Màu hoa đỏ
(HPĐT)- Một câu chuyện không mới: Hai người bạn cùng xã nhập ngũ lên đường ra mặt trận, một người hy sinh, một người bị thương. Hòa bình, người bị thương trở về, nhận làm con của mẹ bạn để có thể chăm sóc những tháng năm tuổi già của người mẹ liệt sĩ. Không mới, nhưng ám ảnh, nhất là với những bạn đọc trẻ tuổi lớn lên trong thời bình. Chiến tranh đưa cả dân tộc gắn kết nhau hơn. Thời bình, di chứng của chiến tranh lại làm con người ta tự nguyện tìm đến với nhau để hàn gắn những vết thương thực thể và phi thực thể. Tình người thật đẹp bởi từng cùng nhau đi qua gian khó. Tác giả mượn màu hoa đỏ, một màu hoa đặc trưng của thành phố Hải Phòng quê mình để nói về nỗi mất mát cao cả của người lính. Tháng bảytháng tri ân các anh hùng liệt sĩ và thương binh, nên khi đọc truyện ngắn này càng thấy rưng rưng xúc động và trân quý hơn ý nghĩa của cuộc sống hôm nay!

Minh họa: Hà Huy Chương
Nhà văn Nguyễn Đình Tú
Hoàn nhập ngũ vào cuối năm 1970, thời điểm cuộc chiến đấu chống quân xâm lược và ngụy quyền của dân tộc ta bước vào giai đoạn khốc liệt nhất. Anh được tuyển vào binh chủng tăng thiết giáp, giấc mơ từ thuở nhỏ của chúng tôi. Trong đại đội của anh có một người bạn cùng xã là cậu Vỹ có bố là thương binh thời chống thực dân Pháp. Là con trai duy nhất trong gia đình, nên Vỹ thuộc diện được hoãn nghĩa vụ quân sự. Nhưng khi thấy có đợt tuyển lính tăng, cậu học trò ấy xung phong đi ngay.
Những ngày đầu, mỗi khi gặp nhau, mấy cậu lính trẻ thường nói về bộ phim Ba Lan “Bốn chiến sĩ xe tăng và con chó” xem từ hồi còn đi học. Họ tự hào thấy mình giống những người nhân vật trong phim. Nhưng rồi họ sớm nhận ra thực tế chiến tranh không thơ mộng như vậy.
Sau những trận đánh ác liệt của bộ đội tăng ở Tây Nguyên, có không ít đồng đội của Hoàn hy sinh, Hoàn và Vỹ mỗi khi ngồi với nhau trở nên trầm ngâm, ít nói và hay nhớ về những ngày còn ở quê nhà. Hai anh em nắm chặt tay nhau như truyền cho bạn mình sức mạnh, niềm tin ngày trở về.
Cuối tháng ba năm 1975, tiểu đoàn của Hoàn được lệnh cơ động về một khu rừng ven sông Sài Gòn, gần căn cứ Đồng Dù. Những trận đánh khốc liệt đang chờ họ ở phía trước.
Ngày 25-4-1975, đơn vị nhận lệnh tiến thẳng vào thành phố Sài Gòn. Xe do Hoàn chỉ huy sẽ đi tiên phong trong đội hình phối thuộc.
Sáng 29-4-1975, toàn sư đoàn xuất kích. Những chiếc xe tăng hùng dũng dẫn đầu đoàn quân. Ngoái lại phía sau, Hoàn thấy cả đoàn xe pháo kéo dài hàng cây số. Anh không nhìn thấy xe cuối vì nhiều chiếc vẫn chưa ra khỏi cánh rừng. Trong tiếng xe tăng gầm rú, Hoàn thấy mình như hòa vào một dòng thác lớn, cuồn cuộn đổ về phía trước.
Đoàn quân vượt qua cứ điểm Đồng Dù trong tiếng đạn pháo giặc rú rít trên đầu. Chốc chốc, mấy chiếc F5 lại rít lên, lướt nhanh trên bầu trời chìm trong tiếng đạn cao xạ nổ ròn rã.
Đến quốc lộ 1, đơn vị gặp một đoàn hơn hai mươi chiếc tăng và xe bọc thép M113 của địch. Xe tăng của ta lập tức tản ra, tạo một vòng tròn bao vây, tập hậu quân địch. Pháo tăng đồng loạt khai hỏa dữ dội. Xe địch đông, nhưng trong những ngày này tinh thần của chúng sa sút trước khí thế áp đảo của quân ta. Vừa mới đụng độ, lính địch từ trong xe nhảy ra, bỏ chạy toán loạn như bầy vịt hoang trên cánh đồng.
