Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhạc sĩ Văn Cao (15-11-1923 – 15-11-2023): Văn Cao với Hải Phòng - Hải Phòng có Văn Cao
(HPĐT)- Nhạc sĩ Văn Cao (1923- 1995) tên đầy đủ là Nguyễn Văn Cao, quê gốc Nam Định, sinh ra và lớn lên tại Hải Phòng. Chỉ ở Hải Phòng đến năm 19 tuổi, song hình ảnh thành phố Cảng in đậm trong ký ức và sáng tác của Văn Cao; người thành phố Cảng luôn nhớ đến ông.

Nhạc sĩ Văn Cao.
Hồi ở Hải Phòng, Văn Cao sống với gia đình trong ngôi nhà nhỏ ở bờ nam sông Cấm, bên trạm bơm nước do người cha làm quản đốc, hằng ngày cung cấp nước ngọt cho tàu biển. Ông viết trong trường ca thơ “Những người trên cửa biển” (1956): “Sinh ra tôi đã có Hải Phòng/ Sân nhà mới trồng cây mận/ Bãi sú bồi thành bến/ Nhà máy xi măng đã dựng bên sông…”.
Năm 8 tuổi, Văn Cao vào học Trường Bonnal (nay là Trường THPT Ngô Quyền). Năng khiếu âm nhạc bộc lộ qua những giờ học hát ở đấy, đã nhanh chóng phát triển khi Văn Cao chuyển sang trường dòng Saint Jóseph, nơi được học hát, học nhạc quy củ do nhạc sư người Pháp giảng dạy.
Kinh tế gia đình sa sút, nên Văn Cao phải bỏ học khi mới 15 tuổi, đi làm điện báo viên ở Nhà Dây thép (Bưu điện), nhưng cũng chỉ hơn tháng thì thất nghiệp. Tưởng tượng chuyện cô gái ngồi đan áo trong nỗi sầu“Tình em như mùa thu chết, rơi theo lá vàng”, Văn Cao gửi tâm trạng vào ca khúc “Buồn tàn thu”, nhạc phẩm đầu tay của ông.
Năm 17 tuổi, Văn Cao rời Hải Phòng xuôi phương Nam, dấn thân đi tìm sinh kế. Tại Huế, một hôm theo thuyền dọc sông Hương. Giữa mờ mịt sương giăng tiếng hát người ca nương làm xao động trái tim Văn Cao: “Giọng hát sầu chi phấn nữ ơi/ Từng canh trời điểm một sao rơi/ Tà tà trăng lặn hiu hiu gió/ Ánh lửa chài xa thấp thoáng trôi/… Một đêm đàn lạnh trên sông Huế/ Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh.”.
Thất vọng trong sinh kế, song Văn Cao được an ủi khi “Buồn tàn thu” lần đầu cất lên ở nơi ngoài Hải Phòng, đó là Huế. Mấy năm sau, ca khúc này lan toả khi gánh hát cải lương Đức Huy từ Hà Nội xuống Hải Phòng biểu diễn, ca sĩ Phạm Duy Cẩn, con văn sĩ nổi tiếng Phạm Duy Tốn, đã hát “Buồn tàn thu”. Không những thế, ngưỡng mộ tác giả, nên đang lúc nửa đêm Phạm Duy Cẩn còn tìm đến nhà Văn Cao. Khi in ca khúc này, Văn Cao trang trọng viết ở lời tựa: “Tương tiến ca sĩ Phạm Duy Cẩn, kẻ du ca đã gieo nhạc buồn của tôi khắp chốn.”.
Văn Cao trở thành tấm gương để Phạm Duy Cẩn từ ca sĩ bước vào sự nghiệp sáng tác, sau này trở thành nhạc sĩ Phạm Duy (1921-2013). Phạm Duy chia sẻ: “Văn Cao thấp bé hơn tôi, khép kín hơn tôi, nhưng Văn Cao tài hoa hơn tôi nhiều”. Năm 1951, Phạm Duy vào Nam, sau này có dịp dạy ở khoa Phương Đông một trường đại học tại Mỹ, ông nói: “Có được vinh dự ngày hôm nay, tôi phải cảm ơn một người bạn, một người thầy, đấy là nhạc sĩ Văn Cao”.
