Những ghi chép công phu tại chiến trường của một nhà báo - chiến sĩ
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; bằng những trang viết và cả hy sinh xương máu của mình, các nhà báo cách mạng đã góp phần làm nên chiến thắng chung của dân tộc, đặc biệt là nhà báo ở chiến trường miền Nam, trong đó có nhà báo từ hậu phương lớn miền Bắc vào tiền tuyến lớn miền Nam. Nhà báo Nguyễn Kim Toàn thời trai trẻ ở Báo Hải Phòng là một trong số các nhà báo - chiến sĩ hồi đó.

Bìa 1 và bìa 4 cuốn sách "Hai lần vượt Trường Sơn" của nhà báo Kim Toàn
Trước Kim Toàn, năm 1964, ba nhà báo miền Nam tập kết ra Bắc sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Việt Nam, đã chia tay đồng nghiệp ở Báo Hải Phòng tình nguyện trở về Nam góp phần chiến đấu giải phóng quê hương. Đầu tiên là nhà báo Nguyễn Thụy Nga (phu nhân Tổng Bí thư Lê Duẩn), thường gọi theo bút danh là Bảy Vân, theo tàu không số vào hoạt động và làm báo ở Nam bộ. Tiếp đó theo đường Trường Sơn, Võ Phụng Thê vào Quảng Ngãi và Vũ Minh vào Quảng Nam làm báo tại quê nhà.
Năm 1965, Ban Tuyên huấn Trung ương tổ chức “lớp báo chí đặc biệt” dành cho cán bộ chiến trường miền Nam. Kim Toàn là nhà báo duy nhất của Hải Phòng tham gia lớp học, năm ấy mới 25 tuổi. Sau hơn nửa năm vừa học tập, bồi dưỡng chính trị, nghiệp vụ, vừa tập luyện quân sự, chiều 16-3-1966 một đoàn xe quân sự phủ kín vải bạt và lá ngụy trang tới đón anh em lên đường “đi B”. Các nhà báo phân làm ba đoàn, nơi đến được gọi bằng mật danh: Hai đoàn tới “Bác Ái” (Trung Trung bộ), “Bác Ân” (Nam Trung bộ), một đoàn - Đoàn K94 của Kim Toàn - tới “Ông Cụ” (Nam bộ).
Đoàn K94 gồm 23 người, phần lớn là anh em các tỉnh Nam bộ, chỉ 5 anh em quê miền Bắc. Trong khi anh em miền Nam hào hứng vì sắp được trở về quê hương thì mấy anh em miền Bắc không khỏi xao xuyến bởi xa gia đình, nhất là những anh em đã có vợ, con, trong đó có Kim Toàn.
Vào chiến trường, Kim Toàn lấy bút danh là Cao Kim. Không rõ, các nhà báo “lớp báo chí đặc biệt” ngày ấy sau này có ai viết thành sách những ngày vượt Trường Sơn và làm báo ở chiến trường; chỉ biết trong gần bảy năm qua, Kim Toàn đã cho ra mắt ba cuốn: “Cánh chim nhỏ giữa sào huyệt địch”, “Làm báo ở chiến trường”… và “Viết trong lửa đạn”, tổng cộng gần 1000 trang! Nghìn trang ấy, trang nào cũng nóng bỏng ký ức những ngày gian nan hành quân dọc Trường Sơn và một thời làm báo trong bom đạn; trang nào cũng thấm đẫm tình nghĩa đồng đội, đồng bào. Thực tế bề bộn và tâm huyết của tác giả trong nghìn trang viết ấy giúp người đọc hiểu các nhà báo ở chiến trường đã một thời sống và làm việc không chỉ bằng ngòi bút mà là những chiến sĩ cầm súng thực sự. Nhà báo Kim Toàn nói, ông không thể không viết vì mãi mãi tri ân đồng đội, đồng bào đã gắn bó với mình trong những năm tháng đầy gian khổ hy sinh; và không thể không viết để nói những điều tâm huyết với lớp người đi sau, với những người làm báo trẻ tuổi, cả chuyện đời và chuyện làm báo cách mạng tại chiến trường.
