Đêm xuân

KHUẤT QUANG THỤY 02/02/2023 16:20

(HPĐT)- Đó là một đêm xuân đáng nhớ, bởi nó là ngày… mồng ba Tết! Đáng nhớ hơn nữa, đó là một cái Tết ở chiến trường. Cuộc chiến diễn ra vào đúng thời khắc năm mới, thay bằng những lời chúc phúc, những bánh chưng, giò lụa, dưa hành, kẹo mứt… là bom rơi, đạn nổ, là mất mát, hy sinh. Truyện được viết bởi một nhà văn, đồng thời là lính chiến thực thụ nên câu chữ sống động, tình tiết chân thực, gợi lên được sự khốc liệt khủng khiếp của chiến tranh. Truyện cũng chạm tới phần cảm xúc lắng đọng nhất của người đọc bởi sự hy sinh của những người lính trẻ, bởi tình cảm “thầy trò chi binh” (thầy trò đều là lính) ở ngoài mặt trận. “Đêm xuân” với dung lượng ngắn gọn, nhưng đạt đến sự ám ảnh bởi câu chuyện, nhân vật, văn chương đều được xây dựng trên nền tảng của sự linh thiêng trong thời khắc đất trời giao hòa giữa năm cũ và năm mới, giữa người ra đi và người ở lại, giữa Tết này bâng khuâng nhớ Tết xưa, giữa những người lính hôm nay và hôm qua…

Minh họa: Đặng Tiến

Nhà văn Nguyễn Đình Tú

1.Sau trận đánh vào chi khu quân sự Cam Lộ trong dịp Tết Mậu Thân, đại đội tôi được lệnh lùi ra xây dựng trận đia chốt trên một mỏm núi có tên là Mõm ngưạ. Gọi là thế bởi cái mỏm núi ấy nằm ở điểm tận cùng của một dãy núi, trông hao hao dáng một con ngựa đang phi nước đại. Vào những hôm thời tiết xấu, thường có một đám mây trắng vần vũ quanh mỏm núi, khiến tôi cứ luôn nghĩ tới con ngựa chiến ấy mệt mỏi đang thở phì phò, sùi cả bọt trắng ra hai bên lỗ mũi.

Trong đội hình phòng ngự của đại đội trên Mõm ngựa, tiểu đội tôi được bố trí ở điểm ngoài cùng, nơi có hai cái hang đá, giống như hai cái lỗ mũi của con ngựa. Một hang dành riêng cho đài quan sát của trung đoàn, một hang do tiểu đội tôi chốt giữ. Nhiệm vụ của chúng tôi là bảo vệ khu vực ngoài cùng của Mõm ngựa và bảo vệ đài quan sát. Chúng tôi chỉ biết đài quan sát bố trí ở cái hang cao hơn, gọi là hang trên, tiểu đội chúng tôi sẽ bố trí trận địa trước cửa hang dưới. Tiểu đội chúng tôi hành quân leo núi suốt buổi chiều. Chừng bốn giờ chiều thì tới nơi bố trí trận địa. Nhìn thấy cái hang tối om, cậu Lân lắc đầu quầy quậy: “Em không chui vào cái hang ấy đâu. Ai biết trong ấy có bao nhiêu loại rắn rết”. Tiểu đội trưởng Lưu nhìn những vỉa đá trước cửa hang rồi quả quyết đặt ba lô xuống.

- Cái hang này rất “lý tưởng” để xây dựng trận địa phòng ngự.

Nói rồi anh chui vào hang. Một lát sau anh lộn trở ra, nhăn nhó:

- Toàn phân dơi! Bẩn không chịu được chúng mày ạ.

Tuy rất ngán mùi phân dơi, nhưng chúng tôi vẫn phải chọn cái hang làm nơi trú ẩn. Cao điểm này có cấu tạo địa chất nửa đất, nửa đá, chỉ có thể khoét được vài cái công sự chiến đấu, chứ đào hầm tránh bom tránh pháo sẽ rất khó khăn, hễ đào sâu xuống chừng hơn một mét là gặp đá tảng rồi.