Chia tay Huế, Văn Cao xuôi tiếp Sài Gòn rồi quay về Hải Phòng, trở lại ngôi nhà bên bờ sông Cấm. Một hôm ca sĩ Hoàng Oanh, hoa khôi Hải Phòng những năm thập niên 40 thế kỷ trước đến thăm Văn Cao, chỉ thoáng qua cũng đủ làm trái tim nhạc sĩ rung lên những cung bậc ngọt ngào gửi vào ca khúc “Bến Xuân” (1942): “Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước/ Em đến tôi một lần/ Bao lũ chim rừng họp đàn trên khắp bến xuân/ Từng đôi rung cánh trắng ríu rít ca/ Cành đào hoen nắng chan hòa… Ai tha hương nghe réo rắt Oanh ca/ Cánh nhạn vào mây thiết tha/ lưu luyến tình vừa qua!”. Sau này Văn Cao thổ lộ: Ngày xưa tôi có thầm yêu một người con gái mà không dám nói ra. Nhưng người ấy hiểu lòng tôi và đến với tôi. Vì thế nên mới có câu hát “Em đến với tôi một lần” và có bài hát này.
Văn Cao đến bến Rừng, đi thuyền trên sông Phi Liệt, thả hồn phiêu lãng nơi núi đồi trập trùng, không hiểu có cùng người đẹp Hoàng Oanh đi cùng không mà Bến Xuân lại có câu: “Dìu nhau theo dốc suối nơi ven đồi”. Từ đây Văn Cao bắt đầu thời kỳ thăng hoa trong âm nhạc, viết “Thiên Thai”, “Cung đàn xưa”, “Suối mơ”, “Trương Chi”.
Lúc này phong trào Hướng đạo khá sôi nổi với việc tổ chức cho học sinh vui chơi, hoạt động thể dục thể thao, đi bộ đường dài balô sau lưng và cắm trại. Hướng đạo Hải Phòng mạnh về ca hát với sự xuất hiện của nhóm Đồng Vọng do Hoàng Quý (1920 - 1946), thầy dạy nhạc Trường Bonnal làm Huynh trưởng. Từ chỗ chỉ viết và hát nhạc vui, Hoàng Quý lái nhóm sang viết và hát nhạc hùng ca ngợi giang sơn đất nước, gọi là “tâm khúc hoài lịch sử”.

Đường phố mang tên Văn Cao sầm uất bậc nhất Hải Phòng với nhiều không gian, kiến trúc đẹp. Ảnh: Phạm Tùng
Văn Cao gia nhập nhóm Hoàng Quý và bắt tay viết nhạc hùng, đầu tiên là soạn lời mới từ nhạc điệu của “Bến xuân” và với lời mới, ca khúc mang tên “Đàn chim Việt” trong đó nhắc đến “Cố đô, đất Bắc” và những dấu ấn hào hùng của“Thái Nguyên tung hoành, Bắc Sơn thời tung cánh, đồi Yên Thế”. Những năm 1941- 1943, Văn Cao liên tiếp viết nhạc hùng với “Gió núi”, “Hò kéo gỗ Bạch Đằng Giang”. Hai ca khúc “Gò Đống Đa”, “Thăng Long hành khúc ca” như dấu nối giữa nhạc hùng ca với âm nhạc cách mạng Văn Cao viết sau này.
Năm 1942, ông lên Hà Nội, ở nhờ nhà họa sĩ Lưu Văn Sìn và đeo đuổi đam mê mới là hội họa, được học dự thính ở Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, hai lần có tranh trưng bày tại triển lãm Duy Nhất (salon Unique). Ông viết nhạc, làm thơ, vẽ tranh, viết truyện, bằng mọi cách để sống trong cảnh túng bấn.