Tha thiết với đời, với người, với quá khứ và với cả tương lai đến vậy thì đúng là không thể không viết, song nhiều người nghĩ với ba cuốn, nghìn trang sách cùng mấy chục bức ảnh về một thuở chiến trường được Kim Toàn chọn in cùng các bài viết, hẳn là ông đã yên tâm vì trả được “món nợ lòng” với đồng đội, đồng bào, với một thời biết ơn - một thời để nhớ những năm lửa đạn. Vậy mà, ông vừa cho ra mắt cuốn thứ tư: “Hai lần vượt Trường Sơn” (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tháng 6-2023) khi đã ở tuổi 84, lại vừa trải qua mấy trận ốm nặng.
“Hai lần vượt Trường Sơn” gồm ba phần chính. Cốt lõi là Phần một: “Thăm thẳm Trường Sơn” và Phần hai: “Thênh thang Trường Sơn”. Ở đấy, qua những dòng ghi chép về hai lần vượt Trường Sơn - lần hành quân vào Nam và lần trở ra Bắc, Kim Toàn đã khắc họa một Trường Sơn và miền Nam gian lao mà anh dũng cùng hình ảnh các nhà báo với đồng bào, chiến sĩ những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Cùng với đó, lời đầu sách của Tiến sĩ Phạm Thị Trâm, nguyên Giám đốc - Tổng biên tập Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội với tiêu đề “Sức sống từ những dòng ghi vội trên đường hành quân” như một lời dẫn, cho thấy kỳ công của nhà báo trong việc giữ được những ghi chép trong hoàn cảnh sống còn của chiến tranh, để giờ đây chép lại, đưa vào sách gửi đến bạn đọc.
Các nhà báo “đi B” hồi ấy mỗi người thường xuyên phải mang vác từ 20 đến 25 ki-lô-gam. Kim Toàn dành đến hơn một trang chú thích, in chữ nhỏ trong sách kể tỉ mỉ đến mấy chục thứ mang theo người, từ ba lô, gạo, nước, súng, đạn, thuốc men, cho đến kim chỉ, đèn pin, bật lửa, rồi nồi quân dụng, dao để phát cây mở đường, lưới để đánh cá… và những thứ của người làm báo phải có như sổ sách, giấy, bút máy bơm mực, bút chì, máy thu thanh, máy ảnh…
Không chỉ cảm phục trí nhớ của một người cao tuổi mà còn thú vị khi thấy Kim Toàn nhớ và kể đến cả 6 cục pin dự phòng và 50 viên đá lửa mang theo!
Dọc đường đi B, chỉ tuần đầu, từ 16- 3 đến 23-3-1966, các nhà báo được trên xe ô tô, còn lại là đi bộ. Đường sá đầy ổ voi, ổ gà, hố bom, đã thế lại cả đường ngầm và cầu phà nên đi xe ô tô cũng không ít vất vả; song dẫu sao vẫn hơn hành quân bộ đằng đẵng bốn tháng trời mới đến nơi phải đến. Dọc đường Trường Sơn là các trạm giao liên, cũng là nơi cung cấp gạo, nhu yếu phẩm, súng đạn cho bộ đội và các nhà báo, nhưng không phải lúc nào cũng có đủ những gì cần thiết vì tất cảcác loại hàng được chuyển đến trạm chỉ gùi và thồ bằng sức người của các chiến sĩ vận tải và dân công hỏa tuyến vì lúc đó chưa có đường để vận chuyển bằng xe cơ giới. Trạm cũng là nơi nghỉ chân hoặc nằm lại của những người ốm nặng và thương tật, chờ để đi cùng các đoàn bộ đội phía sau.
