Đề án đặt tên đường, phố, công trình công cộng trên địa bàn thành phố Hải Phòng
(Dự thảo Đề án của UBND thành phố trình kỳ họp thứ 9, HĐND thành phố khóa 16)

Đường nối từ phố Lê Lợi đến đường Nguyễn Bỉnh Khiêm (quận Ngô Quyền) được đề xuất đặt tên Lê Quang Đạo. (Ảnh: DUY ĐỨC)
A. SỰ CẦN THIẾT ĐẶT TÊN ĐƯỜNG, PHỐ, CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
Trong những năm qua, thành phố Hải Phòng đã và đang trong quá trình phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội; kết cấu hạ tầng được đầu tư xây dựng và từng bước được cải tạo, nâng cấp, hoàn thiện. Tại một số quận, huyện trên địa bàn thành phố, nhiều tuyến đường, phố và công trình công cộng được xây mới, mở rộng, góp phần giảm thiểu tình trạng ùn tắc giao thông, đáp ứng nhu cầu đi lại, sinh hoạt của nhân dân thành phố. Trong các năm 2020, 2021, nhiều công trình đã được thành phố đặt tên, tuy nhiên với tốc độ phát triển cơ sở hạ tầng mạnh mẽ nên đến nay vẫn còn nhiều tuyến đường, phố, công trình công cộng chưa được đặt tên, làm ảnh hưởng tới công tác quản lý hành chính nhà nước của các cấp chính quyền địa phương cũng như hoạt động giao dịch, thông tin liên lạc của các tổ chức, cá nhân có liên quan. Mặt khác, việc đặt tên cho các tuyến đường, phố và công trình công cộng thành phố góp phần tôn vinh những nhân vật tiêu biểu, lịch sử văn hoá, địa danh, các công trình văn hóa - lịch sử của thành phố và đất nước.
Do đó, việc đặt tên đường, phố và công trình công cộng là rất cần thiết nhằm góp phần thực hiện công tác quản lý đô thị, quản lý hành chính một cách khoa học; đồng thời thể hiện sự tri ân, trân trọng đối với các bậc tiền nhân, các giá trị lịch sử - văn hóa, góp phần giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa, khơi gợi lòng yêu nước, tinh thần dân tộc cho nhân dân thành phố, đặc biệt là cho các thế hệ mai sau.
Với ý nghĩa đó, UBND thành phố xây dựng Đề án đặt tên đường, phố, công trình công cộng trên địa bàn thành phố Hải Phòng, trình kỳ họp thường lệ cuối năm 2022 của HĐND thành phố khóa 16.
B. CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
- Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19-6-2015 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2019;
- Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22-6-2015 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020;
- Các Nghị định của Chính phủ: số 34/2016/NĐ-CP ngày 14-5-2016 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; số 154/2020/NĐ-CP ngày 24-5-2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14-5-2016 của Chính phủ;
- Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng;
- Thông tư số 36/2006/TT-BVHTT ngày 20-3-2006 của Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ;
- Nghị quyết số 52/NQ-HĐND ngày 10-12-2021 của HĐND thành phố về Kế hoạch tổ chức các kỳ họp thường lệ năm 2022 của HĐND thành phố khóa 16 (nhiệm kỳ 2021-2026);
- Kế hoạch số 22/KH-HĐND ngày 14-10-2022 của HĐND thành phố về Chuẩn bị Kỳ họp thứ 9 (kỳ họp thường lệ cuối năm 2022) HĐND thành phố khóa 16 (nhiệm kỳ 2021-2026);
- Quyết định số 30/QĐ-HĐND ngày 19-10-2022 của Thường trực HĐND thành phố chấp thuận đề nghị của UBND thành phố về việc xây dựng Nghị quyết của HDNĐ thành phố về đặt tên một số đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn thành phố Hải Phòng;
Căn cứ đặc điểm, tình hình, quy hoạch phát triển đô thị và yêu cầu của công tác quản lý nhà nước; nhằm bảo đảm công tác quản lý đô thị của thành phố nền nếp, trật tự, văn minh, hiện đại, đáp ứng nhu cầu của Nhân dân thành phố Hải Phòng và các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Xét đề nghị của Sở Văn hóa và Thể thao tại Tờ trình số …/TTr-SVHTT ngày …/…/2022 về việc trình hồ sơ đề nghị đặt tên một số phố và công trình công cộng trên địa bàn thành phố Hải Phòng, Báo cáo giải trình số …/BC-SVHTT ngày …/…/2022; Báo cáo thẩm định số …/BC-STP ngày …/…/2022 của Sở Tư pháp về thẩm định dự thảo Nghị quyết về việc đặt tên một số phố và công trình công cộng trên địa bàn thành phố; ý kiến của các đồng chí Ủy viên UBND thành phố.
UBND thành phố trình HĐND thành phố xem xét đặt tên 53 phố, 2 đường, 1 công viên trên địa bàn thành phố (trong đó: 27 tên là tên danh nhân, 16 tên là tên địa phương kết nghĩa hoặc có mối quan hệ đặc biệt, 11 tên là tên địa danh, 2 tên là danh từ có ý nghĩa tiêu biểu về chính trị, văn hóa, xã hội) tại kỳ họp thứ 9 HĐND khóa 6, nhiệm kỳ 2021 - 2026.
C. NỘI DUNG ĐỀ ÁN
I. CƠ SỞ LỰA CHỌN TÊN ĐẶT
Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng
“Điều 10. Đường, phố được đặt tên trên cơ sở lựa chọn trong các tên sau:
1. Tên địa danh nổi tiếng, có ý nghĩa và có giá trị tiêu biểu về lịch sử-văn hóa của đất nước hoặc địa phương; địa danh đã quen dùng từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân; tên địa phương kết nghĩa hoặc có mối quan hệ đặc biệt.
2. Danh từ có ý nghĩa tiêu biểu về chính trị, văn hóa, xã hội.
3. Tên di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh có giá trị tiêu biểu của quốc gia hoặc địa phương đã được xếp hạng theo quy định của Luật Di sản văn hóa.
4. Tên phong trào cách mạng, sự kiện lịch sử, chiến thắng chống xâm lược có giá trị tiêu biểu của quốc gia hoặc địa phương.
5. Tên danh nhân gồm cả danh nhân nước ngoài. Danh nhân đó phải là người nổi tiếng, có đức, có tài, có đóng góp lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như của địa phương hoặc có đóng góp đặc biệt cho đất nước, có công lớn trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật, phát triển tình hữu nghị giữa các dân tộc, được Nhân dân suy tôn và thừa nhận.
Những nhân vật lịch sử còn có ý kiến đánh giá khác nhau hoặc chưa rõ ràng về mặt lịch sử thì chưa xem xét đặt tên cho đường, phố và công trình công cộng.”
II. ĐẶT TÊN ĐƯỜNG, PHỐ
* QUẬN LÊ CHÂN (6 phố)
* Phường Vĩnh Niệm
1. Phố Mai Năng
Điểm đầu: số 10 đường Võ Nguyên Giáp. Điểm cuối: số 453 đường Thiên Lôi. Phố dài 550m, rộng 12-18m, vỉa hè từ 2-5m. Dân cư ổn định, mặt đường trải nhựa Asphalt, có hệ thống điện chiếu sáng, hệ thống thoát nước.
Mai Năng tên thật là Tạ Văn Thiều (1930 - 2019), quê tại làng Sơn Lương, xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Ông gia nhập quân đội năm 1947, tham gia trinh sát và tập kích sân bay Cát Bi ngày 7-3-1954. Sau ngày giải phóng thành phố Hải Phòng, ông làm Phó hiệu trưởng Trường trinh sát Quân Khu Ba, Chính trị viên tàu săn ngầm của Quân chủng Hải quân và tham gia xây dựng lực lượng đặc công nước. Tháng 10-1966, ông đưa bộ đội vào mặt trận Trị Thiên và tham gia chiến dịch mùa Xuân năm 1968, Đường 9-Nam Lào (1971), Thừa Thiên- Huế (1972), chiến dịch Hồ Chí Minh, chỉ huy giải phóng quần đảo Trường Sa (1975)…
Ông đã được tặng 13 huân chương các loại, hàm Trung tướng. Tháng 12/1969, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Việc đặt tên ông cho tuyến phố thể hiện tình cảm, sự tri ân đối với những đóng góp của ông trong công cuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc; dễ nhớ, dễ tìm; bảo đảm tiêu chí tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
2. Phố Võ An Đông
Điểm đầu: số 2/16 đường Võ Nguyên Giáp. Điểm cuối: số 591 đường Thiên Lôi. Phố dài 260m, rộng 7,5m, vỉa hè mỗi bên 2m. Dân cư ổn định, mặt đường trải nhựa Asphalt, có hệ thống điện chiếu sáng, hệ thống thoát nước.
Võ An Đông (1922 - 2006), tên thật là Hồ Văn Thỏa, quê xã Viên Nội, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội), trước khi mất ông sống tại phường Hồ Nam, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ sớm, gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam, giữ chức Phó cục trưởng Cục Dân quân, tự vệ, Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trong thời gian công tác tại Hải Phòng, ông đã giữ các chức vụ: tham gia tiếp quản giải phóng thành phố Hải Phòng (13-5-1955), Thành đội trưởng, Tư lệnh Bộ Tư lệnh 350, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự thành phố, Bí thư Đảng ủy Quân sự thành phố, Quân khu ủy viên Quân khu Tả Ngạn, Quân khu Ba; Giám đốc Cảng Hải Phòng; chỉ huy triển khai nhiều công trình trọng điểm phát triển kinh tế, quốc phòng: đắp đê lấn biển tại xã Vinh Quang, mở 2 xã mới tại huyện Tiên Lãng, làm đường xuyên đảo Đình Vũ - Cát Hải - Cát Bà, đào kênh Cái Tráp… Ông được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất và nhiều danh hiệu cao quý khác.
Việc đặt tên ông cho tuyến phố thể hiện tình cảm, sự tri ân đối với những đóng góp của ông trong công cuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc; dễ nhớ, dễ tìm; bảo đảm tiêu chí tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
3. Phố Lê Trọng Tấn
Điểm đầu: số 16 đường Võ Nguyên Giáp. Điểm cuối: số 613 đường Thiên Lôi. Phố dài 260m, rộng 12m, vỉa hè mỗi bên 4m. Dân cư ổn định, mặt đường trải nhựa Asphalt, có hệ thống điện chiếu sáng, hệ thống thoát nước.