Khi đoàn tăng vừa vượt qua cầu Bông, mệnh lệnh chiến đấu truyền tới "Bằng mọi giá xe tăng tiến thẳng tới Bộ Tổng tham mưu ngụy, chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, hợp quân ở dinh Độc Lập”. Sau một ngày đánh nhau ác liệt, buổi tối, tiểu đoàn được lệnh nghỉ tại chỗ. Lính tăng không rời vị trí chiến đấu. Lính bộ binh phối thuộc bịt kín các ngõ hẻm bên đường để bảo vệ xe tăng.
Sáng sớm hôm sau đơn vị tiếp tục hành tiến. Các chốt hỏa lực kháng cự của địch lần lượt bị dập tắt, nhưng bộ đội ta cũng phải trả một giá đắt. Gần chục xe tăng của ta trúng đạn pháo, bốc cháy bên đường.
Vượt qua Hóc Môn, đoàn xe gặp phải một chốt hỏa lực của địch chống trả điên cuồng. Không hiểu sao cậu pháo thủ 12 ly 7 của xe bỗng khựng lại, không bắn nữa. Hoàn thét lên: “Bắn tiếp đi!”. Thấy im lặng, anh điên tiết nhảy bật lên nóc xe thì thấy cậu xạ thủ đã trúng thương. Đỡ cậu lính vào trong xe, anh quay khẩu đại liên bắn dữ dội vào hỏa điểm trước mặt.
Đúng lúc đó một tiếng nổ choáng tai dội vang ngay cạnh tháp pháo. Hoàn thấy đau nhói ở tay trái. Khi định thần, anh nhận ra mình bị thương. Hoàn bảo cậu pháo thủ băng tạm cầm máu rồi ra lệnh tiếp tục tiến. Anh chẳng kịp nghĩ gì cả, chỉ biết dừng lại là chết.
Qua chốt của địch vài chục mét, mắt Hoàn hoa lên vì mất máu. Cánh tay trái vướng víu không sao chịu nổi. Biết không thể tham chiến được nữa anh gọi cho đại đội truởng xin thay thế.
Dìu Hoàn khỏi xe, đồng đội đặt anh nằm xuống bên vệ đường. Hoàn nhắm chặt mắt để cậu y tá cắt những sợi gân cuối cùng khỏi cánh tay mình. Anh bàng hoàng, không tưởng tượng nổi mình thế nào khi mất đi một cánh tay. Mồ hôi túa ra khắp người. Hoàn ngất đi. Khi chiếc xe lam chở thương binh về gần đến trạm phẫu thuật tiền phương anh mới tỉnh lại.
Nhìn trên xe, Hoàn nhận ra vài khuôn mặt quen quen. Họ là những chiến sĩ bộ binh phối thuộc ngồi trên xe tăng của anh. Mấy người lính đó cũng bị thương và được đưa về tuyến sau cùng với anh. Thấy Hoàn tỉnh lại một anh lính trẻ buột miệng bảo: “Xe tăng của anh bị cháy rồi!”. Hoàn hốt hoảng chồm dậy hỏi: “Thế anh em trên xe có sao không?”. Tốp lính trẻ bối rối đưa mắt nhìn nhau rồi một cậu rụt rè nói: “Hình như bị cả rồi anh ạ. Cả anh gì chỉ huy xe thay anh!”.
“Vỹ ơi!”. Hoàn thảng thốt kêu lên. Anh nhớ lại ánh mắt đầy căm hận của người bạn thân khi nhìn anh nằm lại bên đường. Giọng Vỹ uất nghẹn rít lên trước lúc nhảy vào chiếc xe tăng đang gầm rú, chỉ chực lao đi: “Tao sẽ trả thù cho mày!”.
Sau này Hoàn được anh em trong đơn vị báo lại chiếc xe tăng mà Vỹ thay anh chỉ huy đã trúng pháo địch trên đường tiến vào Sài Gòn. Vỹ hy sinh thay anh. Nỗi đau ấy theo Hoàn từ đấy.
Suốt mấy tháng sau khi xuất ngũ về quê, Hoàn do dự không dám đến nhà Vỹ. Anh nghe ngóng, thấp thỏm hy vọng về một sự nhầm lẫn may mắn nào đó. Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố báo cho anh không nhận được thông tin về sự hy sinh của liệt sĩ Trần Huy Vỹ.
Nhưng rồi ngày ấy cũng đến. Cái tin anh lo sợ nhất đã đến. Nó dập tắt hy vọng mong manh cuối cùng còn le lói trong đầu anh. Lòng hoang mang tột độ, anh đến nhà Vỹ dự lễ truy điệu bạn mình.
