Hoàn thiện hệ thống pháp luật xây dựng lực lượng Công an nhân dân chính quy, tinh nhuệ, hiện đại (kỳ 1)
![]()
Kỳ 1: Sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật Công an nhân dân năm 2018
Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công an nhân dân được xây dựng nhằm thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII: “Xây dựng Cồng an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Công an nhân dân chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” và Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16-3-2022 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh xây dựng lực lượng Công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới…
Cụ thể, trong Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16-3-2022 của Bộ Chính trị có chỉ đạo: “Xây dựng, hoàn thiện pháp luật về an ninh, trật tự, xây dựng lực lượng hậu cần, kỹ thuật Công an nhân dân và pháp luật có liên quan, nhất là Luật Công an nhân dân (sửa đổi). Bên cạnh đó, việc xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công an nhân dân nhằm thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Trong đó có quy định của Bộ luật lao động năm 2019 về tăng hạn tuỏi phục vụ đối với người lao động cho đến khi đủ 60 tuổi đối với nữ vào năm 2028, 62 tuổi đối với nam vào năm 2035; quy định của Luật Cảnh sát cơ động mới ban hành; quy định của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam về kéo dài hạn tuổi phục vụ trong trường hợp đặc biệt; chỉ đạo của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung Luật Công an nhân dân để có căn cứ pháp lý đầy đủ, thống nhất, đồng bộ việc thăng cấp bậc hàm cấp cấp Tướng trước thời hạn đối với sĩ quan Công an nhân dân có thành tích đặc biệt xuất sắc đạt được trong chiến đấu và công tác.
Về cơ sở thực tiễn, qua tổng kết thi hành Luật Công an nhân dân năm 2018, đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Cụ thể là: Quy định hạn tuổi phục vụ cáo nhất của sĩ quan, hạ sĩ quan, công nhân Công an chưa phù hợp với quy định về tăng tuổi nghỉ hưu của Bộ luật lao động. Hiện nay, theo quy định của Bộ luật lao động năm 2019 (có hiệu lực từ ngày 1-1-2021) thì tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi dối với nữ vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với nam vào năm 2035. Do đó, khoảng cách về tuổi nghỉ hưu giữa cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân với người lao động tăng lên. Bộ luật lao động được coi là “luật gốc” về tuổi nghỉ hưu của người lao động, vì vậy, khi tuổi nghỉ hưu của người lao động nói chung thay đổi thì cũng cần phải sửa đổi quy định hiện hành về hạn tuổi phục vụ cao nhất của sĩ quan, hạ sĩ quan, công nhân cho phù hợp.
Bên cạnh đó, hạn tuổi phục vụ cao nhất của sĩ quan Công an nhân dân ngoài việc thực hiện theo quy định chung của Luật Công an nhân dân, trong một số trường hợp đặc biệt còn thực hiện theo quy định của Đảng, Nhà nước như tuổi nghỉ hưu của sĩ quan Công an nhân dân là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên TW Đảng, Đại biểu Quốc hội… Tuy nhiên, Luật Công an nhân dân năm 2018 chưa quy định cụ thể về kéo dài thời hạn tuổi đối với các trường hợp này nên chưa bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các quy định của Đảng, Nhà nước và yêu cầu thực tiễn. Vì vậy, việc bổ sung quy định kéo dài hạn tuổi phục vụ trong các trường hợpđặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định là cần thiết và phù hợp.
Việc thăng cấp bậc hàm cấp Tướng trước thời hạn với sĩ quan Công an nhân dân có thành tích đặc biệt xuất sắc đạt được trong chiến đấu và công tác chưa cụ thể nên khó thực hiện. Hiện nay, việc thăng cấp bậc hàm cấp Tướng trước thời hạn thường thực hiện theo quy định của Ban Cán sự Đảng Chính phủ về việc thăng cấp bậc hàm cấp Tướng trước thời hạn. Tuy nhiên, văn bản này không phải là văn bản quy phạm pháp luật. Vì vậy, việc luật hóa quy định tiêu chí, tiêu chuẩn về lập thành tích đặc biệt xuất sắc để thăng cấp bậc hàm cấp Tướng trước thời hạn là cần thiết.
Cùng với đó, thực tế hiện nay, cấp bậc hàm cao nhất đối với một số chức vụ. chức danh của sĩ quan Công an nhân dân chưa quy định cụ thể, phù hợp với thực tiễn. Hiện, Luật Công an nhân dân mới chỉ quy định cụ thể 199 vị trí có cấp bậc hàm cao nhất là cấp Tướng (1 Đại tướng, 6 Thượng tướng, 35 Trung tướng, 157 Thiếu tướng) còn các vị trí khác chưa được quy định hoặc mới quy định trên cơ sở nguyên tắc nên về thực tiễn thi hành Luật gặp khó khăn, vướng mắc. Mặt khác, triển khai thi hành Luật Công an nhân dân và vác văn bản liên quan, tổ chức bộ máy các cấp Công an đã được đổi mới căn bản, toàn diện, ở Bộ bỏ đơn vị cấp tổng cục, chỉ tổ chức đơn vị cấp cục và tương đương. Trong khi đó, hầu hết Thủ trưởng các đơn vị cấp cục và tương đương có cấp bậc hàm cao nhất là Trung tướng, Thiếu tướng nhưng vẫn còn Thủ trưởng một số đơn vị tương đương cấp cục chưa được quy định có trần cấp bậc hàm cao nhất là cấp Tướng, tạo ra sự thiếu đồng bộ, thống nhất trong quy định về cấp bậc hàm đối với chức vụ, chức danh…
Hiện nay, Trung đoàn trưởng trong Công an nhân dân có cấp bậc hàm cao nhất là Thượng tá; tuy nhiên đứng trước yeu cầu quản lý nhà nước về ANTT, công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay, Bộ Công an đã báo cáo cấp có thẩm quyền thành lập một số Trung đoàn thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Công an địa phương có tổ chức thực hiện một số chức năng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự tại các đơn vị tương đương cấp Phòng. Vì vậy, việc sửa đổi quy định Trung đoàn trưởng trong Công an nhân dân có cấp bậc hàm cao nhất là Đại tá cho thống nhất về cấp bậc hàm của các đơn vị cấp Phòng và tương đương là phù hợp.
Ngoài ra, về Công an thành phố trực thuộc thành phố trực thuộc trung ương, đây là đơn vị tương đương với Công an quận thuộc thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, vì vậy, quy định Trưởng Công an thành phố trực thuộc thành phố trực thuộc trung ương có cấp bậc hàm cao nhất là Đại tá như Trưởng Công an quận thuộc thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp.
Bởi các lẽ trên cho thấy, việc xây dựng Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công an nhân dân là cần thiết.
(Còn nữa)