Lê Trọng Tấn tên thật là Lê Trọng Tố (1914 - 1986), quê xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Ông tham gia cách mạng từ năm 1944, năm 1945 là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 8-1945, ông là Ủy viên quân sự Ban lãnh đạo khởi nghĩa tỉnh Hà Đông. Từ 1945 đến 1950, ông là Trung đoàn trưởng các Trung đoàn: Sơn La, Sơn Tây, Phó Tư lệnh Liên khu 10… Trong kháng chiến chống Mỹ, ông đã giữ các chức Phó Tổng Tư lệnh, Tư lệnh chỉ huy quân ta trong các chiến dịch, trận đánh quan trọng như: Mặt trận đường 9, chiến dịch Trị Thiên, Chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Từ năm 1976, ông giữ các chức vụ: Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao, Tư lệnh mặt trận Tây Nam trong Chiến tranh biên giới Tây Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 4, 5; đại biểu Quốc hội khóa 7. Ông được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều huân chương cao quý khác.
Việc đặt tên ông cho tuyến phố thể hiện tình cảm, sự tri ân đối với những đóng góp của ông trong công cuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc; dễ nhớ, dễ tìm; bảo đảm tiêu chí tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
4. Phố Khúc Hạo
Điểm đầu: số 97 phố Khúc Thừa Dụ. Điểm cuối: số 8/97 phố Khúc Thừa Dụ. Phố dài 480m, rộng 10m, vỉa hè mỗi bên 2m. Dân cư ổn định, mặt đường trải nhựa Asphalt, có hệ thống điện chiếu sáng, có hệ thống thoát nước.
Khúc Hạo (860 - 917), ông là con của Khúc Thừa Dụ, hai cha con ông đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa năm 905, giành quyền tự chủ cho nước Việt sau nghìn năm Bắc thuộc và kế vị cha năm 907. Dựa vào sự ủng hộ của nhân dân, Khúc Hạo đã thực hiện một cuộc cải cách về nhiều mặt nhằm xây dựng một quốc gia độc lập, tự chủ, thoát dần khỏi ảnh hưởng và sự khống chế của của các thế lực phương Bắc. Đường lối chung trong chính sách lãnh đạo đất nước của Khúc Hạo thể hiện rõ tinh thần tự chủ đất nước, chống lại bọn quan lại tham ô, cường hào ác bá bóc lột nhân dân; không gây phiền hà, sách nhiễu cho nhân dân; sửa đổi chế độ điền tô, thuế má nặng nề trước đây và xây dựng chính quyền thống nhất từ trung ương đến xã, bãi bỏ bộ máy cai trị cũ của nhà Đường để thành lập bộ máy hành chính mới của đất nước. Tên tuổi và đóng góp của ông đã được ghi chép trong lịch sử (Đại cương Lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009, tr.102)
Việc đặt tên ông cho tuyến phố thể hiện tình cảm, sự tri ân đối với những đóng góp của ông trong công cuộc đấu tranh và bảo vệ đất nước; dễ nhớ, dễ tìm; bảo đảm tiêu chí tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 Chính phủ.
5. Phố Ngô Kim Húc
Điểm đầu: số 36 đường Trực Cát. Điểm cuối: số 36 phố Vĩnh Tiến. Phố dài 480m, rộng 10m, vỉa hè mỗi bên 2m. Dân cư ổn định, mặt đường trải nhựa Asphalt, có hệ thống điện chiếu sáng, có hệ thống thoát nước.
Ngô Kim Húc, người làng Hàng Kênh, huyện An Dương, nay thuộc phường Hàng Kênh, quận Lê Chân. Ông đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân, khoa thi năm Mậu Tuất (1478), niên hiệu Hồng Đức thứ 9, đời vua Lê Thánh Tông. Sau khi đỗ đạt, ông ra làm quan triều vua Lê Thánh Tông. Tên tuổi ông cùng với các vị tiến sĩ Hải Phòng thời kỳ phong kiến đã được khắc bia và được ghi chép trong cuốn “Những ông Nghè đất Cảng”.
Việc đặt tên ông cho tuyến phố góp phần giáo dục truyền thống hiếu học tại địa phương, ghi nhớ, lưu danh tên tuổi một người con của quê hương có đóng góp cho công cuộc xây dựng đất nước, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và chính quyền địa phương; bảo đảm tiêu chí tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 Chính phủ.
* Phường Kênh Dương
6. Phố Bùi Xuân Quý
Điểm đầu: đường Võ Nguyên Giáp. Điểm cuối: số 571 đường Nguyễn Văn Linh. Phố dài 415m, rộng 15m, vỉa hè mỗi bên 3-5m. Dân cư ổn định, mặt đường trải nhựa Asphalt, có hệ thống điện chiếu sáng, thoát nước, hệ thống cây xanh, một bên dân cư sinh sống, một bên là Trung tâm Thương mại Aeon Lê Chân - Hải Phòng.
Bùi Xuân Quý (1954-1984), quê thôn Trung Trữ, xã Ninh Giang, huyện Gia Khánh, nay là huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Sau khi tốt nghiệp Trường Cảnh sát nhân dân Trung ương, tháng 11-1975, ông được điều về làm cảnh sát khu vực Trại Cau, khu phố Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Tối ngày 9-3-1984, Bùi Xuân Quý cùng đồng đội truy bắt tên tội phạm dùng lựu đạn đột nhập cướp tại nhà hàng ở phố Tô Hiệu. Chúng dùng súng chống trả và Bùi Xuân Quý đã anh dũng hy sinh. Với tấm gương sáng trong công tác và hy sinh khi làm nhiệm vụ, năm 1985, liệt sĩ Bùi Xuân Quý được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Đặt tên ông cho tuyến phố này nhằm tôn vinh, tri ân những công lao, đóng góp của ông trong cuộc đấu tranh chống quân xâm lược, xây dựng và bảo vệ đất nước; dễ nhớ, dễ tìm; bảo đảm đúng tiêu chí tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
* QUẬN NGÔ QUYỀN (1 đường, 2 phố)
* Phường Gia Viên
1. Đường Lê Quang Đạo
Điểm đầu: số 179 phố Lê Lợi. Điểm cuối: đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Phố dài 1.970 m, rộng từ 25m - 42,5m, vỉa hè mỗi bên 4,25-5m. Dân cư ổn định, mặt đường trải nhựa Asphalt, có hệ thống điện chiếu sáng, thoát nước. Phố đi qua 3 phường trên địa bàn quận Ngô Quyền gồm Gia Viên, Đông Khê và Đằng Giang.
Lê Quang Đạo tên thật là Nguyễn Đức Nguyện (1921 - 1999), quê xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, tham gia cách mạng từ năm 1938, năm 1940 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ năm 1943 đến năm 1945, ông là Bí thư Ban cán sự Hà Nội, Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ. Từ cuối năm 1945 đến năm 1946, ông giữ chức Bí thư Thành ủy Hải Phòng. Từ 5-1946 đến 1950 ông giữ nhiều chức vụ khác nhau: Xứ ủy viên Bắc Kỳ, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Phó bí thư Khu ủy đặc biệt Hà Nội (khu 11); Bí thư Liên Tỉnh ủy Hà Nội-Hà Đông; Phó ban Tuyên truyền của Trung ương Đảng; Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Ông là Bí thư Trung ương Đảng các khóa 4 và 5 (1976 - 1986), Đại biểu Quốc hội khóa 8 và 9, Chủ tịch Quốc hội, Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước (nay là Phó thủ tướng Chính phủ) (1987 - 1992). Ông được Đảng và Nhà nước tặng Huân chương Hồ Chí Minh, truy tặng Huân chương Sao Vàng và nhiều huân, huy chương cao quý khác.
Việc đặt tên ông cho tuyến đường thể hiện tình cảm của nhân dân thành phố Hải Phòng ghi nhận, tri ân những đóng góp của ông đối với công cuộc đấu tranh chống xâm lược, giành độc lập tự do cho dân tộc; bảo đảm tiêu chí về đặt tên đường, phố quy định tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
* Phường Đông Khê
2. Phố Hoàng Mậu
Điểm đầu: tiếp giáp với phố Đỗ Chính. Điểm cuối: tiếp giáp phố Nguyễn Xuân Nguyên. Phố dài 400m, rộng 30m, dân cư đông đúc, phù hợp quy hoạch.
Hoàng Mậu tên thật là Hoàng Diện Cửu (1907 - 1990), sinh tại Nam Định, quê gốc tại tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc). Cuối năm 1929, ông làm công nhân ở nhà máy Xi măng Hải Phòng, tham gia Công hội đỏ, tham gia rải truyền đơn ở nhà máy. Đầu năm 1931, Tòa án thực dân Pháp đã xử Hoàng Mậu cùng nhiều chiến sĩ cộng sản khác phát lưu chung thân đày đi Côn Đảo. Năm 1936, sau khi được trả tự do, ông về Hải Phòng tham gia hoạt động cách mạng. Tháng 11-1940, ông làm Tỉnh ủy viên Liên tỉnh Hải Kiến (gồm Hải Phòng và Kiến An), Bí thư Huyện ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến huyện An Dương. Năm 1947, ông tham gia Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam. Năm 1952, ông làm Phó bí thư, Bí thư Thành ủy Hải Phòng... Sau ngày Hải Phòng giải phóng, ông giữ các chức vụ: Phó bí thư Thành ủy Hải Phòng, Thư ký Liên hiệp Công đoàn Hải Phòng, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Hải Phòng, ủy viên Chủ tịch đoàn Tổng Công đoàn. Ông được Đảng và Nhà nước tặng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhất, và nhiều huân, huy chương cao quý khác.