Qua chiếc cổng tre nhỏ hẹp đầu ngõ anh nhấc từng bước chân nặng chịch đến chỗ mẹ của Vỹ. Bà ngồi im lặng bất động trên chiếc ghế cạnh bàn thờ phủ tấm vải đỏ có bức ảnh viền tang đen của người liệt sĩ, con trai bà. Đôi mắt đã mờ vì khóc hướng cái nhìn trống rỗng vào khoảng không bao la phía trên chiếc cổng thấp tè, phủ đầy rêu xanh.
Hoàn lê bước tới bên bà mẹ, không dám nhìn vào khuôn mặt thẫn thờ của bà. Bất chợt anh khụy gối, quỳ xuống, úp mặt vào lòng mẹ của Vỹ nấc lên: “Mẹ ơi, con có tội với mẹ. Vỹ nó đã chết thay con. Nhưng con sợ, con không dám nói với mẹ. Con cứ hy vọng trời phật sẽ thương con, thương nó, thương mẹ, sẽ không cho nó đi. Con khổ lắm. Con đau lắm mẹ ơi!”. Anh òa lên nức nở để mặc những dòng nước mắt của khổ đau, dằn vặt, lo sợ, chứa chất trong lòng bao tháng trời, tuôn trào thấm đẫm vạt áo nâu của người mẹ già bất hạnh. Hai giọt nước mắt cũng rớt nhanh trên khuôn mặt khắc khổ của người mẹ. Bà cố nén tiếng khóc, đưa bàn tay gầy guộc xoa lên mái tóc anh thương binh, đồng đội của con mình. Giọng bà thì thầm như cầu kinh: “Đừng khóc nữa con. Chúng nó mới là kẻ có tội chứ đâu phải lỗi của con!”.
Hai mẹ con sụt sịt an ủi lẫn nhau quên cả đám đông đang chết lặng vì xúc động. Chẳng ai nói với ai câu nào. Chỉ có tiếng nấc nghẹn cố nén lan khắp căn phòng chật hẹp, mờ mịt khói hương. Khi tiếng hô to của anh sĩ quan huyện đội vang lên: “Lễ truy điệu liệt sĩ Trần Huy Vỹ bắt đầu!”, mọi người mới nín lặng, đứng bật dậy.
Hoàn bừng tỉnh. Anh dìu bà mẹ đứng lên. Hai anh lính trẻ bên cạnh vội bước tới đỡ bà. Hoàn ưỡn ngực, giơ cao cánh tay còn lại lên chào. Mắt anh nhìn thẳng vào đôi mắt của người đồng đội đã khuất trong tiếng nhạc bi hùng của bài “Hồn tử sĩ”.
Sau khi anh cán bộ huyện đội đọc và trao “Bằng Tổ quốc ghi công” cho gia đình liệt sĩ, Hoàn vẫn đứng nghiêm. Anh quay về phía mọi người trịnh trọng nói: “Từ hôm nay mẹ liệt sĩ Trần Huy Vỹ là mẹ của tôi. Tôi hứa sẽ chăm sóc mẹ suốt đời thay bạn tôi!”. Rồi Hoàn quay sang hỏi mẹ Vỹ: “Mẹ có đồng ý nhận con không?”. Bà mẹ nhìn anh nghẹn ngào thốt lên: “Con ơi!”. Hai mẹ con ôm chầm lấy nhau trong tiếng khóc bật to của tất cả những người có mặt. Từ đấy Hoàn có thêm một người mẹ.
*
Ngoài công việc hằng ngày, Hoàn còn là ủy viên trong Ban Chấp hành Hội Cựu chiến binh thành phố nên anh khá bận rộn. Dù vậy anh luôn tranh thủ về thăm mẹ Vỹ, lo cho cuộc sống của mẹ, của các em Vỹ. Cũng vì thế mọi người trong Ban Chỉ huy Quân sự, Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ huyện quen miệng gọi mẹ của liệt sĩ Vỹ là “mẹ anh Hoàn cụt”. Có việc gì trong gia đình bà, họ cũng báo với anh.
Vào Ngày thành lập Quân đội Nhân dân, Ngày Thương binh liệt sĩ, đặc biệt là ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước 30-4 hằng năm cả nhà đều chờ anh về. Để tránh mọi người nhắc nhiều đến cái chết của người bạn thân, Hoàn thường đùa gọi hôm đó là “ngày kỷ niệm mất cánh tay” của mình. Cả ngày hôm ấy anh ở nhà mẹ nuôi. Anh còn làm nũng bắt bà gội đầu cho anh như những lần anh và Vỹ ghé qua nhà trước ngày ra mặt trận. Bà mẹ rất vui. Bà nhẹ nhàng dội từng gáo nước ấm từ chậu nước lá bưởi, lá chanh lên cái đầu ngoan ngoãn cúi xuống của Hoàn. Bà đưa bàn tay đầy nếp nhăn, nhẹ nhàng vò mái tóc rối bù của anh. Hoàn nhắm mắt lại, chìm trong cảm giác lâng lâng, ngọt ngào lan tỏa khắp người. Cảm giác ấy có từ xa xôi lắm rồi nhưng đến giờ anh vẫn không quên.