Năm 1944, một hôm ông gặp Vũ Quý ở ga Hàng Cỏ. Họ biết nhau từ hồi ở Hải Phòng. Vũ Quý (1914-1945) quê ở huyện An Dương, là cán bộ Việt Minh, từng được Xứ ủy Bắc kỳ giao nhiệm vụ gần gũi, cảm hóa các Hướng đạo sinh ở Hải Phòng. Cuộc gặp Vũ Quý đã đưa Văn Cao đến với phong trào Việt Minh. Vũ Quý cho biết, trên chiến khu đang phải dùng các bài hát vui của Hướng đạo. Khóa Quân chính kháng Nhật sắp mở, nên cần có bài hát cho đội quân cách mạng. Văn Cao nhận lời viết và ngay tối hôm đó, những nét nhạc đầu tiên của bản “Tiến quân ca” ra đời. Bài hát viết xong, đưa cho Vũ Quý. Nguyễn Đình Thi lúc ấy cũng ở đó đã xướng âm bài hát này. Văn Cao mãi không quên nét rạng ngời trên khuôn mặt xạm đen của Vũ Quý. Hôm ấy Văn Cao và Nguyễn Đình Thi còn hẹn nhau mỗi người sẽ viết một bài hát về Mặt trận Việt Minh. Năm sau (1945) “Diệt phát xít” của Nguyễn Đình Thi, “Chiến sĩ Việt Minh” của Văn Cao ra đời là kết quả của cuộc hẹn ấy.
“Tiến quân ca” sau đó in báo Độc Lập tháng 11-1944, ngày 13-8-1945 được Đại hội Quốc dân ở Tân Trào chọn làm Quốc ca; ngày 2-9-1945 được cử hành trước quần chúng tại Lễ Độc lập; tháng 3-1946 được Quốc hội khóa 1 nước ta công nhận tại kỳ họp thứ nhất.
Tháng 3-1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, Tổng bộ Việt Minh truyền đi “Hịch kháng Nhật cứu nước”. Trong không khí sôi sục ấy, một loạt ca khúc cách mạng ra đời, Đỗ Nhuận viết “Du kích ca”, “Nhớ chiến khu”; Lưu Hữu Phước viết “Lên đàng”. Nhiều nhất là Văn Cao với “Chiến sĩ Việt Minh”, “Bắc Sơn”; từ niềm tin vào thành công của cách mạng và tương lai đất nước, ông viết “Tiến về Hà Nội”; nghĩ đến ngày non sông độc lập ông tưởng tượng nước nhà sẽ có một đội quân hùng mạnh và viết “Hải quân Việt Nam”, “Không quân Việt Nam”, “Chiến sĩ Việt Minh” được đổi tên là “Chiến sĩ Việt Nam” với nhạc và lời thật hào hùng: “Bao chiến sĩ anh hùng, lạnh lùng vung gươm ra sa trường/ Quân xung phong, nước Nam đang chờ mong tay người/ Hồn sông núi khí thiêng ghi muôn đời/ Ngựa phi nơi xa kia nghe súng vang bên trời, điệu kèn rộn ràng/ Làm trang nam nhi, quyết chiến sa trường, sống thác coi thường/ Mong xác trong da ngựa bọc thân thể trai…”.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông viết “Trường ca Sông Lô” (1947). Theo Phạm Duy, đây là “tác phẩm vĩ đại chẳng thua kém bất cứ tuyệt phẩm nào của nhạc cổ điển phương Tây”.
Âm nhạc là sự nghiệp tiêu biểu, nên Văn Cao luôn được gọi là nhạc sĩ, song ông còn là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ khi Hội được thành lập (1957). Với thơ, đỉnh cao của Văn Cao là Trường ca “Những người trên cửa biển” (1956), thi phẩm tiên phong của trường ca hiện đại Việt Nam, ở đó ông dành hết tình yêu cho Hải Phòng, như ông nói: “Tôi yêu Hải Phòng như Việt Nam nhỏ lại”. Trường ca gồm bốn chương, bắt đầu bằng hình ảnh dòng người tứ xứ đến Hải Phòng tìm chốn mưu sinh, họ “Từ giã bờ tre mái rạ/ Đến đây là chỗ cùng đường/ Những hàng ren hàng thêu Nam Định/ Những thợ giỏi làng Hồ làng Bưởi/ Những giọng ca hay nhất Bắc Ninh/ Lũ lượt đi vào tỉnh...”