- Bắt tay vào việc thôi. Trời tối sập xuống bây giờ.

Tiểu đội trần lưng ra dọn dẹp chừng hơn một giờ đồng hồ thì tạm ổn, riêng cái mùi phân dơi, tiểu đội trưởng bảo phải đợi đến khi trời tối, có sương mù, đốt lửa lên hun thì may mới cải thiện được tình hình. Tiểu đội phó Nga, chọn ngách trong cùng của cái hang, trải lá làm đệm, nằm vắt chân chữ ngũ nhìn lên mấy cái nhũ đá, hả hê tuyên bố:

- Nằm trong này bom tấn của thằng Mỹ cũng là muỗi!

Tiểu đội trưởng Lưu chỉ ra cửa hang:

- Nhưng cửa hang này nằm đúng hướng pháo địch từ phía Cam Lộ- Đông Hà tương lên. Nó cho một quả thì ra bã hết!

Tiểu đội phó nhấm nhẳng đáp:

- Nó băm cả trăm quả chắc gì đã trúng cái lỗ này. Mà trúng… chắc gì đã bị thương… Bị thương cũng chưa chắc đã chết!

Tiểu đội trưởng Lưu nhăn mặt:

- Lý với chả lẽ. Nằm đấy mà lý sự cùn, hối mấy đứa xuống suối lấy nước đi. Trận địa còn chưa bị lộ nên mới dễ thở thế này. Nay mai, khéo không mò xuống lấy được nước mà uống đâu.

Tiểu đội phó Nga uể oải ngồi dậy khoát tay chỉ tôi và cậu Lân:

- Hai thằng thu tất cả bi đông của tiểu đội rồi theo tao xuống suối lấy nước. Nước còn trong bi đông nhớ dồn lại để tối nấu cơm.

Tôi gom chín cái bi đông lại đeo lủng lẳng quanh người. Lân nhìn lũ bi đông chép miệng: “Vẫn còn đủ cả chín cái bi đông, nhưng tiểu đội chỉ còn 7 thằng”. Tiểu đội phó Nga gằn giọng: “Vớ vẩn! Còn 7 thằng là nhiều đấy. Tiểu đội 7 chỉ còn 3 đứa thì sao?”

Tôi và Lân không nói gì nữa, lúc cúc đi theo tiểu đội phó. Phải đi mất chừng ba mươi phút chúng tôi mới tới khe suối. Rừng chiều yên tĩnh lạ lùng, nghe rõ cả tiếng suối chảy róc rách, tiếng gió ào qua tán rừng xào xạc. Không một tiếng pháo kích. Lũ máy bay trinh sát OV10 cũng đi đâu hết cả rồi? Từ sáng tới trưa lúc nào chúng chẳng vo ve trên bầu trời? Tôi bỗng nhớ ra một điều không đâu.

- Anh Nga ơi, hôm nay mới là mồng ba Tết đấy.

- Tết nhất cái con khỉ! Múc nước nhanh lên để còn về hang. Yên tĩnh thế này là sắp có chuyện đấy.

Có chuyện thật. Chúng tôi chưa kịp về hang thì bỗng nghe có tiếng rú trên đầu.

- B52 rồi! Nằm xuống đi!

Tiểu đội phó Nga hét lên. Ngay sau đó là tiếng bom nổ rền, mặt đất rung lên bần bật. Dứt 3 loạt bom, tiểu đội phó Nga bật dậy.

- Bom xa, về hang ngay!

Chúng tôi vừa kịp lao vào hang thì loạt bom tiếp theo nổ rền. Lần này thì gần hơn rất nhiều, có lẽ ở ngay mé bờ suối, nơi chúng tôi vừa lấy nước. Tiểu đội trưởng Lưu đứng bên cửa hang nhìn ra phía những đụn khói đang đùn lên, gật gù:

- Số các cậu còn đỏ lắm! Không mất cái bi đông nào chứ?