Có lần mấy người em của Vỹ cười ngặt nghẽo khi thấy áo anh bị ướt đẫm nước. Họ trêu bà cụ: “U già rồi. Tay yếu quá làm ướt hết cả người anh Hoàn!”. Thấy vẻ mặt ngẩn ra của bà, Hoàn cười, quát to: “Mặc kệ tao với u. Việc gì đến chúng mày. Tao thích như thế đấy!”. Thế là cả nhà lại cười phá lên làm bà cụ cũng bật cười theo, phô hàm răng đen vốn nhai trấu suốt ngày. Lúc thắp hương cho Vỹ, Hoàn như thấy nó mỉm cười khen: “Cậu khá lắm!”.
*
Ngày 30-4 năm nay, Hoàn rủ tôi cùng về thăm bà mẹ. Anh thở dài nói với tôi: “Dạo này bà yếu lắm rồi ông ạ. Bà bắt đầu lẫn rồi. Tôi lo bà không qua khỏi năm nay. Điều tôi đau là đến giờ hài cốt của thằng Vỹ vẫn chưa được tìm thấy, nhiều xương cốt của anh em mình vẫn nằm rải rải khắp chiến trường xưa, bao nấm mộ trong nghĩa trang liệt sĩ vẫn bị trống tên. Nhiều đêm tôi cứ mơ thấy chúng nó, nói chuyện với chúng nó, không sao ngủ được ông ạ. Thương chúng nó lắm, buồn lắm. Không biết đến lúc thế hệ bọn mình mất đi chúng nó đã được về nhà chưa?”.
Khi hai chúng tôi đến nhà Vỹ, mấy cô em gái chạy vội ra báo: Từ trưa tới giờ bà cứ ngồi ngoài hiên không chịu vào nhà. Chốc chốc bà lại hỏi: Đã thấy anh mày về chưa? Chúng em nói thế nào bà cũng không chịu nghe!”.
Hoàn vội chạy đến chỗ bà mẹ ngồi trên bậc thềm tam cấp lát đá hoa của căn nhà ba gian rộng thênh thang, dỗ dành: “Con về rồi đây u ơi. U vào nhà đi để các em còn dọn cơm ăn chứ!”. Bà cụ như tỉnh ra. Bà chớp chớp mắt nhìn anh, mừng rỡ nắm tay anh, lập bập nói: “Con về rồi à. Sao u chả nghe thấy gì cả!”. Bà quay sang nói vọng vào trong nhà: “Mấy đứa dọn cơm cho anh mày ăn đi. Anh nó đi xa về mệt lắm đấy!”.
Tôi thấy cay cay trong sống mũi. Nhìn người mẹ già của liệt sĩ, tóc bạc phơ, còng lưng tập tễnh từng bước bên người thương binh cụt tay đang cố dìu bà, mắt tôi nhòa đi vì những dòng nước mắt mặn chát.
Đứng ngoài cửa chờ Hoàn, tôi chìm trong suy tư.
Chiến tranh đã lùi xa nhưng nỗi đau của cuộc chiến năm xưa vẫn còn lại. Nỗi đau ấy vẫn đang âm thầm bóp nghẹn con tim người mẹ già vì những đứa con thân yêu vẫn chưa trở về. Nỗi đau ấy ẩn sâu trong mắt mẹ như ánh lửa le lói nhưng không tắt bởi bất chấp tháng năm, bất chấp tuổi tác, bất chấp mọi thông báo, các mẹ vẫn ngóng chờ.
Bà cụ đã ngủ yên. Hoàn ra ngoài với tôi. Chúng tôi im lặng đứng dưới cây khế trĩu quả mà Vỹ trồng trước ngày ra trận. Cả hai bỗng run lên, vội nắm chặt tay nhau khi vẳng tới từ căn nhà bên lời ca bi tráng, da diết của bài hát “Màu hoa đỏ”.
“Việt Nam ơi, Việt Nam. Ngọn núi, nơi anh ngã xuống, rực cháy lên màu hoa đỏ phía rừng xa, rực cháy lên màu hoa đỏ trước hoàng hôn”.
Ở phía xa kia, trên cửa con sông Bạch Đằng, màu hoa ấy đang cháy đỏ trong ánh hoàng hôn, cháy đỏ trên bầu trời quê hương Vỹ, trên bầu trời quê hương chúng tôi./.