Không thể kể hết những gian nan, vất vả dọc đường. Hết trèo đèo, lội suốt lại khi nắng khi mưa. Thường đi đêm để bảo đảm bí mật nhưng không được dùng đèn đuốc, người đi sau bám theo cái bóng lờ mờ của người đi trước. Nhiều hôm đi cả ngày cho tới thâu đêm. Dẫu đi đêm hay đi ngày và cả lúc tạm nghỉ cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt khẩu hiệu có tính sống còn: “Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng” để máy bay Mỹ dẫu liên tục quần đảo trên đầu hay biệt kích, thám báo của địch có phục kích cũng không biết. Lại nhiều khi không có đường, mọi người phải dùng dao phát cây, tự mở lối đi. Mệt mỏi là đương nhiên, lại còn ốm đau, thương tật, đói khát, lạc đường... Vậy nên những gì có thể để lại dọc đường cho nhẹ bớt, ai cũng “sẵn sàng” (!) Ngay khi chia tay anh em lái xe ô tô, bắt đầu chuyển sang đi bộ, các nhà báo Nam bộ đã để lại trạm sổ sách và cả một số quần áo, thuốc chữa bệnh,vừa cho anh em giao liên dùng vừa cho nhẹ. Một nhà báo người miền Bắc cũng định làm thế, Kim Toàn khuyên không nên, vì anh em Nam bộ vào đấy còn có thể nhờ người thân giúp đỡ, còn anh em miền Bắc thì khó, nếu bỏ bớt đồ đạc, lúc cần không biết nhờ ai. Anh bạn thấy có lý nên nghe theo. Nhưng đó là chỉ lúc bắt đầu chuyển sang đi bộ vì chỉ sau một ngày, đến Trạm 2 ai cũng loại bỏ những thứ không thể mang theo vì sức có hạn. Người để lại ít quần áo, người bỏ lại cuốn sổ bìa cứng còn nguyên giấy trắng, người pha sữa bột uống bớt chỉ để lại chút ít trong hộp; Kim Toàn lột bỏ bìa cứng bọc sổ tay, chỉ giữ lại các trang ruột…

Nhà báo Kim Toàn (Cao Kim) tác nghiệp tại chiến hào đánh Mỹ bên quốc lộ 13, Bình Long - Bình Phước, tháng 8-1966.
Cuộc trường chinh vượt Trường Sơn thật vô cùng gian khổ, vậy mà khi đến cơ quan Trung ương Cục miền Nam, cả đoàn vẫn vui mừng như mở cờ. Cuộc gặp mặt đầu tiên giữa các nhà báo với cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Cục và Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam trở thành cuộc liên hoan văn nghệ hết sức vui vẻ. Kim Toàn hát liền mấy bài, hết điệu “Con gà rừng”, “Cò lả” lại đến “Trống quân”. Biết Kim Toàn còn có tài đặt lời mới cho dân ca, lãnh đạo Ban Tuyên huấn Trung ương Cục đề nghị ông sáng tác một bài theo điệu “Trống cơm” và Kim Toàn đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc tới mức anh em đề nghị hát tới ba lần trong tối văn nghệ. Toàn bộ bài hát gồm ba lời, chỉ xin trích đoạn đầu của lời một: “Tình bằng có tiếng hát vang, chiêng khua, trống vỗ (ấy mấy) vui liên hoan, (ấy mấy) vui liên hoan. Chào mừng những người đồng chí! Chào mừng những người yêu quý (ấy mấy) lặn lội vượt qua bao hiểm nguy mới tới nơi đây…”.
Ảnh chụp bút tích in trong “Hai lần vượt Trường Sơn” cho thấy những trang ghi chép của Kim Toàn dày đặc chữ. Hẳn là phải nhiều quyển nên không thể mang theo tất cả, ông cất cùng với các tài liệu vào thùng đựng đạn đại liên thu được của quân Mỹ - loại thùng chắc chắn, có gioăng cao su rất kín mà ông gọi vui là “do Mỹ cung cấp”. Mỗi lần đi công tác xa, ông thường gửi lại cơ quan tại chiến khu, chôn xuống đất để sau này quay lại lấy. Đã kỳ công nhưng còn phải nhờ may mắn Kim Toàn mới giữ được những ghi chép và tài liệu ấy. Một lần, sau trận bom của địch, chiếc thùng gửi tại Tòa soạn trong rừng không còn thấy tại nơi chôn giấu, những tưởng đã bị bom phá hủy hoặc lẫn với đám thùng đồ của tổ làm rẫy khi tổ này mang qua biên giới, chôn gần bờ sông trên đất Campuchia, thì may sao sau đó lại đào bới và tìm thấy ở cách nơi cũ đến hàng chục mét! Rút kinh nghiệm, sau đó Kim Toàn bọc cuốn ghi chép và tài liệu bằng vải nhựa cho nhẹ và để khỏi lẫn với các đồ đạc khác. Lại một lần ông gửi ba-lô ở nhà một đồng bào, nhà bị thiêu cháy sau trận bom của địch, nhờ chủ nhà nhanh tay mang theo khi xuống hầm trú ẩn nên ba-lô vẫn còn!