Việc đặt tên ông cho tuyến phố thể hiện tình cảm của nhân dân thành phố Hải Phòng ghi nhận, tri ân những đóng góp của ông đối với công cuộc đấu tranh chống xâm lược, giành độc lập tự do cho dân tộc; dễ nhớ, dễ tìm; bảo đảm tiêu chí về đặt tên đường, phố quy định tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
3. Phố Trịnh Công Sơn
Điểm đầu: tiếp giáp đường mặt cắt 30m (lô 22 Lê Hồng Phong). Điểm cuối tiếp giáp phố Thái Phiên. Phố dài 200m, rộng 12m, có vỉa hè, dân cư đông, phù hợp quy hoạch
Trịnh Công Sơn (1939 - 2001), quê làng Minh Hương, xã Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông là tác giả bài hát “Nối vòng tay lớn” nổi tiếng và được coi là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của nền Tân nhạc Việt Nam với nhiều ca khúc cách mạng như: “Nối vòng tay lớn”, “Em ở nông trường anh ra biên giới”, “Huyền thoại mẹ”; nhiều bài hát cho thiếu nhi như: “Em là hoa hồng nhỏ”, “Tiếng ve gọi hè”, “Tuổi đời mênh mông”, “Khăn quàng thắp sáng bình minh”… và nhiều tình khúc vượt thời gian như: “Một cõi đi về”, “Biển nhớ”, “Như một lời chia tay”, “Diễm xưa”…
Hiện nay, tên ông đã được thành phố Hà Nội và tỉnh Thừa Thiên Huế lựa chọn đặt tên cho tuyến phố tại các địa phương này. Việc đặt tên ông cho tuyến phố, thể hiện tình cảm của nhân dân thành phố Hải Phòng ghi nhận đóng góp của ông đối với nền âm nhạc nước nhà; dễ nhớ, dễ tìm; bảo đảm tiêu chí về đặt tên đường, phố quy định tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
*QUẬN KIẾN AN (3 phố)
* Phường Lãm Hà
1. Phố Tây Hà
Điểm đầu: số 196 đường Trường Chinh. Điểm cuối: số 150/196 đường Trường Chinh. Phố dài 650m, rộng 5 - 7m. Dân cư ổn định, mặt đường trải nhựa Asphalt, có hệ thống điện chiếu sáng, thoát nước.
Phố nằm ở phía Tây sông Lạch Tray, thuộc phường Lãm Hà, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. Do vị trí nằm ở phía Tây sông nên nhân dân tại đây từ lâu đã quen gọi phố là phố Tây Hà.
Đặt tên phố Tây Hà vì tên gọi này đã gắn bó, quen thuộc với nhân dân địa phương; dễ nhớ, dễ tìm; bảo đảm tiêu chí tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
* Phường Nam Sơn
2. Phố Kha Lâm
Điểm đầu: số 1 phố Thống Trực. Điểm cuối: số 154 đường Chiêu Chinh. Phố dài 500m, rộng 6m. Dân cư ổn định, mặt đường trải nhựa Asphalt, không có hệ thống điện chiếu sáng.
Tuyến phố thuộc làng Kha Lâm trước đây, nay thuộc phường Nam Sơn, quận Kiến An. Người dân làng Kha Lâm có nghề mộc truyền thống đã tồn tại từ hàng trăm năm trước, đến nay địa phương vẫn duy trì sản xuất và mua bán đồ mộc. Vì vậy nhân dân tại đây từ lâu đã quen gọi tuyến phố là phố Kha Lâm.
Đặt tên phố Kha Lâm nhằm lưu giữ tên gọi truyền thống đã gắn bó, quen thuộc với nhân dân địa phương; dễ nhớ, dễ tìm; bảo đảm tiêu chí tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
3. Phố Thanh Long
Điểm đầu: số 172 đường Lệ Tảo. Điểm cuối: số 242 đường Lệ Tảo (đình Lệ Tảo). Phố dài 500m, rộng 5m. Dân cư sinh sống hai bên, mặt đường trải nhựa Asphalt, không có hệ thống điện chiếu sáng.
Tuyến phố thuộc địa bàn phường Nam Sơn, quận Kiến An, cạnh tuyến phố có đình Lệ Tảo và chùa Thanh Long. Chùa Thanh Long là những công trình tôn giáo, tín ngưỡng cổ, có từ lâu đời, đã gắn bó với sinh hoạt tín ngưỡng và đời sống văn hóa tâm linh của nhân dân địa phương. Vì vậy, tên gọi Thanh Long đã ăn sâu vào tiềm thức nhân dân địa phương.
Đặt tên phố Thanh Long để lưu giữ tên gọi đã có từ lâu, đã gắn bó và quen thuộc với nhân dân địa phương; dễ nhớ, dễ tìm; bảo đảm tiêu chí tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
* QUẬN DƯƠNG KINH (33 phố)
* Phường Hưng Đạo (7 phố)
Phường Hưng Đạo, quận Dương Kinh được thành lập từ cuối năm 2007, trên cơ sở xã Hưng Đạo, huyện Kiến Thụy nên các tuyến đường, phố tại đây vẫn còn mang đậm các đặc điểm của làng xóm xưa đang trong quá trình đô thị hóa. Hầu hết các tuyến phố có chiều dài ngắn và chiều rộng không lớn, cơ sở hạ tầng chưa đầy đủ, đồng bộ. Vì vậy, các tên đặt tại đây được lựa chọn từ tên những danh nhân có tầm vóc tương xứng với quy mô tuyến phố trên nguyên tắc ưu tiên tên những người con của vùng đất Dương Kinh, Kiến Thụy đỗ đạt, có nhiều cống hiến cho đất nước và đã được ghi danh vào sử sách.
1. Phố Hoàng Thuyên
Điểm đầu: số 112 phố Vọng Hải. Điểm cuối: số 54/112 phố Vọng Hải. Phố dài 500m, rộng 6m. Dân cư sinh sống hai bên, mặt đường trải nhựa Asphalt, có hệ thống điện chiếu sáng.
Hoàng Thuyên người làng Lê Xá, huyện Nghi Dương, nay là thôn Lê Xá, xã Tú Sơn, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Năm 38 tuổi, ông đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân tại khoa thi năm Mậu Tuất (1538), niên hiệu Đại Chính thứ 9 đời vua Mạc Thái Tông. Sau khi đỗ đạt, ông ra làm quan và giữ đến chức Tham chính và Hữu thị lang Bộ Công. Ông được ghi danh ở bia tại Văn miếu Xuân La, huyện Kiến Thụy, được các triều vua phong kiến ban sắc phong. Tên tuổi của ông được ghi chép lại trong cuốn "Những ông Nghè đất Cảng".
Việc đặt tên ông cho tuyến phố góp phần giáo dục truyền thống hiếu học tại địa phương, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân; bảo đảm tiêu chí tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
2. Phố Trần Quốc Thi
Điểm đầu: số 36 phố Vọng Hải. Điểm cuối: đình Vọng Hải. Phố dài 350m, rộng 5m. Một bên có dân cư sinh sống, một bên là vườn, mặt đường trải nhựa Asphalt, có hệ thống điện chiếu sáng.
Trần Quốc Thi là tôn thất nhà Trần, ông được phong tước Văn Định Vương, là người có đóng góp trong cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên, thế kỷ 13, được vua Trần phong ấp ở Đại Trà, Phong Cầu, Đức Phong, Lạng Côn, nay thuộc xã Đông Phương, huyện Kiến Thụy và phường Hưng Đạo, quận Dương Kinh. Sau khi ông mất, nhân dân tại đây tôn ông làm Thành hoàng làng, thờ tại đình Đại Trà, xã Đông Phương. Công trạng và đóng góp của ông với đất nước được ghi lại tại sắc phong của nhiều triều vua và được lưu giữ tại đình Đại Trà, xã Đông Phương, huyện Kiến Thụy và đình Tây Am, xã Cao Minh, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
Việc đặt tên ông cho tuyến phố, thể hiện sự tri ân đối của nhân dân với những đóng góp của ông trong công cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước, bảo đảm tiêu chí tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
3. Phố Hồng Vân
Điểm đầu: số 82 phố Phạm Gia Mô. Điểm cuối: số 122 phố Chợ Hương. Phố dài 300m, rộng 5,0m, mặt đường trải nhựa Asphalt, có hệ thống điện chiếu sáng.
Hồng Vân tên thật là Đoàn Đắc Diễm (1912- 1964), quê thôn Kim Sơn, xã Tân Trào, huyện Kiến Thụy, tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1936. Ông đã hoạt động, xây dựng cơ sở cách mạng tại Kim Sơn, Kính Trực, Đức Hậu, Lão Phong, Đoàn Xá (Kiến Thụy), Vinh Quang (Tiên Lãng)... Ông làm Trưởng Ban Cán sự Việt Minh huyện Kiến Thụy, lãnh đạo phong trào cách mạng, khởi nghĩa giành chính quyền làng Kim Sơn (12-7-1945) và huyện Kiến Thụy (15-7-1945). Cách mạng Tháng Tám thành công, ông giữ chức Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện Kiến Thụy, Phó bí thư Nông hội tỉnh Kiến An. Sau đó ông công tác tại Ban Tôn giáo Chính phủ, Ủy ban Thể dục thể thao Trung ương.
Việc đặt tên ông cho tuyến phố, thể hiện sự tri ân đối với những đóng góp của ông trong đấu tranh cách mạng, xây dựng và bảo vệ đất nước, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân; bảo đảm tiêu chí tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
4. Phố Dã Tượng
Điểm đầu: số nhà 17 Tổ dân phố số 7 phường Hưng Đạo. Điểm cuối: số nhà 15 phố Phương Lung. Phố dài 600m, rộng 4,5m, mặt đường trải nhựa Asphalt, chưa có hệ thống điện chiếu sáng.
Dã Tượng là một gia tướng trung thành của Trần Hưng Đạo. Ông có biệt tài thuần hóa tượng (voi) rừng và chỉ huy đội tượng binh, nên được Trần Hưng Đạo đặt tên là Dã Tượng. Khi quân Nguyên tấn công các ải Nội Bàng, Chi Lăng, quân ta bại trận, thủy quân tan rã, Trần Hưng Đạo định rút theo đường núi, Dã Tượng lo ngại đường núi có phục binh nên khuyên Trần Hưng Đạo rút theo đường thủy, vì vậy mà Trần Hưng Đạo không bị sa vào tay giặc. Ông cũng là người khuyên Trần Hưng Đạo nên đặt lợi ích dân tộc lên trên thù riêng. Ngoài việc thuần hóa voi rừng, Dã Tượng còn có tài xông pha trận mạc nên được vua Trần Nhân Tông phong là Tiết Chế Binh Nhung. Tên ông đã được thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh sử dụng để đặt tên đường, phố.
