Câu chuyện về nhà tù Hỏa Lò năm xưa
(HPĐT)- Tròn 50 năm Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” (12-1972 - 12-2022), cũng là tròn 50 năm gắn với sự kiện trao trả phi công Mỹ bị giam tại các trại giam miền Bắc (1973 - 2023), trong đó có nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội). Những câu chuyện về tù binh Mỹ năm xưa tại nhà tù Hòa Lò minh chứng cho sự chính nghĩa của Việt Nam trong cuộc chiến bảo vệ độc lập dân tộc.

Đại tá Trần Trọng Duyệt (người bên phải) nắm tay cựu tù binh Mỹ- là diễn giả nổi tiếng của nước Mỹ khi trở về Việt Nam thăm ông.
Nhà tù Hỏa Lò vốn được người Pháp xây dựng, là nơi từng giam giữ nhiều chí sĩ yêu nước, chiến sĩ Cách mạng trước năm 1954. Sau này, trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, nhà tù được sử dụng làm nơi giam giữ nhiều phi công Mỹ do quân và dân ta bắt được khi máy bay của họ bị bắn cháy trên bầu trời miền Bắc. Đại tá Trần Trọng Duyệt, nguyên Trại trưởng Trại giam nhà tù Hỏa Lò (giai đoạn 1968-1973), người chứng kiến toàn bộ tù binh Mỹ được ta trao trả cho Mỹ theo Hiệp định Paris nhớ lại: “Trong thời gian chiến tranh, tại Hà Nội, tù binh là phi công Mỹ được giam giữ ở 3 nơi: Khu vực Fafim, đường Nguyễn Trãi bây giờ; nhà số 17 phố Lý Nam Đế và nhà tù Hỏa Lò. Tại các phiên đàm phán hướng tới Hiệp định Paris, 472 tù binh phi công Mỹ được xem là vấn đề quan trọng. Cũng bởi vậy, việc thực hiện các chủ trương, chính sách nhằm cảm hóa các tù binh, góp phần chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, hướng tới tương lai của hai bên sau chiến tranh càng trở nên quan trọng. Hiệp định Paris được ký kết là thành công của chính sách đối ngoại phù hợp, một phần từ chính sách khoan hồng nhân đạo của nước ta đã cảm hóa nhiều cựu binh Mỹ, tiến tới chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam. Bởi thế, không ít các cựu binh Mỹ tại nhà tù Hỏa Lò năm xưa, nay lại trở thành những người hoạt động chính trị, góp phần xây dựng mối quan hệ Mỹ - Việt”.
Trong số những tù binh phi công Mỹ bị giam giữ ở Hòa Lò có Đại úy Pê-Tơn-Sơn bị bắt sống khi máy bay F105 bị bắn rơi tại Nam Sách- Hải Dương ngày 10-9- 1966. Sau này, ông là hạ nghị sĩ, trở thành Đại sứ đặc mệnh toàn quyền đầu tiên của Hoa Kỳ tại Việt Nam, lấy vợ người Việt Nam. Thiếu tá John McCain lái máy bay A4 đánh phá nhà máy điện Yên Phụ Hà Nội bị bắn rơi và được cứu sống khi nhảy dù xuống hồ Trúc Bạch ngày 16-10-1968. Sau này ông John McCain là Thượng Nghị sĩ của Đảng Cộng Hòa Mỹ, người tranh cử vị trí Tổng thống với ông Ô-ba-ma thuộc Đảng dân chủ nhiệm kỳ 2008-2012. Ông John McCain nhiều lần sang thăm nhà tù Hỏa Lò, góp phần quan trọng thúc đẩy mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ.
Đại tá Trần Trọng Duyệt hồi tưởng: Lúc đầu những tù binh phi công Mỹ nghĩ Việt Nam là nước bé, Mỹ là nước lớn. Ông John McCain từng là tù binh lì lợm, thường xuyên tranh luận với đại tá Duyệt về cuộc chiến tranh tại Việt Nam. Trong quá trình ở trại giam, các quản giáo như những nhà ngoại giao kể các câu chuyện về lịch sử 4.000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, mang văn hóa, các điệu chèo, tuồng ra biểu diễn để cảm hóa và minh chứng nền lịch sử văn hóa phong phú lâu đời của đất nước Việt. Chính sách khoan hồng, nhân văn của nước ta là một trong các yếu tố tác động trực tiếp, cảm hóa tù binh Mỹ. Trong rất nhiều cuộc trả lời phỏng vấn với phóng viên nước ngoài, khi hỏi việc thực hiện Công ước quốc tế Giơ-nevơ năm 1949 về tù binh chiến tranh tại Nhà tù Hỏa Lò như thế nào, đại tá Trần Trọng Duyệt đều khẳng định: “Chúng tôi cho tù binh phi công Mỹ được hưởng chế độ vượt tiêu chuẩn của Công ước quốc tế Giơ-ne-vơ”. Để minh chứng cho lời khẳng định trên, đại tá Duyệt cho chúng tôi xem những bức ảnh chụp các hiện vật “biết nói”. Đó là bộ bát thìa mà tù binh dùng để ăn súp, những tấm hình chụp cảnh ăn tiệc của tù binh phi công Mỹ, lễ đón Giáng Sinh. Thậm chí cả những lá thư cựu phi công Mỹ tên Alfonso Ray Riate trước khi được trả tự do theo tinh thần của Hiệp định Paris năm 1973 viết và ký tên Trần Văn Te - một cái tên rất Việt để thể hiện lòng biết ơn với chính sách nhân đạo của Chính phủ Việt Nam.
Những câu chuyện lịch sử cách đây 50 năm vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức của nhiều nhân chứng lịch sử, càng chứng minh cho sự chính diện của Việt Nam trong cuộc chiến đấu bảo vệ hòa bình, độc lập dân tộc. Đây cũng chính là nguồn tư liệu quý, cơ sở để các thế hệ trẻ sau này tự hào, nối tiếp truyền thống của ông cha ta, xây dựng đất nước Việt Nam hòa bình, có vị thế trên trường quốc tế./.