Bảo kỳ công và may mắn chỉ là một cách nói bởi trước hết và hơn hết là ý thức và trách nhiệm cao của một người làm báo tâm huyết. Sau Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, Kim Toàn trở ra Bắc, đến Quảng Bình thì bất ngờ bị bệnh nặng tới mức nghĩ không qua khỏi nên đã nhờ đồng đội mang giúp ba-lô cùng tư liệu, báo chí thu thập từ chiến trường: Ba-lô nhờ bạn đưa cho gia đình, còn các ghi chép và tư liệu quan trọng về báo chí thì chuyển tận tay cho nhà báo Thép Mới (tức Hồng Châu) trước đó là Tổng Biên tập Báo Giải Phóng, giờ là Phó tổng biên tập Báo Nhân Dân. Kim Toàn còn dặn bạn chuyển giúp số thư của hơn 100 người tại chiến trường nhờ mình cầm về gửi các gia đình người thân ở miền Bắc. May sao Kim Toàn qua khỏi nên không phải cậy nhờ bạn. Sự kỳ công, may mắn và nhất là ý thức trách nhiệm cao của Kim Toàn đã được bạn bè, đồng nghiệp xem như kỳ tích của một nhà báo - chiến sĩ.
Hơn bốn tháng hành quân bộ, từ 25- 3 đến 28-7-1966, khi dọc Trường Sơn, khi tạt sang Lào và Campuchia, Kim Toàn và đồng đội không ai là không bị thương, bị sốt rét hoặc gặp nạn. Chỉ kể nạn lớn, Kim Toàn đã bị hai lần. Lần đầu bị ngã, chống tay xuống đá nên xương cổ tay bên phải bị gãy và trồi ra, không sao ngồi dậy được, anh em phải xúm lại đỡ lên. Được băng bó và đỡ một chút, Kim Toàn cầm bút thử viết, dù chỉ được vài chữ nguệch ngoạc vẫn mừng là các ngón tay không việc gì, sau này vẫn viết báo được! Lần thứ hai, đoàn K94 bị máy bay Mỹ ném bom trúng đội hình hành quân , ông bị hất văng xuống triền núi và ngất đi, tỉnh dậy thấy nằm chênh vênh, vắt mình trên đám cành lá, chỉ cựa quậy là có thể rơi xuống vực thẳm. Tưởng ông mất tích, anh em giao liên và Thanh niên xung phong phải lặn lội tìm mãi mới thấy...