Việc đặt tên ông cho tuyến phố thể hiện sự tri ân những đóng góp của ông trong công cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân địa phương; bảo đảm tiêu chí tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
5. Phố Lưu Trọng Lư
Điểm đầu: số 69 phố Phúc Lộc. Điểm cuối: số 170/69 phố Phúc Lộc. Phố dài 600m, rộng 4,5m, mặt đường trải nhựa Asphalt, chưa có hệ thống điện chiếu sáng.
Lưu Trọng Lư (1911-1991), quê xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Trước năm 1940, ông tham gia nhiều hoạt động nghệ thuật tại Hải Phòng. Ông là một trong những nhà thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ mới, được Hoài Thanh và Hoài Chân giới thiệu trong cuốn “Thi nhân Việt Nam”. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia hoạt động tuyên truyền văn hoá văn nghệ tại Liên khu 4. Sau năm 1924, ông làm Tổng Thư ký Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam. Ông có nhiều tác phẩm nổi tiếng như: “Tiếng thu”, “Tỏa sáng đôi bờ”, “Người con gái Sông Gianh”, “Cung đàn mùa Xuân”... Ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2000.
Việc đặt tên ông cho tuyến phố nhằm tri ân những đóng góp của ông cho nền văn học nghệ thuật Việt Nam, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và chính quyền địa phương; bảo đảm tiêu chí tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
6. Phố Vi Huyền Đắc
Điểm đầu: trung tâm y tế quận Dương Kinh. Điểm cuối: số 14 Tổ dân phố số 5,6 phường Hưng Đạo. Phố dài 350m, rộng 4,5m, mặt đường trải nhựa Asphalt, chưa có hệ thống điện chiếu sáng.
Vi Huyền Đắc (1899-1976), quê ở Trà Cổ, tỉnh Quảng Ninh. Khi trưởng thành, ông sinh sống và làm việc tại Hải Phòng. Ông viết văn và mở nhà in trên phố Cầu Đất. Ngoài viết văn, ông còn viết khoảng 20 vở kịch, trong đó có nhiều vở kịch nổi tiếng như “Uyên ương”, “Hoàng Mộng Điệp”, “Kim Tiền”, “Ông Ký cóp”,... nhận được nhiều giải thưởng trong và ngoài nước, được diễn trên nhiều sân khấu lớn cả nước. Vi Huyền Đắc cùng với Vũ Đình Long đã đưa kịch nói của nước ta có những bước chuyển biến mạnh mẽ từ những ngày đầu du nhập. Tên ông được ghi chép tại cuốn “Nhân vật lịch sử Hải Phòng”, tập 2.
Việc đặt tên ông cho tuyến phố thể hiện sự tri ân đối với những đóng góp của ông vào nền văn hoá nghệ thuật nước nhà, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và chính quyền địa phương; bảo đảm tiêu chí tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
7. Phố Nguyễn Bính
Điểm đầu: số 645 đường Mạc Đăng Doanh. Điểm cuối: đường 361. Phố dài 900m, rộng 4,5m, mặt đường trải nhựa Asphalt, chưa có hệ thống điện chiếu sáng.
Nguyễn Bính tên thật là Nguyễn Trọng Bính (1918-1966), quê huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông tham gia hoạt động cách mạng trước năm 1945 và là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ mới. Từ năm 1945 đến năm 1954, ông tham gia chống thực dân Pháp ở Nam Bộ. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, tham gia công tác văn nghệ và làm báo. Ông sáng tác nhiều thể loại, đặc biệt là thơ và để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng như: “Tâm hồn tôi”, “Lỡ bước sang ngang”, “Mười hai bến nước”, “Truyện thơ Cây đàn Tỳ bà”, “Gửi người vợ Miền Nam”... được đông đảo độc giả đón nhận.
Việc đặt tên ông cho tuyến phố phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và chính quyền địa phương; bảo đảm tiêu chí tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
* Phường Anh Dũng (2 phố)
8. Phố Nguyễn Nhân Khiêm
Điểm đầu: số 75 phố Hợp Hòa. Điểm cuối: Số 100/144 đường Mạc Đăng Doanh. Phố dài 400m, rộng 4,5m, mặt đường trải nhựa Asphalt, có hệ thống điện chiếu sáng.
Nguyễn Nhân Khiêm người làng Lê Xá nay là thôn Lê Xá, xã Tú Sơn, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Ông đỗ Đệ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân (là một danh hiệu học vị trong hệ thống thi cử Nho học thời phong kiến) vào năm 29 tuổi tại khoa thi năm Kỷ Sửu (1469), niên hiệu Quang Thuận thứ 10, đời vua Lê Thánh Tông. Sau khi đỗ tiến sĩ, ông ra làm quan, sau thăng tới chức Đô cấp sự trung Bộ Công. Tên tuổi và công trạng của ông được ghi tại bia Văn Miếu Xuân La, huyện Kiến Thụy và cuốn "Những ông Nghè đất Cảng".
Việc đặt tên ông cho tuyến phố góp phần giáo dục truyền thống hiếu học tại địa phương, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân; bảo đảm tiêu chí tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
9. Phố Phú Hải
Điểm đầu: số 59 đường Phạm Văn Đồng. Điểm cuối: số 150 đường Mạc Quyết. Phố dài 250m, rộng 4,5m, mặt đường trải nhựa Asphalt, có hệ thống điện chiếu sáng, dân cư đông đúc.
Phú Hải là tên địa danh có từ khi hình thành làng Phú Hải nay là tổ dân phố Phú Hải, phường Hưng Đạo, quận Dương Kinh. Tuyến phố đề nghị đặt tên đi qua tổ dân phố Phú Hải. Vì vậy, từ lâu nhân dân địa phương đã quen gọi là phố Phú Hải.
Đặt tên phố Phú Hải nhằm lưu giữ tên gọi đã gắn bó, quen thuộc với nhân dân địa phương; dễ nhớ, dễ tìm; bảo đảm tiêu chí tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
* Phường Hải Thành (12 phố)
Khu vực phường Hải Thành trước đây là vùng đất bồi, nhiều lau sậy, sú vẹt ven cửa sông Lạch Tray đổ ra biển Đồ Sơn. Năm 1977, thành phố tổ chức đưa dân từ các địa phương của huyện Kiến Thụy, Vĩnh Bảo… đến đây khai hoang, phát triển kinh tế. Trên cơ sở đó, năm 1983, xã Hải Thành được thành lập. Cuối năm 2007, đổi thành phường Hải Thành. Do hình thành muộn nên đặc điểm các tuyến đường, phố tại đây ngắn, được quy hoạch theo ô bàn cờ. Đây là vùng đất mới nên tại đây cũng không có tên địa danh cổ, di tích lịch sử - văn hoá tiêu biểu và danh nhân có nhiều công lao đóng góp, cống hiến cho địa phương, đất nước. Vì vậy, tên đặt cho các tuyến phố tại đây được ghép từ tên những địa phương là quê hương trước đây của nhân dân đến Hải Thành khai hoang, xây dựng kinh tế mới với mong muốn tri ân và ghi nhớ về nguồn gốc quê hương cũ cũng như kết nối quê cũ trên quê hương mới Hải Thành.
10. Phố Hải Lâm
Điểm đầu: số nhà 379 đường Phạm Văn Đồng. Điểm cuối: đê biển. Phố dài 450m, rộng 5m; dân cư đông, chưa có hệ thống chiếu sáng.
Phường Hải Thành vốn là vùng đất bồi ven sông Lạch Tray, từ năm 1977, thành phố tổ chức đưa dân các xã của huyện An Thụy ra khai hoang, lập khu kinh tế mới. Trên cơ sở đó, năm 1983, thành lập 2 xã Hải Thành và Tân Thành (từ cuối năm 2007 là phường thuộc quận Dương Kinh). Đây là tuyến phố có nhiều bà con đến từ vùng đất Quế Lâm, xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy cùng nhau chung tay xây dựng và phát triển kinh tế địa phươngkhi phường Hải Thành được thành lập vào năm 1983.
Hải Lâm là tên ghép của chữ cái đầu tên phường Hải Thành và tên thôn Quế Lâm, xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy. Đặt tên phố Hải Lâm để tri ân, ghi nhớ về nguồn gốc quê hương, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân; bảo đảm tiêu chí thứ nhất về đặt tên đường, phố được quy định tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
11. Phố Hải Phương
Điểm đầu: số nhà 389B đường Phạm Văn Đồng. Điểm cuối: mương chống mặn. Phố dài 360m, rộng 6m. Dân cư đông, chưa có hệ thống chiếu sáng.
Hải Phương là tên ghép của chữ cái đầu của tên phường Hải Thành và tên thôn Trà Phương, xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy. Vì nhân dân sinh sống tại khu vực này phần lớn là bà con đến từ vùng đất Trà Phương, huyện Kiến Thụy. Trong những năm 1983, khi phường Hải Thành được thành lập, hưởng ứng phong trào khai hoang, xây dựng vùng kinh tế ven sông Lạch Tray của thành phố, nhiều bà con thôn Trà Phương đã tới mảnh đất Hải Thành, cùng nhau chung tay xây dựng, làm kinh tế mới, đưa phường Hải Thành ngày càng phát triển.
Đặt tên phố Hải Phương để tri ân, ghi nhớ về nguồn gốc quê hương, thể hiện sự gắn kết tại quê hương mới, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân địa phương; bảo đảm tiêu chí thứ nhất về đặt tên đường, phố được quy định tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
12. Phố Hải Long
Điểm đầu: số nhà 421 đường Phạm Văn Đồng, điểm cuối: mương chống mặn. Phố dài 390m, rộng 6m. Dân cư đông, chưa có hệ thống chiếu sáng.
Hải Long là tên ghép của chữ cái đầu của tên phường Hải Thành và tên thôn Vĩnh Long, xã An Hòa, huyện Vĩnh Bảo. Vì nhân dân sinh sống tại khu vực này phần lớn là bà con đến từ thôn Vĩnh Long, xã An Hòa, huyện Vĩnh Bảo. Trong những năm 1983, khi phường Hải Thành được thành lập, hưởng ứng phong trào khai hoang, xây dựng vùng kinh tế ven sông Lạch Tray của thành phố, nhiều bà con thôn Vĩnh Long đã đến mảnh đất Hải Thành, cùng nhau xây dựng, phát triển kinh tế, đưa Hải Thành ngày càng giàu mạnh, đổi mới.