. Những con người lấy Hải Phòng làm quê hương thứ hai, đùm bọc nhau trong lam lũ cần lao và dựng nên thành phố từ mồ hôi, dầu mỡ, bụi than, nước mắt trong những ngày đen tối. Và “Không thể cúi đầu/ Đi hết cuộc đời cùng khổ” họ làm nên một Hải Phòng từ “Những bàn tay sần sùi của đồng chí thợ rèn/ Những bàn tay run run của đồng chí thợ điện/ Những bàn tay rắn chắc của Côm-ben/ Những bàn tay ram ráp của Xi-măng/ Những bàn tay mịn màng của Máy Chỉ… Mỗi ngày mồng một tháng năm/ Hải Phòng thuộc về tay chúng tôi/ Tàu đứng chết trên biển/ Máy nằm im rỉ dầu trên mặt đất…”. Chính quyền cách mạng đến với Hải Phòng như giấc mơ: “Giấc mơ của Hải Phòng/ Như bóng cò trắng bay về lòng tôi thuở nhỏ… Giấc mơ ủ kín lòng Hải Phòng tạm chiếm.”. Và rồi không còn là giấc mơ mà là hiện thực khi Hải Phòng được giải phóng: “Ước mơ thuở nhỏ của lòng tôi mở cánh/ Lòng tôi nghe lại tiếng võng đưa/ Như mới sinh ra giữa cuộc đời tươi đẹp/ Mẹ ru tôi những ca dao thuở trước/ Quê hương chúng ta giờ đã có Hải Phòng/ Không có lúa đồng thơm, nhưng có trăm nhà máy/ Con ngày nay thật đã thấy chân trời.”.
Văn Cao không quên Hải Phòng và Hải Phòng cũng không quên ông. Một phố đẹp và sang trọng bậc nhất Hải Phòng được dành mang tên Văn Cao. Tháng 9-1985, Trường PTTH Ngô Quyền mời ông xuống Hải Phòng dự kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Trường Bonnal- Bình Chuẩn- Ngô Quyền (1920 -1985). Người tham dự được nhà trường tặng kỷ yếu “Ngày hội trường”, trong đó nhiều nhân vật tên tuổi của trường, từ thầy đến trò qua các thế hệ có bài viết hoặc được viết. Thầy thì Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Văn Bái...; người học thì Nguyễn Văn Cúc (sau là Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh), Thế Lữ, Văn Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Đỗ Nhuận, rồi lớp sau như Đào Cảng, Thanh Tùng… Bài về Văn Cao do ông Nguyễn Thụy Kha viết và cả hai đều có mặt hôm ấy. Nhạc sĩ Văn Cao khi một mình bên cây bàng đang bắt đầu vào mùa rụng lá, khi hòa vào đám đông như ngày nào trên sân trường náo nhiệt. Có người biết ông, đến tay đưa quyển kỷ yếu đã mở sẵn bài về ông mà nghẹn giọng không nói nên lời, ông cũng chẳng nói gì, nhận cuốn sách, không ký mà viết tên mình kiểu chữ in hoa: VĂN CAO…
Năm 1992 Văn Cao lại xuống Hải Phòng. Đoàn kịch Hải Phòng mời ông thiết kế mỹ thuật cho một vở diễn. Đây là công việc vất vả với người tuổi tác như ông vì phải đọc kịch bản, làm việc với đạo diễn và chỉ đạo những người thực hiện… Thiết kế mỹ thuật sân khấu của Văn Cao không cầu kỳ, lại càng không phô trương, mà đơn giản, giàu sức gợi, gần với nghệ thuật tượng trưng, phù hợp với chính kịch…
Năm 1992 ấy, Văn Cao đã yếu nhiều, lọm khọm chống gậy, bà Thúy Băng vợ ông đi bên cạnh như nâng niu không rời nửa bước. Thời gian cùng tuổi tác, bệnh tật đã tàn phá con người từng thả hồn mộng mơ và can trường mạnh mẽ!
Nhưng với các sáng tác để đời, năm tháng mãi mãi phải lùi bước trước sức sống mãnh liệt của tâm hồn và khí phách Văn Cao, bởi ông là người con của thành phố Cảng, mang linh hồn của biển, mênh mông và khát vọng cái mới trong sáng tác, từ âm nhạc đến hội họa, thơ ca. Với tinh thần ấy, ngày 8- 11-2023 tại trụ sở Báo Nhân Dân, Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương trang trọng tổ chức Hội thảo khoa học “Thế giới nhạc, họa, thơ của Văn Cao” nhân 100 năm ngày sinh của ông; Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng cũng vinh dự được mời tham luận./.