Nhật ký và ghi chép phản ánh trung thực tâm tư, tình cảm của người viết. Song khi đưa vào sách không phải tác giả nào cũng như Kim Toàn khi ông cho in cả những sự gắng gượng của mình để vượt qua những cực nhọc, đói khát, ốm đau, thương tật. Đây là Ngày 24-3: “Trong lúc chống gậy hành quân, đôi lúc mình hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn, nhưng vẫn phải cắn răng, cố bước cho kịp đồng đội.”; Ngày 11-5: “Đi trong thời tiết mưa nắng thất thường, không khí oi bức, vai mang thêm hơn một chục ki-lô-gam, tay còn đau, lại phải gò lưng leo qua nhiều dốc cao, vừa để ý nghe tiếng máy bay Mỹ, vừa sẵn sàng chiến đấu chống bọn biệt kích, thám báo địch, mình rất căng thẳng đầu óc, luôn phải nén nỗi cực nhọc, mệt rã người”; Ngày 5-4: “Leo được vài ba bậc lại đứng thở, rồi lại tiếp tục leo cho hết mỗi dốc với mấy trăm bậc. Mệt đến đứt ruột đứt gan, nhưng ai cũng phải cố leo lên, vì không được buông tay giữa lưng chừng núi cao, không có chỗ tạt ngang và càng không có lối ngược xuống.”…
Các nhà báo vượt Trường Sơn ngày ấy thường xuyên ăn cơm với muối và ăn cơm nguội để lâu nên không tránh khỏi đau ốm; lại ít khi được no và nhiều khi phải ăn cháo cầm hơi, như ngày 6-4: “Cũng như mọi người, mình đói cồn cào ruột gan, nằm mệ lử trên võng.” Sang ngày 7-4: “Vẫn nhịn đói nằm chờ gạo từ hậu phương tới. Chưa biết phải nhịn đói, chịu khát đến bao giờ và rồi sức khỏe sẽ suy sụp đến đâu? Ai cũng vàng võ, mang vác súng đạn nặng nhọc mà ba, bốn hôm nay toàn ăn cháo!”, mừng là ngày 8-4: “Có gạo rồi! Mọi người reo lên khi nghe tin vui này. Cả đoàn bật dậy, mang ruột tượng cùng bộ đội ra chỗ ô tô nhận gạo. Nhìn hạt gạo pha trộn với đất, đá, than, bụi và lá cây, đủ biết những đơn vị hậu cần vận chuyển từ hậu phương tới phải trải qua những chặng đường gian khổ và nguy hiểm đến mức nào.”.
Thông thường, những người đi xa đều rất nhớ gia đình. Kim Toàn vào chiến trường để lại người vợ ở hậu phương vừa chăm sóc mẹ già 70 tuổi vừa nuôi dạy hai con nhỏ, con gái khi đó mới tập nói, con thứ hai còn trong bụng mẹ, hơn một năm sau nhận được thư vợ mới biết vợ sinh con trai, Kim Toàn đặt tên con là Kim Sơn để nhớ mãi kỷ niệm vượt Trường Sơn. Nỗi nhớ gia đình đến cả trong giấc mơ, những cơn mộng mị, nhưng đau đớn giày vò nhất là hy vọng có thể vụt tắt khi sắp thành hiện thực: “Thương con suốt 9 năm trông ngóng mà đến nay chưa biết mặt bố. Chuyến vượt Trường Sơn ra Bắc lần này, mình hy vọng vợ - chồng, cha - con và cả nhà sẽ sớm gặp nhau. Đâu ngờ mình đột ngột bị bệnh rất nặng, đang phải cấp cứu và không biết điều gì sắp diễn ra”.
Rất nhiều, rất nhiều những dòng, những trang như thế. Nhưng không gợi chút yếu đuối, mà đúng như “Lời Nhà xuất bản” ở đầu sách về các ghi chép của Kim Toàn: “Bom đạn chiến tranh đã lấy đi sinh mạng nhiều đồng đội và một phần máu thịt của nhà báo - chiến sĩ, nhưng không những không thể khuất phục được ý chí kiên cường của người làm báo cách mạng mà còn được ông mô tả một cách chân thực nhưng bi tráng và hào hùng, rất bình dị, nhân văn và lãng mạn về tinh thần chiến đấu quật cường, bất khuất, vượt qua muôn vàn gian khổ trong cuộc kháng chiến vĩ đại của quân và dân ta chống Mỹ, cứu nước.”.
Đằng đẵng hơn bốn tháng với núi rừng, sông suối Trường Sơn và hơn chín năm làm báo dưới lửa đạn ở chiến trường Nam bộ, ngày 11-2-1974 Kim Toàn được phép rời cơ quan Báo Giải phóng để lên đường ra Bắc. Vẫn là Trường Sơn nhưng sau 9 năm từ “Thăm thẳm Trường Sơn” đã là một dải “Thênh thang Trường Sơn”: “Đường Trường Sơn hôm nay không còn là những lối mòn heo hút dành cho người đi bộ xuyên rừng rậm, núi cao, mà rộng mở thành nhiều tuyến, nhiều đường ngang dọc, xe ô tô vận tải có thể qua lại. Như vậy, chuyến vượt Trường Sơn lần này dù vẫn nhiều khó khăn, gian khổ nhưng mình cùng mọi người không còn phải đằng đẵng nhiều tháng chống gậy leo núi, băng rừng, vượt sông, lội suối như chuyến đi B trước đây. Chỉ riêng chuyện đó cũng đủ thấy lực lượng của ta tại chiến trường hôm nay lớn mạnh vượt bậc so với những năm trước.”.