Đặt tên phố Hải Long để tri ân, ghi nhớ về nguồn gốc quê hương, thể hiện sự gắn bó, đoàn kết tại quê hướng mới; phù hợp với nguyện vọng của nhân dân địa phương; bảo đảm tiêu chí thứ nhất về đặt tên đường, phố được quy định tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
13. Phố Hải Kỳ
Điểm đầu: số nhà 36 phố Hải Kim, điểm cuối: phố Trần Minh Thắng. Phố dài 430m, rộng 5,5m, vỉa hè mỗi bên 1,5m. Dân cư đông, chạy qua Trường tiểu học, Trường Mầm non, Nhà văn hóa, có hệ thống chiếu sáng, thoát nước, có vỉa hè, phù hợp quy hoạch.
Hải Kỳ là tên ghép của chữ cái đầu của tên phường Hải Thành và tên của thôn Kỳ Sơn, xã Tân Trào, Kiến Thụy. Nhân dân tại khu vực này phần lớn là bà con đến từ vùng đất Kỳ Sơn, huyện Kiến Thụy. Bà con đã cùng nhau tham gia khai hoang, xây dựng và phát triển kinh tế theo chủ trương của thành phốkhi phường Hải Thành được thành lập vào năm 1983.
Đặt tên phố Hải Kỳ để tri ân, ghi nhớ về nguồn gốc quê hương, thể hiện sự đoàn kết, gắn bó giữa quê hương cũ và quê hương mới; phù hợp với nguyện vọng của nhân dân; bảo đảm tiêu chí thứ nhất về đặt tên đường, phố được quy định tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
14. Phố Hải Tiến
Điểm đầu: số nhà 74 phố Hải Thành Bắc. Điểm cuối: phố Trần Minh Thắng. Phố dài 450m, rộng 5,5m. Dân cư đông, có hệ thống chiếu sáng, thoát nước, có vỉa hè.
Đây là tuyến phố thuộc Tổ dân phố 1A, 1B, 1C phường Hải Thành, được quy hoạch theo hình ô bàn cờ, giúp thuận tiện cho giao thông, sinh hoạt và phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Đây là tuyến phố có nhiều bà con đến từ vùng đất xã Dũng Tiến, Vĩnh Bảo hưởng ứng phong trào khai hoang, xây dựng vùng kinh tế ven sông Lạch Tray của thành phố đã tới Hải Thành từ những năm 1983, khi phường được thành lập và cùng nhau chung tay xây dựng và phát triển phường Hải Thành ngày một giàu mạnh. Hải Tiến là tên ghép giữa tên phường Hải Thành và tên xã Dũng Tiến, huyện Vĩnh Bảo.
Đặt tên phố Hải Tiến để tri ân, ghi nhớ về nguồn gốc quê hương, thể hiện tình cảm, sự gắn bó với vùng đất, quê hương mới; phù hợp với nguyện vọng của nhân dân; bảo đảm tiêu chí thứ nhất về đặt tên đường, phố được quy định tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
15. Phố Hải Hòa
Điểm đầu: số nhà 485 đường Phạm Văn Đồng. Điểm cuối: mương chống mặn. Phố dài 430m, rộng 5,5m, vỉa hè mỗi bên 1m. Dân cư đông, đi qua chợ Hải Thành 1, chưa có hệ thống chiếu sáng.
Đây là tuyến phố có nhiều bà con đến từ vùng đất xã An Hòa, huyện Vĩnh Bảo, tới phường Hải Thành năm 1983 trong phong trào khai hoang, lấn biển, phát triển vùng kinh tế mới của thành phố. Mọi người đã cùng nhau chung tay xây dựng phường Hải Thành trở nên giàu đẹp, văn minh. Hải Hòa là tên ghép giữa từ Hải là tên phường và Hòa là tên xã An Hòa, Vĩnh Bảo.
Đặt tên phố Hải Hoà để tri ân, ghi nhớ về nguồn gốc quê hương, thể hiện tình cảm, sự gắn bó với vùng đất, quê hương mới; phù hợp với nguyện vọng của nhân dân; bảo đảm tiêu chí thứ nhất về đặt tên đường, phố được quy định tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
16. Phố Hải Vĩnh
Điểm đầu: Số nhà 775 đường Phạm Văn Đồng, điểm cuối: Mương chống mặn. Phố dài 380m, rộng 6m. Dân cư đông, chưa có hệ thống chiếu sáng.
Đây là tuyến phố có nhiều bà con di dân từ một số xã thuộc huyện Vĩnh Bảo ra khai hoang, lấn biển, lập nghiệp và cùng nhau chung tay xây dựng và phát triển phường Hải Thành khi phường được thành lập vào năm 1983. Tên Hải Vĩnh ghép giữa từ Hải là tên phường và từ Vĩnh tên huyện Vĩnh Bảo.
Đặt tên phố Hải Vĩnh để tri ân, ghi nhớ về nguồn gốc quê hương, thể hiện tình cảm, sự gắn bó với vùng đất, quê hương mới; phù hợp với nguyện vọng của nhân dân; bảo đảm tiêu chí thứ nhất về đặt tên đường, phố được quy định tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
17. Phố Hải Thụy
Điểm đầu: số nhà 823 đường Phạm Văn Đồng. Điểm cuối: mương chống mặn. Phố dài 390m, rộng 6m, vỉa hè mỗi bên 1m. Dân cư đông, chưa có hệ thống chiếu sáng, phù hợp quy hoạch.
Đây là tuyến phố có nhiều bà con di dân từ một số xã thuộc huyện Kiến Thụy ra vùng đất Hải Thành khai hoang, lấn biển, lập nghiệp sau khi phường Hải Thành được thành lập vào năm 1983. Hải Thụy là tên ghép hai chữ cái từ tên gọi phường Hải Thành và huyện Kiến Thụy.
Đặt tên phố Hải Thụy để tri ân, ghi nhớ về nguồn gốc quê hương, thể hiện tình cảm, sự gắn bó với vùng đất, quê hương mới; phù hợp với nguyện vọng của nhân dân; bảo đảm tiêu chí thứ nhất về đặt tên đường, phố được quy định tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
18. Phố Trung Hiếu
Điểm đầu: số nhà 859 đường Phạm Văn Đồng, điểm cuối: mương chống mặn. Phố dài 390m, rộng 6m, vỉa hè mỗi bên 1m. Dân cư đông, chưa có hệ thống chiếu sáng.
Trung hiếu là cụm từ có ý nghĩa về văn hóa - xã hội. Trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất quan trọng nhất trong chuẩn mực chung của đạo đức cách mạng Việt Nam. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trung với nước là sự trung thành với sự nghiệp dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước của nhân dân. Nước ở đây là nước của dân, còn dân là người làm chủ, chủ nhân của đất nước, "bao nhiêu quyền hạn đều của dân", "bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Hiếu với dân không chỉ dừng lại ở chỗ thương dân mà còn là gần dân, dựa hẳn vào dân, lấy dân làm gốc. "Trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội..." là chuẩn mực đạo đức bao trùm của con người Việt Nam, là định hướng chính trị - đạo đức lớn nhất cho mỗi người, là khát vọng vươn lên tự hoàn thiện mình của tất cả nhân dân Việt Nam theo tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh.
Đặt tên phố Trung Hiếu để thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc, phù hợp với nguyện vọng của chính quyền và nhân dân; bảo đảm tiêu chí thứ hai về đặt tên đường, phố được quy định tại khoản 2, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
19. Phố Nghĩa Thành
Điểm đầu: số nhà 879 đường Phạm Văn Đồng. Điểm cuối: mương chống mặn. Phố dài 410m, rộng 6m, vỉa hè mỗi bên 1m; dân cư đông, có hệ thống chiếu sáng, thoát nước.
Đây là tuyến phố có nhiều người dân từ xã Hoà Nghĩa, huyện Kiến Thụy tới mảnh đất Hải Thành tham gia khai hoang, lấn biển, lập nghiệp sau khi phường Hải Thành được thành lập vào năm 1983. Nghĩa Thành là tên ghép hai chữ cái từ tên gọi phường Hải Thành và phường Hoà Nghĩa.
Đặt tên phố Nghĩa Thành để tri ân, ghi nhớ về nguồn gốc quê hương, thể hiện tình cảm, sự gắn bó với vùng đất, quê hương mới; phù hợp với nguyện vọng của nhân dân; bảo đảm tiêu chí thứ nhất về đặt tên đường, phố được quy định tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
20. Phố Trung Thành
Điểm đầu: số nhà 1 Tổ dân phố 2A, điểm cuối: số nhà 128 phố Vũ Hộ. Phố dài 650m, rộng 6m; dân cư đông, chưa có hệ thống chiếu sáng.
Đây là tuyến phố có nhiều người dân đến từ các địa phương khác nhau tham gia phong trào khai hoang, lấn biển, cùng nhau chung tay xây dựng và phát triển kinh tế phường Hải Thành khi phường được thành lập vào năm 1983. Trung Thành nghĩa là trước sau một lòng một dạ, giữ trọng niềm tin, giữ trọn tình cảm gắn bó với những điều đã cam kết.
Đặt tên phố Trung Thành để nói lên tình cảm, niềm tin vào sự đoàn kết, gắn bó của nhân dân Hải Thành từ những ngày khai hoang, xây dựng vùng kinh tế mới, phù hợp với nguyện vọng của chính quyền và nhân dân; bảo đảm tiêu chí thứ nhất về đặt tên đường, phố được quy định tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
21. Phố Hải Châu
Điểm đầu: ngã 3 Tổ dân phố 2A. Điểm cuối: số nhà 115 phố Vũ Hộ. Phố dài 650m, rộng 6m. Dân cư đông, chưa có hệ thống chiếu sáng.
Khu vực tuyến phố chạy qua có chùa Hải Châu. Đây là địa điểm sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân trên địa bàn phường Hải Thành. Nhân dân tại đây từ lâu đã quen gọi tuyến phố là phố Hải Châu.
