vào năm 1982, dự án lấn biển Đồ Sơn (Hải Phòng) hoàn thành, cùng các dự án đào kênh và đường xuyên đảo Cát Hải, Cát Bà với tinh thần vươn ra biển “làm giàu, đánh thắng” của quân và dân Hải Phòng đã hình thành bộ mặt hoàn toàn mới của thành phố Cảng- cửa ngõ của cả vùng đồng bằng Bắc bộ. Sự kiện này đã gây cảm hứng để nhà thơ Tố Hữu viết nên câu thơ bất hủ: “… Đào kênh lấn biển mở cơ đồ…”. Đó cũng chính là cơ sở chủ yếu bảo đảm không chỉ cho sự hình thành hai xã mới là Tân Thành và Hải Thành (quận Dương Kinh), mà còn thúc đẩy sự xây dựng và phát triển hiệu quả các dự án đầu tư xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp – cảng biển – phi thuế quan Nam Đình Vũ rộng 1.329 ha và cảng nước sâu lớn nhất nhì cả nước tại Lạch Huyện, Hải Phòng.

Theo quan điểm của các nhà kinh tế, trong nền kinh tế thị trường nguồn lực (vốn) là yếu tố then chốt đối với hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, trong đó có thể phân biệt năm loại vốn cơ bản: tài chính, tài nguyên, sản phẩm vật chất, con người và xã hội. Tất cả đều là nguồn lực có khả năng tạo ra dòng sản phẩm đầu ra để hoàn thành các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Vốn tài nguyên được tạo thành từ các nguồn tài nguyên và các dịch vụ hệ sinh thái của thế giới tự nhiên, trong đó, vị trí địa chính trị của đất nước là vốn tài nguyên quý giá. Chính vì vậy, Việt Nam hiện nay với vị trí quan trọng bên biển Đông luôn là đối tác không thể thiếu trong các chương trình nghị sự của khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.

Tuy nhiên, để tài nguyên "mặt tiền biển Đông" thực sự trở thành nguồn lực phát triển đất nước, cần có những động lực từ bàn tay, khối óc và ý chí mạnh mẽ của con người thông qua tầm nhìn và khả năng dẫn dắt của các nhà lãnh đạo và giới tinh hoa xã hội trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển như vũ bão ngày nay. Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khoá 12 ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Theo đó, đến năm 2030, nước ta phát triển thành công, đột phá về các ngành kinh tế biển theo thứ tự ưu tiên: (1) Du lịch và dịch vụ biển; (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác; (4) Nuôi trồng và khai thác hải sản; (5) Công nghiệp ven biển; (6) Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới.

Triển khai thực hiện Nghị quyết 36- NQ/TW, các cơ quan Trung ương và các địa phương có biển đã ban hành chương trình, kế hoạch hành động thực hiện nghị quyết. Kinh tế biển, các vùng biển, ven biển đang trở thành một động lực phát triển của đất nước; hệ thống kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư, đời sống vật chất và tinh thần của người dân vùng biển được cải thiện rõ rệt… Kinh tế biển và ven biển đóng góp tỷ lệ lớn vào tổng sản phẩm quốc nội, là nguồn thu ngoại tệ mạnh phục vụ phát triển đất nước. Du lịch biển đảo mang lại 70% doanh thu cho ngành du lịch cả nước. Sản lượng khai thác quy dầu khí đạt 18,43 triệu tấn (trong đó khai thác dầu thô đạt 10,97 triệu tấn). Sản lượng thủy sản khai thác đạt 3.920 nghìn tấn; nuôi trồng đạt 4.805,8 nghìn tấn... Các khu công nghiệp, khu đô thị, các vùng biển với các cảng biển dựa trên hệ sinh thái kinh tế và tự nhiên, kết nối chiến lược Bắc - Nam, Đông - Tây giữa các vùng trong nước và với quốc tế.

Cả nước hiện có 18/19 khu kinh tế ven biển nằm trong quy hoạch đã được thành lập. Đã hình thành chuỗi đô thị biển với gần 600 đô thị, chiếm khoảng 8% số lượng đô thị cả nước với dân số khoảng 19 triệu người. Đồng thời, việc phát triển kinh tế biển có vai trò quan trọng trong tăng cường sức mạnh tổng hợp, thế và lực của quốc gia cũng như nâng cao “thế trận lòng dân” trên các vùng biển, đảo, bảo đảm quốc phòng- an ninh của đất nước.

Mặc dù vậy, theo các nhà chiến lược kinh tế biển thì quy mô kinh tế biển nước ta còn khiêm tốn, phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý. Hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học - công nghệ biển, đào tạo nguồn nhân lực cho kinh tế biển và các cơ sở quan trắc, dự báo, cảnh báo biển, thiên tai biển, các trung tâm tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn... ở ven biển còn nhỏ, trang bị thô sơ, năng lực còn yếu. Môi trường biển biến đổi theo chiều hướng xấu. Đa dạng sinh học biển và nguồn lợi thủy sản đang giảm sút nghiêm trọng, thiếu bền vững.

Những yếu kém xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có cả các nguyên nhân khách quan từ diễn biến cực đoan trong biến đổi khí hậu toàn cầu, song chủ yếu từ những nguyên nhân chủ quan. Cụ thể là: Quản trị biển theo không gian, quản lý tổng hợp vùng bờ biển, quy hoạch không gian biển còn chậm được áp dụng. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách phục vụ kết nối và phát triển bền vững kinh tế biển còn thiếu và chưa đồng bộ…

Chính vì vậy, để chiến lược kinh tế biển thực sự là động lực biến tài nguyên biển thành một trong năm nguồn lực vật chất cho xây dựng và phát triển nền kinh tế đất nước đang hướng tới tầm nhìn đến năm 2045, xin được đề xuất bốn giải pháp trọng điểm:

Một là, cần bổ sung vào Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) quy định về quản lý, sử dụng đất hình thành từ lấn biển, đặc biệt là dự án lấn biển không sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước bảo đảm hài hòa lợi ích của ba chủ thể kinh tế là nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Hơn nữa,phải gắn các nội dung này với tầm nhìn khu vực và quy hoạch quốc gia cũng như luật pháp quốc tế liên quan.

Hai là, có chính sách chủ động trong việc đưa ra các sáng kiến về kinh tế biển để hội nhập hiệu quả với các sáng kiến hội nhập kinh tế quốc tế của khu vực, khi biển Đông là mắt xích ngày càng quan trọng về logistics quốc tế trong quá trình chuỗi cung ứng toàn cầu đang chuyển dịch nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ của Việt Nam.

Ba là, cần liên kết việc phát triển kinh tế biển với trục cao tốc phía đông hướng tới việc xây dựng một mô hình liên kết kinh tế tiểu vùng, hình thành không gian phát triển mới, phát huy tối đa lợi thế của các địa phương, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, tăng trưởng kinh tế cao và có cộng đồng doanh nghiệp phát triển mạnh, tạo ra các cực tăng trưởng khu vực Bắc, Trung, Nam trên tiến trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa, góp phần lan tỏa hợp tác sang cả các quốc gia láng giềng như ASEAN, Lào, các tỉnh Tây Nam Trung Quốc…

Bốn là, phát triển kinh tế biển cần gắn liền việc đầu tư nghiên cứu, dự báo, đào tạo và phát triển công nghệ cũng như với chiến lược đối phó biến đổi khí hậu, chính sách bảo tồn đa dạng sinh học biển và các vấn đề xã hội học bảo đảm phát triển bền vững đất nước./.

Tiến sĩ ĐOÀN DUY KHƯƠNG