Dù trên đường vào Nam hay ra Bắc, đến trạm nào cảnh đưa đón cũng thật cảm động. Chuyến vào, tới Hà Tĩnh xe vừa dừng đã rộn lên tiếng nói tiếng cười của chị em thanh niên xung phong. Nhiều o mạnh dạn nắm tay và ôm chặt các chàng trai trẻ. Vừa ôm, các o vừa trò chuyện và cười vui như gặp người thân, hỏi tên và xưng tên mình, rồi hẹn gặp trong một ngày không xa, cứ “y như thật”! Còn chuyến ra Bắc, nơi tiễn chân bằng buổi biểu diễn văn nghệ của Đoàn Văn công Giải phóng, nơi các cô gái nghẹn ngào, bịn rịn, và cũng hẹn gặp lại trong ngày kháng chiến thắng lợi.
Cuối Phần hai là những trang về cuộc gặp gỡ của Kim Toàn với gia đình. Anh cả, anh thứ, anh rể cùng vợ và hai con từ Hải Phòng lên thăm Kim Toàn tại Bệnh viện E, Hà Nội: “Ngày mình đi B, con Kim Hoàn mới bi bô tập nói, nay đã là cô bé tuổi 13. Đặc biệt, khi mình vượt Trường Sơn vào chiến trường, Kim Sơn còn trong bụng mẹ, nay Sơn đã là cậu bé 9 tuổi kháu khỉnh. Và hôm nay, lần đầu tiên cha con mình được gặp nhau… Mình giang tay ôm cả hai con vào lòng. Vợ mình và các bác đều đưa tay gạt nước mắt.”. Hẳn nhiều người đã biết, cậu bé Nguyễn Kim Sơn kháu khỉnh ngày ấy bây giờ đã trưởng thành và được Nhà nước giao đảm trách nhiệm vụ nặng nề của ngành Giáo dục Việt Nam, một sự đền đáp xứng đáng với người cha từng vào sinh ra tử, góp phần giành lại độc lập tự do của đất nước và hạnh phúc của mọi người, trong đó có hạnh phúc của gia đình và của chính mình.
Phần ba: “Những tình cảm chân thành dành cho nhà báo Kim Toàn và các đồng nghiệp tại chiến trường” giới thiệu 11 bài viết với hơn 100 trang những điều tâm đắc của bạn bè, đồng nghiệp khi đọc những cuốn sách Kim Toàn viết về thuở làm báo ở chiến trường.
Nhà báo Phạm Quốc Toàn (nguyên Phó chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Người làm báo) với bài viết “Xứng danh nhà báo - chiến sĩ” cho biết cuốn Viết trong lửa đạn là những bản thảo Kim Toàn còn giữ lại được từ Chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968 trong hoàn cảnh địch càn quét, chà đi xát lại ở đô thị Sài Gòn và vùng ven đô trước và sau khi Hiệp định Pa-ri về hòa bình ở Việt Nam.