Chúng tôi kiểm lại, không mất cái bi đông nào.

2.Trời chưa tối, nhưng cao điểm chìm trong sương mù. Sương mù dày đến nỗi nước đọng thành hạt lã chã trên những tán cây. Trời rất lạnh. Chúng tôi gom được một ít củi khô đưa vào hang và tiểu đội trưởng Lưu hạ lệnh nổi lửa, vừa nấu cơm, vừa sưởi ấm.

Tiểu đội vừa ăn cơm tối xong thì có khách tới thăm. Đó là hai anh bên đài quan sát của trung đoàn sang chơi. Một anh tự xưng là Tu, trợ lý tác chiến của trung đoàn hỏi:

- Các cậu có bị ảnh hưởng gì bởi trận bom hồi chiều không?

- Ổn cả. Nó mới chỉ ném bom phía dưới chân cao điểm thôi.

- Các anh không sao chứ?

- Không sao. Nhưng mới chỉ là khúc dạo đầu thôi. Cấp trên vừa có điện nhắc nhở bọn mình phải cẩn thận. Có vẻ như chúng nó đã dò ra đài quan sát của ta.

Anh Tu chỉ vào người đi cùng:

- Đây là cậu Khai, tổ trưởng trinh sát pháo binh. Bọn Mỹ trên căn cứ 241 và trong Đông Hà- Cam Lộ đang điên đầu vì bị pháo của ta nện cho mấy trận ra trò. Tổ trinh sát của các cậu ngồi trên này từ đầu chiến dịch, làm ăn khá lắm.

Tôi nhìn anh tổ trưởng trinh sát pháo cứ thấy ngờ ngợ, lát sau mới dám rụt rè hỏi:

- Em… nom anh quen quen. Có phải anh là… thầy Khải không ạ?

Anh tổ trưởng trinh sát nhìn tôi một lát rồi gật đầu:

- Mình đúng là… từng làm thầy giáo. Chẳng lẽ cậu quê Phúc Thọ?

- Thế thì đúng rồi. Thầy là thầy giáo dạy toán của bọn em hồi em học trường cấp 2 Phụng Thượng.

- Phải rồi. Mình từng dạy mấy năm ở Phụng Thượng trước khi đi bộ đội. Sao mình… không nhận ra cậu nhỉ?

Tôi lúng túng:

- Em học lớp 7B. Hồi đó… em học toán hơi kém. Thầy cho em xơi ngỗng suốt.

Thầy Khải cười:

- À … học toán kém một chút nhưng ra chiến đấu thì cũng chẳng sao- Thầy vỗ nhẹ vào vai tôi- Bộ binh cũng ít phải tính toán mà. Cứ nâng súng nhằm thẳng vào thằng Mỹ rồi xiết cò… pằng…pằng… Thế cậu hạ được thằng Mỹ nào chưa?

- Em chưa. Vừa rồi đại đội em làm đơn vị dự bị. Sau trận toàn đi tải thương với khênh người chết! Chả biết bao giờ mới được đánh một trận ra trò. - Rồi cậu sẽ sớm được đánh giáp lá cà với bọn Mỹ thôi. Chỉ có cánh tớ là chắc chẳng khi nào có dịp. Biết tính toán tí chút nên vào bộ đội tớ liền bị điều về làm kế toán cho pháo binh. Ra trận nửa năm nay rồi mà chưa biết mặt thằng Mỹ nó vuông hay tròn. Suốt ngày lại vẫn quẩn quanh với những con số, với bảng lôgarit, thước kẻ, ê ke… Vẫn y như thời làm giáo làng.

- Trận vừa rồi pháo mình bắn hay lắm. Bọn bạn em ở đại đội đột kích nó kể thế. Là do trinh sát pháo các thầy tính toán giỏi thôi.