Đặt tên phố Hải Châu để bảo đảm dễ nhớ, dễ tìm, phù hợp với nguyện vọng của chính quyền và nhân dân; bảo đảm tiêu chí thứ nhất về đặt tên đường, phố được quy định tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
* Phường Tân Thành
Khu vực phường Tân Thành trước đây là vùng đất bồi, nhiều lau sậy, sú vẹt ven cửa sông Lạch Tray đổ ra biển Đồ Sơn. Năm 1977, thành phố tổ chức đưa dân từ các xã của huyện Kiến Thụy, Vĩnh Bảo… đến khai hoang, lấn biển. Trên cơ sở đó, năm 1983, xã Tân Thành được thành lập, cuối năm 2007 đổi thành phường Tân Thành. Do vậy, đặc điểm các tuyến phố tại đây ngắn, chia theo ô bàn cờ. Do là vùng đất mới nên tại đây ít tên địa danh cổ, không có di tích lịch sử - văn hoá tiêu biểu và danh nhân có nhiều công lao đóng góp, cống hiến cho địa phương, đất nước. Vì vậy, tên đặt cho các tuyến phố tại đây được lựa chọn chủ yếu là ghép từ tên những địa phương là quê hương của nhân dân đến Tân Thành khai hoang, xây dựng kinh tế mới với mong muốn tri ân và ghi nhớ về nguồn gốc quê hương hoặc từ tên những địa danh mà nhân dân đã quen gọi.
22. Phố Chân Kim
Điểm đầu: số nhà 67 phố Tân Thành. Điểm cuối: số nhà 68/67 phố Tân Thành. Phố dài 360m, rộng 6m, mặt đường trải nhựa Asphalt, có hệ thống điện chiếu sáng, 1 bên dân cư sinh sống, 1 bên là mương nước.
Địa điểm này là một dải đất ven đê cổ được gọi là đê Chân Kim, một loại đê biển lớn được đắp vào năm 1526, kéo dài từ chùa Đại Minh (xã Đoàn Xá, huyện Kiến Thụy) đến Quý Kim (xã Hợp Đức, Đồ Sơn, nay thuộc phường Tân Thành, Dương Kinh). Đê Chân Kim đã được ghi chép tại sách “Đại Nam nhất thống chí”, do Quốc sử quán triều Nguyễn, cuối thế kỷ 19 soạn xếp đê này vào mục cổ tích của xứ Đông: “Năm Thống Nguyên thứ 8 (1526), hạ lệnh cho dân phủ Hạ Hồng, Thượng Hồng, Kinh Môn, Nam Sách, Thái Bình đắp đê Chân Kim…”.
Đặt tên phố Chân Kim nhằm lưu giữ tên gọi một công trình cổ, phù hợp với nguyện vọng của chính quyền và nhân dân; bảo đảm tiêu chí thứ nhất về đặt tên đường, phố được quy định tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
23. Phố Tân Đức
Điểm đầu: số nhà 68/67 phố Tân Thành. Điểm cuối: tiếp giáp mương nuôi trồng thủy sản. Phố dài 600m, rộng 5m. Mặt phố trải nhựa Asphalt, chưa có hệ thống chiếu sáng, một bên là cánh đồng, 1 bên dân cư sinh sống.
Phường Tân Thành vốn là vùng đất bồi ven sông Lạch Tray. Từ năm 1977, thành phố tổ chức đưa dân ra khai hoang, lấn biển, xây dựng khu kinh tế mới. Trên cơ sở đó, năm 1983, thành lập 2 xã Hải Thành và Tân Thành, từ cuối năm 2007 là phường Hải Thành, Tân Thành thuộc quận Dương Kinh. Năm 1982, theo chủ trương di dân xây dựng vùng kinh tế mới của thành phố, nhân dân phường Hợp Đức tới mảnh đất Tân Thành, tham gia khai hoang, lấn biển, xây dựng vùng kinh tế mới. Tân Đức là tên ghép từ tên của phường Tân Thành và phường Hợp Đức.
Đặt tên phố Tân Đức nhằm tri ân, ghi nhớ nguồn gốc quê hương, kết hợp với tên nơi ở hiện tại, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân; bảo đảm tiêu chí thứ nhất về đặt tên đường, phố được quy định tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
24. Phố Thành Đức
Điểm đầu: số nhà 81 phố Tân Thành. Điểm cuối: tiếp giáp phố Tân Đức. Phố dài 360m, rộng 6,0m, vỉa hè mỗi bên 1,5m. Mặt đường trải nhựa Asphalt, dân cư đông, có hệ thống chiếu sáng, thoát nước.
Năm 1982, theo chủ trương di dân, khai hoang, lấn biển, xây dựng vùng kinh tế mới của thành phố, nhân dân xã Hợp Đức, huyện Kiến Thụy đã tham gia xây dựng vùng kinh tế mới Tân Thành. Thành Đức là từ ghép của 2 địa danh là phường Tân Thành và phường Hợp Đức.
Đặt tên phố Thành Đức nhằm tri ân, ghi nhớ nguồn gốc quê hương, kết hợp với tên nơi ở hiện tại, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân; bảo đảm tiêu chí thứ nhất về đặt tên đường, phố được quy định tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
25. Phố Tân Minh
Điểm đầu: số nhà 113 phố Tân Thành. Điểm cuối: tiếp giáp tuyến phố Tân Đức. Phố dài 360m, rộng 6,0m, vỉa hè mỗi bên 2,0m. Mặt đường trải nhựa Asphalt, dân cư đông, có hệ thống chiếu sáng, thoát nước.
Năm 1982 theo chủ trương di dân xây dựng vùng kinh tế mới của thành phố, nhân dân xã Minh Đức, huyện Kiến Thụy, nay là phường Minh Đức, quận Đồ Sơn đã tham gia xây dựng vùng kinh tế mới Tân Thành. Tân Minh là tên ghép từ tên phường Tân Thành và phường Minh Đức.
Đặt tên phố Tân Minh nhằm tri ân, ghi nhớ nguồn gốc quê hương, kết hợp với tên nơi ở hiện tại, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân; bảo đảm tiêu chí thứ nhất về đặt tên đường, phố được quy định tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
26. Phố Tân Hà
Điểm đầu: số nhà 131 phố Tân Thành. Điểm cuối: phố Tân Đức. Phố dài 360m, rộng 6,0m, vỉa hè mỗi bên 2,0 m. Mặt đường trải nhựa Asphalt, dân cư đông, có hệ thống chiếu sáng, thoát nước.
Năm 1982, theo chủ trương di dân khai hoang, lấn biển, xây dựng vùng kinh tế mới của thành phố, nhân dân xã Đại Hà (thuộc Kiến Thụy) đã tham gia xây dựng vùng kinh tế mới Tân Thành. Tân Hà là tên ghép từ tên phường Tân Thành và xã Đại Hà.
Đặt tên phố Tân Hà nhằm tri ân, ghi nhớ nguồn gốc quê hương, kết hợp với tên nơi ở hiện tại, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân; bảo đảm tiêu chí thứ nhất về đặt tên đường, phố được quy định tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
27. Phố Tân Ngọc
Điểm đầu: số 183 phố Tân Thành. Điểm cuối: tiếp giáp phố Tân Đức. Phố dài 360m, rộng 6,0m, vỉa hè mỗi bên 2,0m. Mặt đường trải nhựa Asphalt, dân cư đông, có hệ thống chiếu sáng, thoát nước.
Năm 1977, theo chủ trương di dân, khai hoang, lấn biển, xây dựng vùng kinh tế mới của thành phố, nhân dân thôn Ngọc Liễn, xã Đại Hà (thuộc Kiến Thụy) đã ra xây dựng vùng kinh tế mới Tân Thành. Tân Ngọc là tên ghép từ tên phường Tân Thành và thôn Ngọc Liễn, xã Đại Hà.
Đặt tên phố Tân Ngọc nhằm tri ân, ghi nhớ nguồn gốc quê hương, kết hợp với tên nơi ở hiện tại, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân; bảo đảm tiêu chí thứ nhất về đặt tên đường, phố được quy định tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
28. Phố Tân Sơn
Điểm đầu: số 213 phố Tân Thành. Điểm cuối: tiếp giáp phố Tân Đức. Phố dài 360m, rộng 6,0m, vỉa hè mỗi bên 1,5m. Mặt đường trải nhựa Asphalt, dân cư đông, có hệ thống chiếu sáng, thoát nước.
Năm 1982 theo chủ trương di dân xây dựng vùng kinh tế mới của thành phố, nhân dân xã Thanh Sơn (thuộc Kiến Thụy) đã tham gia khai hoang, lấn biển, xây dựng vùng kinh tế mới Tân Thành. Tân Sơn là từ ghép của 2 địa danh phường Tân Thành và xã Thanh Sơn.
Đặt tên phố Tân Sơn nhằm tri ân, ghi nhớ nguồn gốc quê hương, kết hợp với tên nơi ở hiện tại, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân; bảo đảm tiêu chí thứ nhất về đặt tên đường, phố được quy định tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
29. Phố Tân Hải
Điểm đầu: số 19 phố Bùi Phổ. Điểm cuối: số 16/72 phố Tân Thành. Phố dài 180m, rộng 6,0m, vỉa hè mỗi bên 1,5m. Mặt đường trải nhựa Asphalt, dân cư đông, có hệ thống chiếu sáng.
Trước đây, phường Tân Thành và phường Hải Thành khi mới thành lập, dân cư còn thưa thớt. Vì vậy, hai phường xây dựng trường học chung tại các cấp học. Để thể hiện tinh thần đoàn kết, gắn bó giữa hai phường, phường Tân Thành đã đặt tên một Tổ dân phố trên địa bàn là Tân Hải. Đây cũng là Tổ dân phố nơi có tuyến phố chạy qua.
Đặt tên phố Tân Hải nhằm thể hiện tinh thần đoàn kết, gắn bó, phù hợp với nguyện vọng của chính quyền và nhân dân; bảo đảm tiêu chí thứ nhất về đặt tên đường, phố được quy định tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
30. Phố Tân Tiến
Điểm đầu: số 39 phố Bùi Phổ. Điểm cuối: số 192 phố Vũ Thị Ngọc Toàn. Phố dài 520m, rộng 6,0m. Mặt đường trải nhựa Asphalt, dân cư đông, không có hệ thống chiếu sáng.