Nhà báo, nhà văn Nguyễn Uyển (nguyên Ủy viên Thường vụ Hội Nhà báo Việt Nam) trong bài “Một nhà báo - chiến sĩ đúng nghĩa” đăng Tuần báo Nhà báo và công luận của Hội Nhà báo Việt Nam, số đặc biệt 21-6-2020 nhân Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam lý giải về việc đồng đội ai cũng nghĩ Kim Toàn đã hy sinh sau trận bom của Mỹ: “Căn nguyên “báo tử” là trong trận đánh ác liệt giữa bưng biền sinh lầy, Cao Kim cùng đồng đội kiên cường chiến đấu phá vây, đôi bên cùng tổn thất rất nặng nề. Sau trận đánh, trong số những chiến sĩ bị thương nặng, có một người thân hình biến dạng, hy sinh khi đưa tới Trạm quân y tiền phương Phân khu 3. Người ta phát hiện trong túi áo ngực liệt sĩ có giấy giới thiệu sinh hoạt Đảng mang tên Cao Kim. Thì ra, đó là giấy chuyển sinh hoạt Đảng do Cao Kim nộp cho anh Hai Ca, Bí thư Chi bộ kiêm Đội trưởng Đội Vũ trang tuyên truyền T4 từ hôm gia nhập đơn vị này, nhưng Hai Ca chưa kịp lưu vào hồ sơ Chi bộ.”. Sau này, chính nhà báo Kim Toàn cũng có dịp về thăm lại tỉnh Long An và đứng trước nấm mộ ghi tên Cao Kim (!)
Chuyện về “liệt sĩ Cao Kim” cũng được nhà thơ Nguyễn Viết Lãm (nguyên Tổng thư ký Hội Liện hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng) kể lại bằng bài thơ “Hồi sinh”: “Tiếng súng im rồi, đơn vị thiếu anh/ Chỉ có rừng dừa nghi ngút khói/ Chỉ nghe thiết tha tiếng gọi/ Và bước chân đồng đội đi tìm/ Nơi nào đây? Chợt tỉnh cơn đau/ Nghe gió thổi một mình trong lá/ Anh lê đến dòng sông hiền, mệt lả/ Nhận biết trời xanh vẫn sáng ở trên đầu/ Mênh mông một dải chiến trường/ Tên anh đã một lần liệt sĩ/ Cuộc đọ sức giữa cái sinh cái tử/ Anh lại trở về với ngọn bút tiền phương”.
Là người gần gũi, biết rõ về Kim Toàn, nhà báo Phạm Quốc Toàn cho biết: “Ở chiến trường, Cao Kim là nhà báo - chiến sĩ tài hoa. Ông viết nhiều thể loại về thông tấn báo chí như tin tức, tường thuật, ghi nhanh, phóng sự, bút ký, tản văn, sổ tay phóng viên, nhật ký phóng viên, tiểu phẩm; xã luận, bình luận, chuyên luận… Cao Kim còn vẽ tranh châm biếm, tranh đả kích quân thù; vẽ minh họa cho các bài viết; nét vẽ dí dỏm, sắc nét, rất có hồn. Cao Kim còn có năng khiếu đạo diễn sân khấu, ông là tác giả của những vở kịch vui, sâu cay mà ngộ nghĩnh, có sức lan tỏa mạnh mẽ”.
Còn với cảm nhận của một nhà văn, Nguyễn Uyển cho rằng “Cao Kim rất xứng đáng là nhân vật trụ cột cho ai đấy có thể tạo nên tiểu thuyết lớp lang, chương mục đậm chất ly kỳ, dị biệt.”.
Cũng ở Phần ba, cùng với Phạm Quốc Toàn, Nguyễn Uyển, Nguyễn Viết Lãm, các bài viết của Hưng Toàn, Lưu Văn Khuê, Minh Sơn, Bùi Thị Xuân Mai, Trần Thị Thanh Tú và thơ của Võ Thị An, Nguyễn Hồng Vinh, Phạm Vương - mỗi người một cảm nghĩ, một kỷ niệm đã giúp người đọc thấu hiểu sâu sắc về Kim Toàn cùng đồng đội, đồng nghiệp của ông những ngày làm báo ở chiến trường. Anh em gọi những ngày ấy là Một thời biết ơn - một thời để nhớ và Kim Toàn cùng các đồng đội, đồng nghiệp của ông là Nhà báo - chiến sĩ, Như khúc tráng ca.
Ra Bắc, nhà báo Kim Toàn trở về tiếp tục phục vụ tại cơ quan báo của thành phố Cảng quê hương. Ông nghỉ hưu sau 13 năm làm việc hết mình với trọng trách Tổng Biên tập Báo Hải Phòng (1989 - 2002). Ông còn làm Chủ tịch Hội Nhà báo thành phố (khóa 2,3) và nhiều năm tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hội Nhà báo Việt Nam./.