- Đúng thế đấy- Anh trợ lý tác chiến xác nhận- Đài trinh sát này làm nhiệm vụ chỉ thị mục tiêu cho pháo binh bờ Bắc. Trận vừa rồi pháo Bắc bắn rất chuẩn. Do công của thầy giáo cậu cả đấy.

Tôi không biết việc tính toán đường đạn cho pháo bắn nó khó thế nào, nhưng tôi tin thầy giáo của tôi nhất định phải rất giỏi tính toán. Hồi còn đi học, từ cấp 1 đến cấp 3 tôi đều sợ môn Toán. Kỳ kiểm tra nào vượt qua được điểm trung bình là tôi mừng lắm rồi.

- Thầy còn nhớ cậu Dũng không ạ. Dũng “sậy”. Cái thằng cao ngổng cao ngồng ấy. Nó là học sinh giỏi toán chắc thầy phải nhớ chứ?

- Nhớ… nhớ. Dũng 7B thì mình nhớ. Cậu ấy đi thi học sinh giỏi của tỉnh đoạt giải nhì cơ mà. Chắc chắn cậu ấy sẽ đi theo con đường toán học.

Tôi thở dài buông một câu:

- Cậu ấy… hy sinh rồi thầy ạ.

Thầy Khải sửng sốt:

- Chết rồi à? Nó… cũng đi bộ đội à?

- Cùng đi một đợt với em… Nó có giấy báo đi học nước ngoài. Nhưng không hiểu sao nó cứ nằng nặc đòi đi bộ đội?

- Tình nguyện à? Sao cậu ấy lại… nông nổi thế. Sau này đất nước sẽ cần đến rất nhiều những tài năng toán học. Mà nó cũng… hy sinh trong trận Cam Lộ hôm mồng một Tết vừa rồi à?

- Không ạ. Nó bị pháo địch bắn trúng đội hình hôm đi lấy gạo để chuẩn bị vào chiến dịch.

Thầy Khải bỗng thở dài, lẩm bẩm:

- Vớ vẩn hết sức!

- Em cũng thấy… vớ vẩn quá.

Chúng tôi ngồi bên bếp lửa trò chuyện một lúc thì thầy Khải và anh trợ lý tác chiến ra về.

Khách vừa ra khỏi hang, thằng Lân chọc tôi:

- Thầy trò nhà cậu sao thế? Gặp nhau ngoài chiến trường mà khách sáo quá!

- Thì tớ cũng nhận ra ông ấy đấy chứ. Bây giờ thì ông ấy hiền thế, chứ hồi còn dạy bọn này, ông ấy cũng dữ dằn lắm.

Tiểu đội trưởng Lưu tiễn khách về rồi quay vào nhắc:

- Thôi, đi ngủ lấy sức ngày mai còn đào trận địa. Đứa nào đến phiên gác thì phải ra cửa hang cảnh giới, chứ không được ngồi bên bếp lửa mà ngủ gật đâu nhé. Trợ lý tác chiến vừa nhắc phải cảnh giác với bọn biệt kích, thám báo đấy.

Tiểu đội phó Nga buông một câu:

- Có cho kẹo chúng nó cũng chẳng dám mò lên đây!

- Ngay khi đánh bom rải thảm xong là chúng nó bắn pháo liên tục để ngăn ta di chuyển, khắc phục hậu quả. Vậy mà từ chập tối tới giờ tịnh không thấy quả pháo nào rơi vào dãy cao điểm này. Không chừng đám biệt kích Mỹ đang bò lổm ngổm ngoài kia rồi cũng nên. Vậy nên, súng đạn lúc nào cũng phải sẵn sàng.