Tân Tiến là tên của một tổ dân phố thuộc phường Tân Thành, đây là tên đặt đã có từ khi thành lập phường Tân Thành và là nơi tuyến phố chạy qua. Vì vậy, nhân dân tại đây từ lâu đã quen gọi tuyến phố là phố Tân Tiến
Đặt tên phố Tân Tiến để bảo đảm dễ nhớ, dễ tìm, phù hợp với nguyện vọng của chính quyền và nhân dân; bảo đảm tiêu chí thứ nhất về đặt tên đường, phố được quy định tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
31. Phố Tân Nghĩa
Điểm đầu: số 17 phố Vũ Thị Ngọc Toàn. Điểm cuối: số 42/152 phố Hải Thành. Phố dài 200m, rộng 5,0m, vỉa hè mỗi bên 1m. Mặt đường trải nhựa Asphalt, dân cư đông, có hệ thống chiếu sáng, hệ thống thoát nước.
Năm 1982, theo chủ trương di dân xây dựng vùng kinh tế mới của thành phố, nhân dân xã Hoà Nghĩa, huyện Kiến Thụy đã ra khai hoang, lấn biển, xây dựng vùng kinh tế mới Tân Thành. Tân Nghĩa là tên ghép từ 2 tên phường Tân Thành và tên xã Hòa Nghĩa.
Đặt tên phố Tân Nghĩa nhằm tri ân, ghi nhớ nguồn gốc quê hương, kết hợp với tên nơi ở hiện tại, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân; bảo đảm tiêu chí thứ nhất về đặt tên đường, phố được quy định tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
32. Phố Tân Lập
Điểm đầu: số 152 phố Hải Thành. Điểm cuối: số 221 phố Mạc Phúc Tư. Phố dài 980m, rộng 7,0m, vỉa hè mỗi bên 1,5m. Mặt đường trải nhựa Asphalt, dân cư đông, có hệ thống chiếu sáng, có hệ thống thoát nước.
Tân Lập là tên một tổ dân phố của phường Tân Thành. Đây là tên đặt có từ khi phường Tân Thành được thành lập và là nơi có tuyến phố chạy qua. Vì vậy, nhân dân địa phương từ lâu đã quen gọi tuyến phố là Tân Lập.
Đặt tên phố Tân Lập để bảo đảm dễ nhớ, dễ tìm, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân; bảo đảm tiêu chí thứ nhất về đặt tên đường, phố được quy định tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
* Phường Hòa Nghĩa
33. Phố Xuân Diệu
Điểm đầu: số nhà 95 đường Tư Thủy. Điểm cuối: tiếp giáp tổ dân phố Quyết Tiến, phường Hợp Đức, quận Đồ Sơn. Dài 700m, rộng 5m. Dân cư đông đúc; chưa có hệ thống chiếu sáng, chưa có thoát nước.
Xuân Diệu (1916-1985), tên thật là Ngô Xuân Diệu, quê làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là nhà thơ, nhà báo, nhà văn và nhà phê bình văn học. Ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu trong phong trào Thơ mới đầu thế kỷ 20 và được đánh giá là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới. Ông có nhiều tác phẩm nổi tiếng như tập thơ “Thơ thơ”, “Gửi hương cho gió”, “Ngôi sao”,… Ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Việc đặt tên ông cho tuyến phố thể hiện tình cảm, sự tri ân đối với những đóng góp của ông, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và chính quyền địa phương; bảo đảm tiêu chí tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 Chính phủ.
* QUẬN HẢI AN (1 đường, 9 phố)
* Phường Đằng Hải (9 phố)
1. Phố Trần Đông
Điểm đầu: từ ngã 3 trụ sở Công an quận Hải An. Điểm cuối: lối ra đường Bùi Viện. Phố dài 300m, rộng từ 25m, vỉa hè mỗi bên 3m, mặt phố trải nhựa Asphalt, dân cư đông đúc, đi qua cổng Bệnh viện đa khoa quận Hải An.
Trần Đông (1925-2013), tên thật là Bùi Thuyên, quê làng Hòe Thị, xã Đại Hợp, huyện Kiến Thụy, tỉnh Kiến An (nay là huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng). Ông sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng, trong quá trình làm việc, ông đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng: Bí thư Huyện ủy Thủy Nguyên (1953), Giám đốc Công an Hải Phòng, Bí thư Thành ủy Hải Phòng (1977-1979), Thứ trưởng Bộ Công an, Thứ trưởng Bộ Tư pháp.
Việc đặt tên ông cho tuyến phố thể hiện tình cảm, sự tri ân đối với những đóng góp của ông, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và chính quyền địa phương; bảo đảm tiêu chí tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 Chính phủ.
2. Phố Trần Văn Giang
Điểm đầu: từ đường Bùi Viện (khách sạn Thiên Đường). Điểm cuối: lối ra đường Bùi Viện (Khu tái định cư 8,7ha). Phố dài 400m, rộng 6m, mặt phố trải nhựa Asphalt, dân cư đông, có hệ thống điện chiếu sáng.
Trần Văn Giang tên thật là Trần Trọng Riệc (1924-2016), quê xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Ông tham gia cách mạng từ cuối năm 1944. Ông gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam, được giao giữ nhiều chức vụ quan trọng: Chính ủy Sư đoàn Phòng không Hà Nội; Chính ủy Sư đoàn Phòng không Hải Phòng; Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Quân chủng Hải quân. Trong Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972, ông đã trực tiếp chỉ huy Sư đoàn Phòng không 361 bắn rơi 25 máy bay B52, 9 máy bay chiến thuật, góp phần vào chiến thắng của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ... Ông được Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Quân công hạng Nhất, hạng Ba; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất; Huân chương Chiến thắng hạng Nhì; Huân chương Quân kỳ Quyết thắng,…
Việc đặt tên ông cho tuyến phố thể hiện tình cảm, sự tri ân đối với những đóng góp của ông, chào mừng kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không (12-1972 – 12-2022), phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và chính quyền địa phương, bảo đảm tiêu chí tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 Chính phủ.
3. Phố Lê Đức Thịnh
Điểm đầu: số 194 đường Đằng Hải. Điểm cuối: cổng chính Bệnh viện đa khoa quận Hải An. Phố dài 250m, rộng 15m, vỉa hè mỗi bên 2m, mặt phố trải nhựa Asphalt, một số đoạn còn gồ ghề, dân cư sinh sống hai bên, chưa có hệ thống điện chiếu sáng.
Lê Đức Thịnh (1924 - 2001), quê quán thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Ông nguyên là Chủ tịch UBND thành phố Hải phòng, Bộ trưởng Bộ Nội thương. Năm 1945, ông là Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ, tham gia thành lập Tỉnh ủy lâm thời tại Hải Dương. Năm 1954, ông làm Bí thư Đảng ủy Quân chính Hải Dương. Sau đó ông về công tác tại Hải Phòng, lần lượt giữ chức Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hải Phòng (1965 - 1968), Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hải Phòng (1968 - 1976). Năm 1977, ông chuyển công tác về Bộ Nội thương giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội thương, Bộ trưởng (1982 - 1986), Trưởng Ban Tài chính Quản trị Trung ương. Tại Đại hội lần thứ 5 của Đảng (1982), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 2007, ông được Nhà nước truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh.
Việc đặt tên ông cho tuyến phố thể hiện tình cảm, sự tri ân đối với những đóng góp của ông, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và chính quyền địa phương; bảo đảm tiêu chí tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
4. Phố Thạch Lam
Điểm đầu: số 44 Lũng Đông. Điểm cuối: khu tái định cư (Công ty TNHH Bảo Linh). Phố dài 240m, rộng 12m, vỉa hè mỗi bên 2m, mặt phố trải nhựa Asphalt, 1 bên dân cư sinh sống, 1 bên là đất dự án, có hệ thống điện chiếu sáng; phù hợp với quy hoạch phát triển đô thị của quận.
Thạch Lam tên thật là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi là Nguyễn Tường Lân (1910-1942), quê tại Hà Nội. Ông là nhà văn nổi tiếng của nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông làm báo với hai anh trai là Nhất Linh và Hoàng Đạo và tham gia nhóm Tự lực văn đoàn với các bút danh: Thạch Lam, Việt Sinh, Thiện Sỹ. Các sáng tác của ông khắc họa một cách chân thực về hiện thực cuộc sống xã hội, chứa đựng giá trị nhân văn sâu sắc, tiêu biểu như: “Hai đứa trẻ”, “Nắng trong vườn”, “Ngày mới”, “Hà Nội băm sáu phố phường”,…
Việc đặt tên ông cho tuyến phố thể hiện tình cảm, sự tri ân đối với những đóng góp của ông với nền văn học nước nhà, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và chính quyền địa phương; bảo đảm tiêu chí tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
5. Phố Bùi Quang Tạo
Điểm đầu: số 280 Đằng Hải. Điểm cuối: khu tái định cư 1,6ha. Phố dài 200m, rộng 20m, vỉa hè mỗi bên 5m. Đây là tuyến phố đẹp, mặt phố trải nhựa Asphalt, dân cư đông đúc, đi qua UBND phường, có hệ thống điện chiếu sáng.
Bùi Quang Tạo (1913 - 1995), quê huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Ông tham gia cách mạng từ những năm 1943. Từ năm 1945, ông làm Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông, Bí thư Tỉnh ủy Sơn Tây, Bí thư Khu ủy, Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến Liên khu Việt Bắc. Ông tham gia chỉ huy Chiến dịch Biên giới năm 1950. Từ tháng 3-1955, ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Thứ trưởng, Bí thư Đảng đoàn Bộ Thủy lợi và Kiến trúc, Bộ trưởng Bộ Kiến trúc. Từ năm 1979 - 1982, ông giữ chức vụ Bí thư Thành ủy Hải Phòng và đã góp phần vào việc ban hành Nghị quyết 24-NQ/TU, ngày 27-6-1980 của Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng về khoán sản phẩm trong nông nghiệp. Từ năm 1982, ông là Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra của Chính phủ.
Việc đặt tên ông cho tuyến phố thể hiện tình cảm, sự tri ân đối với những đóng góp của ông, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và chính quyền địa phương; bảo đảm tiêu chí tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
6. Phố Chế Lan Viên
Điểm đầu: tiếp giáp công ty Bảo đảm Hàng Hải. Điểm cuối: đường đôi quy hoạch chợ hoa Đằng Hải (số 1 Lô 11 đường Lê Hồng Phong). Phố dài 400m, rộng 15m, vỉa hè mỗi bên 2m, mặt phố trải nhựa Asphalt, dân cư đông, có hệ thống điện chiếu sáng.
