Kỷ niệm 50 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27-1-1973 – 27-1-2023): Mốc son lịch sử trên mặt trận ngoại giao
(HPĐT)- Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cuộc đàm phán tại Paris, thủ đô Pháp được coi là dài nhất trong lịch sử ngoại giao của Việt Nam. Kết quả là một hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, buộc đế quốc Mỹ phải ngừng ném bom phá hoại miền Bắc và rút quân khỏi miền Nam.

Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. (Ảnh tư liệu)
Sau nhiều lần trì hoãn, bởi nước ta và Mỹ chưa thống nhất về tư cách của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam, ngày 27-11- 1968, cuộc họp trù bị mới được tiến hành. Do phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn khi đó tìm mọi cách trì hoãn nên đến ngày 25-1-1969, hội nghị 4 bên mới chính thức bắt đầu. Như vậy, về mặt chính trị ngoại giao, hai phái đoàn của ta tạo thế trên mặt trận đối ngoại, cùng góp sức chiến đấu chống xâm lược, giành độc lập dân tộc. Cuộc đàm phán kéo dài suốt 4 năm (1968- 1972) là cuộc đấu trí quyết liệt của phái đoàn ta với đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn, gắn với những diễn biến trên chiến trường. Nổi bật là đế quốc Mỹ mở lại cuộc chiến tranh phá hoại và phong tỏa miền Bắc lần thứ 2, với mức độ hủy diệt; tiến hành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam. Quân và dân ta tăng thêm lực lượng, tổ chức chiến đấu, mở rộng vùng giải phóng ở Nam bộ và hoạt động đối ngoại, để nhiều chính phủ, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới hiểu rõ bản chất của cuộc chiến tranh ở Việt Nam.
Những chiến thắng vang dội của quân ta tại đường 9 - Nam Lào (1971), cuộc tiến công chiến lược xuân – hè 1972 với việc giải phóng Quảng Trị… giáng đòn mạnh vào âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh”. Đế quốc Mỹ lập tức tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại và phong tỏa miền Bắc lần thứ 2. Cuộc chiến lần này mang tính hủy diệt. Chúng tập trung vào Hà Nội và Hải Phòng, hy vọng đánh đòn quyết định. Ngày 16-4-1972, máy bay chiến lược B.52 ném bom rải thảm thành phố Hải Phòng, từ Hạ Lý đến Sở Dầu. Ngày 9-5- 1972, địch thả hơn 1.000 quả thủy lôi, phong tỏa tất cả luồng ra, vào Cảng Hải Phòng. Trong 12 ngày đêm (từ ngày 18 đến ngày 29-12-1972), đế quốc Mỹ cho B.52 ném bom vào Thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh tiên đoán từ trước: Mỹ chỉ thua khi thua trên bầu trời Hà Nội! Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” là một trong những đòn quyết định buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris vào ngày 27-1-1973, sau nhiều lần lật lọng.
Trong những năm diễn ra cuộc đàm phán và sau khi Hiệp định được ký, quân và dân Hải Phòng có những đóng góp hết sức quan trọng: Hàng hóa, vũ khí viện trợ của các nước qua Cảng được chuyển vào Nam bằng đường bộ, đường Hồ Chí Minh trên biển; bắn rơi nhiều máy bay, trong đó có 4 chiếc B.52, bắn cháy nhiều tàu chiến Mỹ. Nhất là, thành phố cùng các đơn vị cơ bản rà phá thành công hầu hết thủy lôi, thông luồng cho tàu vào Cảng và tàu thuyền ra khơi sản xuất.
Thực hiện các điều khoản của Hiệp định, đế quốc Mỹ rút quân khỏi miền Nam và có trách nhiệm tháo gỡ thủy lôi, bom mìn trên các luồng ra, vào Cảng Hải Phòng. Ngày 6-2-1973, Biên đội đặc nhiệm 78 của Mỹ làm nhiệm vụ rà quét thủy lôi, gồm 5.003 sĩ quan, binh lính, 44 tàu chiến và tàu quét mìn, 45 máy bay lên thẳng, cùng nhiều phương tiện kỹ thuật khác, đến vùng biển Hải Phòng. Trong 5 tháng (từ tháng 2 đến tháng 7-1973), phía Mỹ chỉ phá nổ được 3 quả thủy lôi ngoài luồng Nam Triệu, tổn thất một tàu vớt mìn, rơi 3 máy bay lên thẳng, nhiều khí tài bị hỏng, một lính tử vong…
Hiệp định Paris được ký kết có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với dân tộc ta, khẳng định vị thế của nước Việt Nam trên trường quốc tế, trực tiếp đưa đến những thắng lợi quyết định trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa Xuân năm 1975./.