Cắt gác xong, tiểu đội đi ngủ. Chỉ một lát, trong hang đá lạnh, thum thủm mùi phân dơi vang lên tiếng ngáy của những người lính. Chúng nó ngủ ngon thật. Riêng tôi, phần vì lạnh, phần vì cuộc gặp gỡ bất ngờ với thầy Khải khiến tôi trằn trọc mãi không ngủ được. Nhớ Dũng “sậy” quá. Nó chết thật bất ngờ và tức tưởi với cái ba lô chật căng, nặng trĩu những gạo, cá khô, ca la thầu, mắm kem… Nói thật, chết thì ai mà chẳng sợ, nhưng là người lính mà phải hy sinh ở tuyến sau thì thật đáng tiếc. Lúc chiều, khi nằm tránh bom, tôi cũng sợ phát khiếp khi nghĩ mình có thể chết với đống bi đông nước lủng củng trên người. Nhưng có lẽ chiến tranh là thế, ai có thể chọn được cho mình thời điểm phải hy sinh, ai có thể tự chọn cho mình tư thế khi ngã xuống dưới mưa bom, bão đạn?

3.Tiếng súng nổ ran vào lúc nửa đêm bất ngờ dựng cả tiểu đội chúng tôi dậy. Tiểu đội trưởng Lưu đoán việc như thần. Đám biệt kích Mỹ vẽ mặt mò lên cao điểm.

- Tất cả sẵn sàng chiến đấu– Anh Lưu hô xong rồi quay sang tôi- Cậu và Lân giữ cửa hang. Anh em còn lại theo tôi lên chi viện cho đài quan sát.

- Cho em đi với!

Tôi gọi với theo, nhưng tiểu đội trưởng cùng anh em trong tiểu đội mất hút trong màn sương dày đặc. Một lát sau từ trên đỉnh núi vang lên vài loạt súng. Những tiếng súng lọt thỏm trong màn sương dày, yếu ớt và hiền lành. Có vẻ vô hại như những tiếng pháo tép trẻ con thường chơi vào những đêm xuân.

Nửa tiếng sau tiểu đội trưởng Lưu cùng cả tiểu đội trở về, người nào người nấy ướt sũng sương đêm. Tôi và Lân cời lửa lên, bỏ thêm củi để anh em hơ quần áo.

- Anh em trên ấy bắn gục được ba thằng Mỹ- Tiểu đội trưởng vừa tháo giày ra vừa hướng về phía tôi thông báo- Nhưng bọn nó cũng kịp quăng hai quả lựu đạn vào hang của đài quan sát. Thầy giáo của cậu bị thương rồi.

Tôi dợm đứng dậy theo phản xạ.

- Anh em trinh sát đưa ông ấy về tuyến sau rồi. Ông ấy bị vào bụng, mất hơi nhiều máu. Nhưng chắc là không sao đâu!

- Chắc là thế!

Tôi lí nhí nói theo mà cũng chẳng hiểu sao mình lại tin thế. Tôi tin thầy giáo tôi không thể chết. Một ngày nào đó thầy sẽ trở về đài quan sát, tiếp tục những bài toán phức tạp của mình. Những bài toán sẽ gieo rắc cái chết và sự kinh hoàng lên đầu kẻ thù bởi sự chính xác đến lạnh lùng của nó.

Còn tôi, tôi vẫn chưa làm được gì. Chưa nổ được một phát súng nào về phía kẻ thù. Ngay cả khi thầy giáo của tôi đang gặp nguy nan. Hình như tiểu đội trưởng hiểu được tâm trạng của tôi, liền bước tới vỗ vai an ủi:

- Yên trí đi. Còn nhiều dịp mà.

Sau một hồi ồn ào, cả tiểu đội đi ngủ lại. Chỉ một lát chúng nó lại ngáy vang. Riêng tôi, vẫn không sao ngủ được. Tôi lại nhớ đến câu nói của thầy Khải. “Vớ vẩn hết sức”. Vâng, thầy ơi, thầy đừng chết nhé! Chết như thế thì vớ vẩn lắm. Em không đồng ý đâu! 

KHUẤT QUANG THỤY