Chế Lan Viên (1920-1989), tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan, quê xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Ông là một nhà thơ, nhà văn hiện đại Việt Nam. Ông tham gia cách mạng, là đại biểu Quốc hội các khóa 4, 5, 6. Ông có nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng: Tập thơ “Ánh sáng và phù sa”, “Hoa ngày thường - chim báo bão”… Ông được Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Việc đặt tên ông cho tuyến phố thể hiện tình cảm, sự tri ân đối với những đóng góp của ông đối với đất nước và nền văn học nước nhà, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và chính quyền địa phương; bảo đảm tiêu chí tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
7. Phố Nguyễn Minh Châu
Điểm đầu: tiếp giáp đường Lê Hồng Phong. Điểm cuối: số 53 lô 13 phường Đằng Hải - tiếp giáp đường Bùi Viện. Phố dài 170m, rộng 15m, vỉa hè mỗi bên 2m, mặt phố trải nhựa Asphalt, dân cư đông, có hệ thống điện chiếu sáng.
Nguyễn Minh Châu (1930-1989), quê ở làng Văn Thai, xã Sơn Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, là một nhà văn có ảnh hưởng lớn đối với văn học Việt Nam trong giai đoạn chiến tranh và thời kỳ đất nước đổi mới. Năm 1945, ông tốt nghiệp Trường Kỹ nghệ Huế, với bằng Thành chung. Ông tham gia quân đội, sau công tác tại tạp chí Văn nghệ quân đội. Ông để lại nhiều tác phẩm văn học tiêu biểu, chứa đựng tính nhân văn sâu sắc như: “Cửa sông”, “Miền cháy”, “Bến quê”, “Chiếc thuyền ngoài xa”, “Mảnh đất tình yêu”,… Năm 2000, ông được truy tặng Giảỉ thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Việc đặt tên ông cho tuyến phố thể hiện tình cảm, sự tri ân đối với những đóng góp của ông đối với nền văn học nước nhà, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và chính quyền địa phương; bảo đảm tiêu chí tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
8. Phố Vườn Hồng
Điểm đầu: số 238 phố Chợ Lũng. Điểm cuối: số 496 đường Đông Hải. Phố dài 280m, rộng 10m, vỉa hè mỗi bên 1m, mặt phố trải nhựa Asphalt, có hệ thống điện chiếu sáng, có hệ thống thoát nước.
Trước kia, từ những năm 1954, khu vực có tuyến phố chạy qua là nơi nhân dân địa phương chuyên canh tác về hoa hồng do thổ nhưỡng nơi này phù hợp để hoa hồng phát triển, cho năng suất cao, mang lại lợi ích kinh tế cho người dân Đằng Hải. Vì vậy, Vườn Hồng là tên gọi quen thuộc của người dân Đằng Hải khi nhắc đến khu vực này.
Đặt tên phố Vườn Hồng vì tên gọi này đã gắn bó, quen thuộc với nhân dân địa phương; dễ nhớ, dễ tìm; bảo đảm tiêu chí tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
9. Phố Nguyễn Thiếp
Điểm đầu: đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Điểm cuối: khu dân cư Tổ dân phố số 15 phường Đằng Hải. Phố dài 160m, rộng 30m, vỉa hè mỗi bên 2m, mặt phố trải nhựa Asphalt, dân cư thưa thớt, có hệ thống điện chiếu sáng.
Nguyễn Thiếp (1722-1804), quê ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ An. Ông là danh sĩ cuối đời Hậu Lê và Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam. Vua Quang Trung Nguyễn Huệ gọi ông là La Sơn phu tử hay La Sơn tiên sinh. Ông đỗ thủ khoa kỳ thi Hương ở Nghệ An, đỗ Tam trường thi Hội. Ông được triều đình mời giữ chức Huấn đạo, sau ông từ chức về sống cuộc đời ẩn dật. Cuối năm 1788, Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc đại phá quân Thanh đã gặp và mời ông hiến kế đánh giặc. Khi vào Huế làm quan triều Tây Sơn, ông dâng kế trị nước lên vua Quang gồm 3 điều: Quản Đức (theo thánh hiền mà trị nước), Dân Tâm (thu phục được lòng dân), Học Pháp (coi trọng giáo dục). Sau này, vua Quang Trung đã thực hiện theo 3 điều trên và đã làm cho đất nước hưng thịnh.
Việc đặt tên ông cho tuyến phố nhằm tri ân những đóng góp của ông đối với dân tộc, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân địa phương; bảo đảm tiêu chí tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
* Phường Đông Hải 2, phường Nam Hải và phường Tràng Cát (1 đường)
10. Đường Đặng Kinh
Điểm đầu: nút giao với đường Đình Vũ. Điểm cuối: nút giao vành đai 2. Đường dài 5,5km, rộng 40m, vỉa hè mỗi bên 5m. Đường đi qua 3 phường thuộc quận Hải An là: Đông Hải 2, Nam Hải và Tràng Cát.
Đặng Kinh tên thật là Đặng Văn Rợp (1922-2019), nguyên quán phường Bắc Sơn, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. Ông là vị tướng có nhiều công lao, đóng góp vào sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước. Ông nguyên là Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Phó chủ nhiệm Tổng cục Xây dựng kinh tế - Bộ Quốc phòng, Tư lệnh Quân khu Ba, Phó tư lệnh Quân khu Trị Thiên - Huế, đại biểu Quốc hội khóa 6, Chỉ huy trưởng Tỉnh đội Kiến An, Chỉ huy trưởng Thành đội Hải Phòng. Tên tuổi ông gắn liền với trận đánh ngày 7-3-1954, trận tập kích sân bay Cát Bi, dưới sự chỉ huy của ông, 32 cán bộ, chiến sĩ bất ngờ đột nhập sân bay Cát Bi, phá hủy 59 máy bay, phần lớn là máy bay chiến đấu và vận tải hạng nặng. Đây là trận đánh sân bay lớn nhất trong lịch sử kháng chiến chống Pháp, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông chỉ huy cuộc Tập kích chiến lược Xuân năm 1968 tại thành phố Huế… Ông được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quý: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, hạng Nhì; Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng và nhiều danh hiệu cao quý khác.
Việc đặt tên ông cho tuyến phố thể hiện sự tri ân đối với những đóng góp của ông trong công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và chính quyền địa phương; bảo đảm tiêu chí tại khoản 5, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
III. CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG (1 công trình)
1. Công viên An Dương (huyện An Dương)
Công viên trung tâm huyện An Dương thuộc thị trấn An Dương, huyện An Dương; có diện tích: 34.777m2; phía Đông giáp tỉnh lộ 351, phía Nam và Tây Nam giáp đường ven công viên, phía Bắc giáp quốc lộ 17B và sông Rế. Đây là công trình có quy mô khá lớn, nằm ở trung tâm huyện, là nơi diễn ra các chương trình, sự kiện phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân huyện An Dương.
An Dương là tên địa danh cổ của huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Huyện An Dương được đặt từ năm 1469 đời vua Lê Thánh Tông, thuộc phủ Kinh Môn, xứ Hải Dương. Thời Nguyễn Minh Mạng đổi thuộc phủ Kiến Thụy, tỉnh Hải Dương. Từ năm 1887, thuộc nha Hải Phòng. Từ năm 1898, huyện thuộc tỉnh Phù Liễn. Thời thuộc Pháp, huyện An Dương bị cắt một phần làm nhượng địa để lập thành phố Hải Phòng. Năm 1966, huyện đổi tên là huyện An Hải sau khi sáp nhập huyện Hải An và huyện An Dương. Năm 2002, huyện An Dương được tái lập với 1 thị trấn và 15 xã. Tên công viên An Dương đã được nhân dân địa phương quen gọi từ lâu.
Đặt tên là Công viên An Dương vì tên gọi này đã gắn bó, quen thuộc với nhân dân địa phương; dễ nhớ, dễ tìm; bảo đảm tiêu chí tại khoản 1, Điều 10 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ.
D. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Sau khi Đề án đặt tên đường, phố, công trình công cộng trên địa bàn thành phố Hải Phòng được thông qua tại kỳ họp thứ 9 HĐND thành phố khóa 16; UBND thành phố giao các sở, ban, ngành và các địa phương liên quan tổ chức thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể như sau:
1. Sở Giao thông vận tải
Chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành, địa phương liên quan tiến hành khảo sát, xác định địa điểm và lắp đặt biển tên phố và công trình công cộng đã được thông qua tại kỳ họp thứ 9 HĐND thành phố khóa 16.
2. Sở Xây dựng
Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, địa phương liên quan tiến hành khảo sát, gắn biển số nhà, số ngõ trên các phố, công trình công cộng đã được đặt tên.
3. Sở Tài chính
Bố trí kinh phí bảo đảm triển khai thực hiện Đề án và hướng dẫn các đơn vị thủ tục thanh quyết toán.
4. Sở Thông tin và Truyền thông, Báo Hải Phòng, Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng, Cổng thông tin điện tử thành phố
Tổ chức tuyên truyền để nhân dân hiểu sâu sắc hơn về nội dung và ý nghĩa tên các phố và công trình công cộng được đặt tên.
5. UBND các quận, huyện: Lê Chân, Ngô Quyền, Kiến An, Hải An, Dương Kinh và huyện An Dương
Tổ chức công bố Nghị quyết của HĐND thành phố khóa 16 và gắn biển tên các phố và công trình công cộng được đặt tên; đồng thời, tuyên truyền sâu rộng cho nhân dân địa phương về ý nghĩa tên các phố và công trình công cộng.
Các quận, huyện trên địa bàn thành phố tiếp tục rà soát, lập hồ sơ báo cáo UBND thành phố để trình HĐND thành phố đặt tên, đổi tên các đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn chưa được đặt tên hoặc cần phải đổi tên theo quy định của pháp luật.
6. Sở Văn hóa và Thể thao - Cơ quan thường trực Hội đồng Tư vấn đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng thành phố
Kiểm tra, đôn đốc các đơn vị tổ chức thực hiện, báo cáo UBND thành phố.
Trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện, đề nghị các sở, ngành, địa phương phối hợp Sở Văn hóa và Thể thao bảo đảm quy định về đặt tên đường, phố, công trình công cộng trên địa bàn thành phố.
Trên đây là Đề án đặt tên một số đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn thành phố Hải Phòng năm 2022. Kính đề nghị HĐND thành phố xem xét, quyết định./.